Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt, doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một sức mạnh về tài chính
cụ thể là vốn.
Vốn là biểu hiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, trong việc mở rộng quy mô về chiều sâu và chiều rộng của mỗi
doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp phải luôn đảm bảo vốn cho hoạt động của
mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, từ đó doanh nghiệp mới
có thể tăng lợi nhuận, tăng thu nhập để tồn tại và phát triển.
Sản phẩm công nghệ là một thị trường luôn phát triển và thay đổi thường
xuyên, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm này phải luôn
có sự cập nhật về sản phẩm cũng như công nghệ tiên tiến nhất để phục vụ các
yêu cầu của khách hàng. Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Vì thế, việc sử dụng
hiệu quả vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là một vần
đề thường xuyên được quan tâm và là vần đề cốt lõi trong hoat động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Đại Việt là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực công nghệ, công ty đã có nhiều nỗ lực trong việc quản lý và sử dụng vốn
lưu động sao cho hiệu quả và đã gặt hái được một số thành tựu nhất định. Bên
cạnh đó, Công ty vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập trong công tác quản lý
và sử dụng vốn lưu động. Do vậy, việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Đại Việt" làm mục đích và nội dung
nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
“ Xin trân trọng cảm ơn
- Tập thể cán bộ công nhân viên trường Đại Học Kinh
- Chiến lược phát triển và chiến lựợc đầu tư của doanh nghiệp
- Thái độ của chủ doanh nghiệp
- Chính sách thuế…
1.1.2 Đặc điểm
- Vốn của doanh nghiệp là số tiền ứng trước cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên muốn có được lượng vốn đó, các
doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trường.
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
- Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trước
cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải được thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản
xuất, tiền vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
1.1.3 Phân loại
Vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ.
• Vốn chủ sở hữu
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp
có quyền chiếm hữu và sử dụng, bao gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không
chia, tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu. Trong đó:
- Vốn góp ban đầu: Trong các doanh nghiệp tư nhân vốn đầu tư ban đầu
do cổ đông,chủ sở hữu góp. Trong các doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban
đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước.
- Lợi nhuận không chia: là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu
tư, mở rộng sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp. Trong quá trình hoật
động sản xuất kinh doanh, nêu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì
doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
- Phát hành cổ phiếu: Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là
phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp. Phát hành cổ phiếu
được gọi là hoạt động tài trợdài hạn của doanh nghiệp.
VỐN CSH TỔNG NỢ
TẠI MỘT = NGUỒN - PHẢI
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trường
nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải
có đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao
vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị
của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp
khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối
tượng lao động gọi là tài sản lưu động, TSLĐ của doanh nghiệp gồm TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản
xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và
những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về
TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ.
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền,
vốn trong thanh toán.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu
thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản
lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau,
vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục.
Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy,
số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng
trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm
hoàn kết thúc. So sánh giưa T và T’, nếu T’ >T có nghĩa doanh nghiệp kinh
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh thành công vì đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất đã sinh sôi nảy nở,
doanh nghiệp bảo toàn và phát triển được VLĐ và ngựơc lại. Đây là một nhân
tố quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng đồng VLĐ của doanh nghiệp.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thường xuyên liên tục nên vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn
không ngừng, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ gọi là sự chu chuyển của vốn
lưu động. Do sự chu chuyển của vốn lưu động diễn ra không ngừng nên trong
cùng một lúc thường xuyên tồn tại các bộ phận khác nhau trên các giai đoạn
vận động khác nhau của vốn lưu động. Khác với vốn cố định, khi tham gia
vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn thay đổi hình thái
biểu hiện, chu chuyển giá trị toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và hoàn
thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân
loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông
thường có những cách phân loại sau đây:
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia
thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ dụng cụ.
- Vôn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền(kể cả vàng bạc, đá quý...); các khoản vốn đầu tư ngắn
8
phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh
nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ. Từ
đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý
hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Phân loại theo nguồn hình thành.
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động có thể chia thành các
nguồn như sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn
điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt
giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được
tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết; là số vốn lưu động được hình thành từ
vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp
liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá....theo
thoả thuận của các bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ
chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các
doanh nghiệp khác.
10
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh
nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong
kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có
VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản
lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và
phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường
hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư,
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân
chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang
hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động. Có
nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với
yêu cầu của công tác quản lý. Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho
nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn
của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý
kỳ này để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng như từ các
cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động
của mình theo những tiêu thức khác nhau.
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng
không giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn
12
Chuyên đề tốt nghiệp
những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng.
Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có
hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp,
có thể chia ra thành 3 nhóm chính sau:
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh
nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng
và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của
chủng loại vật tư cung cấp.
Chuyên đề tốt nghiệp
Công thức được xác định như sau:
K=360/L hay K=(VLĐ x 360)/M
Trong đó:
K:kỳ luân chuyển VLĐ.
M,VLĐ: như công thức trên.
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút
ngắn và chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả.
* Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu
hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiêm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối.
- Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc
khác. Nói một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi(hoặc lớn
hơn báo cáo) song do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số vốn ít
hơn. Công thức tính như sau:
M
1
V
tktđ
= ( x K
1
) - V
LĐ0
= V
LĐ1
– V
LĐ0
360
360
Trong đó:
V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
K
0
, K
1
: Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo và năm kế hoạch.
Điều kiện để có vốn lưu động tiết kiệm tương đối là tổng mức luân
chuyển vốn kỳ kế hoạch phải lớn hơn kỳ báo cáo và VLĐ kỳ kế hoạch phải
lớn hơn VLĐ kỳ báo cáo.
* Hàm lượng VLĐ(hay còn gọi là mức đảm nhận VLĐ).
Hàm lượng VLĐ là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng
doanh thu. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VLĐ, chỉ
tiêu này được tính như sau:
Hàm lượng VLĐ=1/H
Trong đó:
16
Chuyên đề tốt nghiệp
H:hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
* Mức doanh lợi VLĐ(tỷ suất lợi nhuận VLĐ).
- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ trước thuế và lãi vay: chỉ tiêu này phản ánh
mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của thuế TNDN và chưa tính đến
VLĐ được hình thành từ nguồn nào.
Công thức tính như sau:
Chính vì vậy cùng với việc xác định vốn, khả năng sử dụng vốn lưu
động có tầm quan trọng đặc biệt đối với doanh nghiệp thương mại. Chỉ khi
quản lý sử dụng tốt vốn kinh doanh và vốn lưu động nói riêng thì doanh
nghiệp mới mở rộng được quy mô về vốn, tạo được uy tín trên thị trường.
Điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ với chất lượng
cao, giá thành hạ không những mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn
là cơ sở để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp thương mại, phải tìm cách giải quyết tốt các
phương diện về vốn lưu động, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử
dụng đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục. Sử
dụng vốn lưu động với vòng quay nhanh, giảm rủi ro là sử dụng vốn với hiệu
quả cao, nó đòi hỏi người điều hành kinh doanh phải có những quyết định
đúng đắn. Do đó, doanh nghiệp phải đưa ra những cách thức hợp lý cung cấp
đủ lượng vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do hoạt động trong cơ chế thị trường doanh nghiệp phải tự trang trải tài
chính, tạo ra thu nhập để trang trải các khoản chi phí và có lãi. Vì vậy, doanh
18
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động để thu hồi vốn, giảm
chi phí, tăng lợi nhuận để phát triển sản xuất.
Sử dụng có hiệu quả vốn lưu động còn là huy động vốn trên thị trường
tài chính, mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh, thực sự trở thành điều
kiện quyết định thành công của doanh nghiệp.
Quản lý vốn lưu động là một bộ phận trọng yếu của công tác quản lý tài
chính của doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động hợp lý không những đảm bảo
sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm từ đó dẫn đến việc giảm chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm. Tiết kiệm chi phí về bảo quản đồng thời thúc
đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời. Điều này có
ý nghĩa rất quan trọng, nó không chỉ phát huy được tính chủ động trong sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp chớp được thời
chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi. Do
sự chu chuyển của VLĐ diễn ra không ngừng nên thiếu vốn thì việc chuyển
hoá hình thái sẽ gặp khó khăn, VLĐ không luân chuyển được và quá trình sản
xuất do đó bị gián đoạn.
Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công ty quản lý tài chính
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cũng chính là nâng cao hiệu
quả của hoạt đông sản xuất kinh doanh. Quản lý VLĐ không những đảm bảo
sử dụng VLĐ hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết
kiệm chi phí, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp
thời. Do đặc điểm của VLĐ là luân chuyển nhanh, sử dụng linh hoạt nên nó
góp phần quan trọng đẩm bảo sản xuất và luân chuyển một khối lượng lớn sản
phẩm. Vì vậy kết quả hoạt động của doanh nghiệp là tốt hay xấu phần lớn là
do chất lượng của công tác quản lý VLĐ quyết định.
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng VLĐ phải được hiểu trên
hai khía cạnh:
20
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Một là, với số vốn hiện có có thể cung cấp thêm một số lượng sản
phẩm với chất lượng tốt, chi phí hạ nhằm tăng thêm lợi nhuận doanh ntghiệp.
+ Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh nhằm tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu bảo đảm tốc độ tăng
lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn.
Hai khía cạnh đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới trong công tác quản
lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng.
Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, vì vậy nền kinh tế
muốn phát triển thì doanh nghiệp hoạt động phải có hiệu quả. Như đã phân
tích ở trên, sử dụng hiệu quả VLĐ là một nhân tố tích cực nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuát kinh donh của doanh nghiệp. Do đó, không thể phủ nhận
vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ đối với sự phát triển của nền
kinh tế.
cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang
thiết bị, kỹ thuật được cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện
đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất
lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Đặc biệt
khi khai thác được các nguồn vốn, sử dụng tốt nguồn vốn lưu động, nhất là
việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả VLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh để
giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về lãi vay.
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công
tác quản lý và sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp. Đó là một trong
những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn
nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu qủa sử dụng vốn lưu động
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Vốn lưu động được vận động chuyển hoá không ngừng. Trong quá
trình vận động đó, vốn lưu động chịu tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
* Xác định nhu cầu vốn lưu động: do xác định nhu cầu VLĐ thiếu
chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh,
điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư
sản xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực
hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng
cao hiệu quả sử dụng VLĐ và ngược lại.
* Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém
sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản
những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn lưu động mang lại
là cao nhất.
Chương II:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI VIỆT
24
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1 Khái quát về tình hình sử dụng vốn lưu động trong Công ty cổ
phần Đại Việt
2.1.1 Tổng quan về công ty cổ phần Đại Việt
Công ty Cổ Phần Đại Việt ra đời theo giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh số: 0103002976 ngày 8 tháng 10 năm 2001 của phòng đăng ký kinh
doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội.
Tên công ty: Công ty Cổ Phần Đại Việt
Tên giao dịch: DAI VIET JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: DVC., JSC
Địa chỉ trụ sở chính: Số 13 ngõ 174, phố Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội.
Công ty Cổ Phần Đại Việt được thành lập dưới hình thức công ty cổ
phần, tổ chức và hoạt động theo Luật Công ty trên cơ sở các thành viên tự
nguyện tham gia góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro và lỗ
tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
theo tỷ lệ cổ phần của công ty mình sở hữu hoặc đại diện của các chủ sở hữu..
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY
Nguyễn Hải Bằng Lớp: Tài chính K36