Luận văn
Một số giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty Cổ phần Vận tải ô tô
Vĩnh Phúc giai đoạn hậu cổ phần hoá
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD 4
I. Khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD 4
1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh 4
2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 4
3. Vai trò của hiệu quả hoạt động SXKD 5
3.1. Hiệu quả hoạt động SXKD là công cụ quản trị doanh nghiệp 5
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD 6
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp 7
1.1. Các nhân tố bên ngoài 7
4.2. Các nhân tố bên trong 10
5. Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD 13
III. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động SXKD 14
1. Chỉ tiêu doanh lợi 15
2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh kinh tế 15
3. Hiệu quả sử dụng vốn 16
4. Hiệu quả sử dụng lao động 17
5. Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu 18
III. Tác động của CPH đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp 18
1. Những tác động góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD 18
1.1. CPH huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào hoạt động SXKD 18
1.2. CPH tạo ra doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu 19
1.3. CTCP tạo điều kiện để người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp 20
1.4. CTCP tạo ra cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, linh hoạt 20
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG SXKD Ở CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI Ô TÔ VĨNH PHÚC 62
I. Phương hướng hoạt động SXKD của Công ty Cổ phần Vận tải ô tô Vĩnh Phúc
năm 2006 62
1. Về tổ chức và lao động 63
2. Kế hoạch SXKD, các chế độ chính sách đối với nhà nước 64
3. Kế hoạch phương tiện 65
4. Kế hoạch SXKD của Xí nghiệp Dịch vụ sửa chữa năm 2006 66
5. Kế hoạch kinh doanh trung tâm đào tạo năm 2006 67
II. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD ở Công ty Cổ
phần Vận tải ô tô Vĩnh Phúc 68
1. Giải pháp về phía công ty 68
1.1. Giải pháp về vốn và tài chính 68
3
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
1.2. Giải pháp về lao động 70
1.3. Tối thiểu hoá các chi phí nhằm tăng lợi nhuận tương quan 72
2. Giải pháp về phía Nhà nước và các cấp ngành có liên quan 73
2.1.Giải pháp về vốn 73
2.2. Các giải pháp nhằm đẳm bảo doanh thu cho doanh nghiệp 74
2.3. Một số giải pháp khác 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
4
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu hành đầu , quyết định sự tồn tại của mỗi
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp muốn tồn tại phải làm ăn “có lãi”, nhất
là những doanh nghiệp đã tiến hành CPH bước vào hoạt động với tư cách là CTCP, vận hành theo
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhằm đưa ra những lý luận chung về hiệu quả hoạt động SXKD trong doanh nghiệp.
Làm rõ được ý nghĩa và mục tiêu tăng hiệu quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp. Thấy
được những yếu tố quyết định cũng như ảnh hưởng tới hiệu quả SXKD nhất là với các doanh
nghiệp sau khi CPH.
- Phản ánh thực trạng kết quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp sau CPH nước ta
nói chung và thực trạng kết quả hoạt động SXKD của Công ty Cổ phần Vận tải ô tô Vĩnh Phúc
nói riêng giai đoạn sau CPH. Thấy được những biến chuyển tích cực về mặt hiệu quả SXKD, đặc
biệt rút ra được nhữg tồn tại yếu kém gây cản trở việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của
các doanh nghiệp giai đoạn hậu CPH ở các doanh nghiệp nói chung và ở Công ty Cổ phần Vận
tải ô tô Vĩnh Phúc nói riêng.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những lý luận và thực trạng hiệu quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp
giai đoạn hậu CPH
- Nghiên cứu cụ thể thực trạng hoạt động SXKD và hiệu quả hoạt động SXKD của Công
ty Cổ phần Vận tải ô tô Vĩnh Phúc, so sánh với hiệu quả hoạt động SXKD trước khi công ty tiến
hành CPH
4. Quan điểm nghiên cứu
- Hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một
doanh nghiệp.
- Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp nhất là các CTCP muốn tồn tại thích nghi với
những biến đổi của thị trường cần có chiến lược kinh doanh thích hợp, dựa vào nội lực của mình
để vươn lên nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả hoạt động SXKD.
- Việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD gắn với kết hợp hài hoà giữa ba lợi ích: lợi ích
xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Trong đó người lao động là động lực trực tiếp quyết định
hiệu quả hoạt động SXKD.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình viết báo cáo, trong thời gian tìm hiểu, thu thập dữ liệu em đã sử
dụng các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng; duy vật lịch sử; phương pháp thống kê-
so sánh; phương pháp phân tích- tổng hợp
cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt
động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển.
+ Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc
kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng
vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
1
Giáo trình Lý thuyết quản trị doanh nghiệp. TS.Nguyễn Thị Hồng Thuỷ và PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền. NXB
Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1998, trang 5
7
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh
nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh
thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn
nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động kinh
doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ. Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD
cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng.
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác
định”
2
, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có
kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.
Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt
động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục
tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có
được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc
độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD
Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn kiệt, khan hiếm do hoạt
động khai thác, sử dụng hầu như không có kế hoạch của con người. Trong khi đó mật độ dân số
của từng vùng, từng quốc gia ngày càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là
phạm trù không có giới hạn- càng nhiều,càng đa dạng, càng chất lượng càng tốt. Sự khan hiếm
đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, khi đó con
người phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu
tố sản xuất. Điều kiện đủ là cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều
phương pháp khác nhau để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào
nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, sự phát triển kinh tế theo
chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của
sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế. Nói một cách
khái quát là nhờ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD.
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và
sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp
tác, doanh nghiệp phải tự đưa ra chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinh
doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết
định. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD là tất
yếu đối với mọi doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại
9
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
và phát triển được, phương châm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao chất
lượng và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là điều tất yếu.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp
4.1. Các nhân tố bên ngoài
a. Môi trường pháp lý
"Môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình , quy phạm kỹ thuật sản
xuất Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đểu tác động trực tiếp đến hiệu quả và
kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp"
nghiệp. Môi trường chính trị ổn định sẽ có tác dụng thu hút các hình thức đầu tư nước ngoài liên
doanh, liên kết tạo thêm được nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động SXKD của
mình. Ngược lại nếu môi trường chính trị rối ren, thiếu ổn định thì không những hoạt động hợp
tác SXKD với các doanh nghiệp nước ngoài hầu như là không có mà ngay hoạt động SXKD của
doanh nghiệp ở trong nước cũng gặp nhiều bất ổn.
Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tục
tập quán, trình độ, lối sống của người dân Đây là những yếu tố rất gần gũi và có
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp với
nhu cầu, thị hiếu khách hàng, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến hành
hoạt động sản xuất. Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường văn
hoá- xã hội quy định.
c. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là một nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp. Tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách kinh tế của Chính phủ, tốc độ tăng trưởng, chất
lượng của sự tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương
mại luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động trực
tiếp đến kết quả va hiệu quả hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp
5
. Là tiền đề để Nhà nước
xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, các chính sách ưu đãi với các
doanh nghiệp, chính sách ưu đãi các hoạt động đầu tư ảnh hưởng rất cụ thể đến kế hoạch SXKD
và kết quả SXKD của mỗi doanh nghiệp.
Ngoài ra, tình hình kinh doanh hay sự xuất hiện thêm của các đối thủ cạnh tranh cũng buộc
doanh nghiệp cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh của mình. Một môi trường cạnh tranh lành
mạnh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp cùng phát triển, cùng hướng tới mục tiêu hiệu quả SXKD của
mình. Tạo điều kiện để các cơ quan quản lý kinh tế nhà nước làm tốt công tác dự báo điều tiết
đúng đắn các hoạt động và có các chính sách mang lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp.
d Môi trường thông tin
5
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp từ quyết định mặt hàng kinh doanh, kế hoạch sản xuất,
quá trình sản xuất,huy động nhân sự, kế hoạch, chiến lược tiêu thụ sản phẩm, các kế hoạch mở
rộng thị trường, các công việc kiểm tra, đành giá và điều chỉnh các quá trình trên, các biện pháp
cạnh tranh, các nghĩa vụ với nhà nước. Vậy sự thành công hay thất bại trong SXKD của toàn bộ
doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều hành của bộ máy quản trị .
12
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
Bộ máy quản trị hợp lý, xây dựng một kế hoạch SXKD khoa học phù hợp với tình hình
thực tế của doanh nghiệp, có sự phân công, phân nhiệm cụ thể giữa các thành viên trong bộ máy
quản trị, năng động nhanh nhạy nắm bắt thị trường, tiếp cận thị trường bằng những chiến lược
hợp lý, kịp thời nắm bắt thời cơ, yếu tố quan trọng là bộ máy quản trị bao gồm những con người
tâm huyết với hoạt động của công ty sẽ đảm bảo cho các hoạt động SXKD của doanh nghiệp đạt
hiệu quả cao.
Doanh nghiệp là một tổng thể, hoạt động như một xã hội thu nhỏ trong đó có đầy đủ các
yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và cũng có cơ cấu tổ chức nhất định. Cơ cấu tổ chức có ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các phòng ban, các chức vụ trong doanh nghiệp, sự sắp xếp
này nếu hợp lý, khoa học, các thế mạnh của từng bộ phận và của từng cá nhân được phát huy tối
đa thì hiệu quả công việc là lớn nhất, khi đó không khí làm việc hiệu quả bao trùm cả doanh
nghiệp. Không phải bất lỳ một doanh nghiệp nào cũng có cơ cấu tổ chức hợp lý và phát huy hiệu
quả ngay, việc này cần đến một bộ máy quản trị có trình độ và khả năng kinh doanh, thành công
trong cơ cấu tổ chức là thành công bước đầu trong kế hoạch kinh doanh.
Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bất hợp lý, có sự chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ không rõ ràng, các bộ phận hoạt động kém hiệu quả, không khí làm việc căng thẳng
cạnh tranh không lành mạnh, tinh thần trách nhiệm và ý thức xây dựng tổ chức bị hạn chế thì kết
quả hoạt động SXKD sẽ không cao.
b. Nhân tố lao động và vốn
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp các yếu tố sản
xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì vấn
đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề lao động. Công tác tuyển dụng được tiến hành
những lợi thế vốn có của nó nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hay tăng năng suất lao động
đưa sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế trwn thị trường nâng cao hiệu quả kinh doanh.
d. Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu của doanh nghiệp
Đây cũng là bộ phận đóng vai trò quan trọng đối với kết quả hoạt động SXKD. Để tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những yếu tố nền tảng cơ sở thì nguyên liệu đóng vai
trò quyết định, có nó thì hoạt động SXKD mới được tiến hành.
Kế hoạch SXKD có thực hiện thắng lợi được hay không phần lớn phụ thuộc vào nguồn
nguyên liệu có được đảm bảo hay không.
5. Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD
Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt
động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao
động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp
là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
14
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD chúng ta có thể dựa vào việc phân biệt
hai khái niệm kết quả và hiệu quả
6
:
+ Kết quả của hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau
một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp.
Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cân
đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chất
lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm của
khách hàng về chất lượng sản phẩm. Chất lượng bao giờ cũng là mục tiêu của
doanh nghiệp.
+ Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã sử dụng cả
hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (cả trong lý
thuyết và thực tế thì hai đại lượng này có thể được xác định bằng đơn vị giá trị hay
hiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó khăn hơn vì trạng thái hay đơn
7
: có thể tính cho toàn bộ vốn kinh doanh hoặc chỉ tính cho
vốn tự có của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh sức sinh lời của số vốn kinh doanh, phản ánh
mức độ đạt hiệu quả kinh doanh của số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng. Đây có thể coi là thước
đo mang tính quyết định đánh giá hiệu quả kinh doanh.
D
vkd
(%)
=
KD
VVR
V
∏+∏
100
×
Trong đó:
D
vkd
: Doanh lợi toàn bộ vốn kinh doanh
Π
R
: Lãi ròng
Π
VV
: Lãi trả vốn vay
V
KD
: Tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu doanh lợi tính cho số vốn của doanh nghiệp được tính tương tự nhưng thay đại
C
Q 100×
Trong đó:
H
CPKD
: Hiệu quả kinh doanh theo chi phí kinh doanh, tính theo đơn vị %
7
Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp. GS.TS. Ngô Đình Giao. NXB Khoa học kỹ
thuật, Hà Nội- 1997, trang 426
8
Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, GS.TS. Ngô Đình Giao. NXB Khoa học kỹ thuật,
Hà Nội- 1997, trang 426
9
Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các daonh nghiệp, PGS.TS. Ngô Đình Giao. NXB Khoa học kỹ
thuật, Hà Nôi- 1997, trang427.
16
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
Q
G
: Sản lượng kinh doanh tính theo giá trị
C
TC
: Chi phí tài chính
3. Hiệu quả sử dụng vốn
10
- Số vòng quay toàn bộ vốn:
SV
V
= TR/V
KD
∏
/V
LĐ
Trong đó:
H
LĐ
: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
V
LĐ
: Vốn lưu động bình quân năm.
-
Số vòng luân chuyển vốn lưu động:
SV
LĐ
= TR/V
LĐ
Trong đó:
SV
LĐ
: số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm, cho biết trong một năm vốn
lưu động quay được mấy vòng, chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng lớn.
- Hiệu quả sử dụng vốn góp trong CTCP được xác định bởi tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ
phần:
D
VCP
(%) =
R
∏
/ V
CP
D
CP
(%) =
CP
∏
. 100/CP
Với D
CP
: là tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu.
4. Hiệu quả sử dụng lao động
11
-
Năng suất lao động bình quân năm:
AP
N
=
AL
Q
Trong đó:
AP
N
: năng suất lao động bình quân năm
Q : Sản lượng tính bằng đơn vị hiện vật hay giá trị
AL : Số lao động bình quân trong năm
-
Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động:
BQ
∏
=
SV
NVL
: Số vòng luân chuyển nguyên vật liệu.
NVL
SD
: Giá vốn nguyên vật liệu đã dùng
NVL
DT
: Giá trị nguyên vật liệu dự trữ trong kỳ
Các chỉ tiêu này cho biết khả năng khai thác nguồn nguyên liệu, vật tư của doanh nghiệp,
giá trị chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã giảm được chi phí cho nguyên vật liệu dự
trữ, rút ngắn chu kỳ chuyển đổi nguyên vật liệu, giảm bớt sự ứ đọng của nguyên vật liệu, tăng
vòng quay của vốn lưu động.
III. Tác động của CPH đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp
1. Những tác động góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD
1.1. CPH huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào hoạt động SXKD
Nhờ đó doanh nghiệp có vốn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển kinh doanh
theo chiều sâu. “Thực hiện CPH, doanh nghiệp đã thu hút được một lượng vốn lớn
rất quan trọng từ cán bộ công nhân viên làm việc trong doanh nghiệp và trong dân
cư để đầu tư phát triển”
13
.
Doanh nghiệp có thể vừa bán cổ phần cho lao động trong doanh nghiệp vừa
bán cho tổ chức hay cá nhân ngoài doanh nghiệp thu hút lượng vốn đáng kể. Có
như vậy thì các chỉ tiêu về SXKD mới đạt và vượt kế hoạch đề ra làm lợi cho doanh
nghiệp. Từ trước đến nay lượng vốn nhàn rỗi trong dân bị lãng phí, tuy rằng những
người có tiền họ vẫn có thể gửi tiết kiệm thu lãi xuất hàng tháng. Nhưng lượng vốn
đó nếu được các chủ thể tận dụng làm vốn kinh doanh phát triển sản xuất thì lợi
nhuận sẽ lớn hơn rất nhiều. Vấn đề này được giải quyết khi tiến hành CPH DNNN
nhất là những DNNN có xu hướng làm ăn có lãi sẽ thu hút được sự quan tâm của
đông, quyền lợi và trách nhiệm của người lao động gắn chặt với sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp nếu muốn, trở thành người chủ của doanh nghiệp thì người
lao động sẽ có trách nhiệm với công ty hơn. Có như vậy thì kết quả SXKD của
công ty mới thực sự có hiệu quả, họ mới được hưởng lợi nhuận cao xứng đáng với
sức lao động mà mình bỏ ra,
1.4. CTCP tạo ra cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, linh hoạt
14
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, PGS.PTS. Hoàng Công Thi và PTS. Phùng Thị Đoan. NXB
Khoa học kỹ thuật, Hà Nội- 1992, trang 30.
20
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
“CPH DNNN là chuyển doanh nghiệp từ chỗ chịu sự quản lý trực tiếp của
Nhà nước sang Nhà nước quản lý thông qua chính sách, pháp luật”
15
. Hoạt động
của doanh nghiệp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường. Điều này đã tạo cho doanh
nghiệp sự thay đổi trong hoạt động quản trị từ tư tưởng dựa dẫm sang ý thức tự lực,
dễ thích ứng với sự thay đổi của cơ chế thi trường, lời ăn, lỗ chịu.
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp được bố trí tinh giản, gọn nhẹ thực sự là đại
diện cho cổ đông. Mọi hoạt động của công ty được tiến hành theo điều lệ và quy
định chặt chẽ của công ty. Nhiều CTCP đã rà soát lại và xây dựng mới quy chế tài
chính, lao động, tuyển dụng; xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của ban lãnh đạo
và cổ đông, tổ chức hợp lý các bộ phận kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh
nghiệp như giải quyết vấn đề nhân sự, ra quyết định quản lý hay kinh doanh, xây
dựng chiến lược đầu tư nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả SXKD
của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, mua sắm máy móc
thiết bị phù hợp với yêu cầu SXKD. Việc mua xắm máy móc thiết bị, công nghệ
được HĐQT bàn và quyết định trên cơ sở tính toán xem doanh nghiệp cần mua gì,
đổi mới gì có phù hợp với điều kiện SXKD và tình hình tài chính của công ty
Vấn đề khác là người đại diện của nhà nước trong CTCP, theo nghị định 73,
người đại diện chỉ có thể tác động đến hoạt động của CTCP theo quy định của luật
pháp và điều lệ công ty, tác động của họ nhiều hay ít, có tính chất quyết định hay
không tuỳ thuộc vào số vốn của nhà nước đầu tư vào CTCP. Nhưng trong thực tế
vẫn xảy ra tình trạng người đại diện có sự can thiệp quá sâu vào mọi hoạt động của
công ty làm tính chủ động sáng tạo trong điều hành hoạt động kinh doanh của bộ
máy quản lý bị hạn chế rất nhiều ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD.
Trong quá trình đa dạng hoá sở hữu, việc xử lý mối quan hệ mới phát sinh là
điều không thể tránh khỏi CPH làm không triệt để vẫn mang nặng tâm lý dựa vào
nhà nước kìm hãm hoạt động của các mô hình mới, nới rộng quyền tự chủ của
CTCP cũng là việc nên làm và làm dứt điểm để đấy mạnh quá trình CPH DNNN ở
nước ta.
2.2. Những bất cập trong quản trị doanh nghiệp
22
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
Theo Luật doanh nghiệp, các hoạt động quản lý trong CTCP đều được
thực hiện bởi đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và bộ máy điều hành.
Họ đa số là những người làm công tác điều hành nâng cao hiệu quả hoạt động
SXKD của doanh nghiệp. Nhưng trong thực tế vấn đề xác định chủ sở hữu doanh
nghiêp không đơn giản và không theo lý luận như trên.
Đa số cổn phần bán ra đều do người lao động trong công ty cũ mua lại. Trong
nhiều trường hợp, người lao động không thấy được vai trò sở hữu thực sự của mình
Do họ vẫn giữ thái độ e ngại đối với ban lãnh đạo; hoặc trong nhiều trường hợp cổ
đông không được cung cấp đầy đủ thông tin nên cổ đông không nắm được các
phương án kinh doanh, các quyết định chiến lược của công ty, họ thấy mình bị
đứng ngoài cuộc hay các cổ đông không nắm được những quy định pháp lý về
quyền hạn cổ đông của các cơ quan HĐQT, ban kiểm soát, hệ thống điều hành cũng
như trình tực tổ chức đại hội cổ đông. Điều này có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng
quyền lực vì lợi ích cá nhân do thực quyền chi phối doanh nghiệp nằm trong tay
một số ít người có trách nhiệm.
công ty. Các vấn đề nảy sinh về đất đai, nhà xưởng có liên quan trước khi CPH gây
ra sự lúng túng cho doanh nghiệp trong việc bố trí kế hoạch SXKD. Tình trạng thực
tế xảy ra là các thành viên thuộc Tổng công ty tiến hành CPH không có quyền sử
dụng đất, không được đứng tên thuê giao đất phải nhờ Tổng công ty đứng ra để
vay vốn cho; tương tự, trước đây khi vẫn còn là thành viên tổng công ty, các tài sản,
dây chuyền sản xuất đều do tổng công ty đầu tư và đứng tên sở hữu, khi tiến hành
CPH việc chuyển giao tiến hành chưa dứt điểm, gây ra tình trạng quyền sở hữu
không rõ khiến các CTCP rất khó khăn trong việc triển khai kế hoạch mở rộng, liên
doanh, hợp tác kinh doanh với các đối tác
16
.
2.4. Những vấn đề về tài chính và lao động
Sau CPH doanh nghiệp cần rất nhiều vốn để tiến hành hoạt động SXKD, đầu
tư mở rộng sản xuất dưới mô hình hoạt động mới, doanh nghiệp cần vốn phải trông
16
Đoạn này được tóm tắt từ Tạp chí kinh tế và dự báo, số tháng 11/2005, trang 16
24
SV: Nguyễn Thị Lan Hương - Lớp: Quản lý Kinh tế 44A
chờ vào các nguồn tín dụng khác kể cả tín dụng phi chính thức tiềm ẩn rất nhiều
yếu tố rủi ro, tín dụng người lao động hoặc gia đình, bạn bè. Chính sách của nhà
nước mới chỉ là đưa ra những ưu đãi chứ chưa có những chế định cụ thể để đảm
bảo cho doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi này, ngoài ra sự thiếu nhất quán
trong thực hiện các chính sách của nhà nước.
Một vấn đề khác phát sinh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp sau CPH là
bất cập trong chế độ hạch toán, kế toán của CTCP. Thực tế cho thấy, bên cạnh
những mặt thuận lợi như khả năng huy động vốn, sự phân tán rủi ro, gắn bó quyền
lợi và trách nhiệm về tài chính với phần vốn góp của cổ đông, quyền quản lý được
phân cấp rõ ràng tuy nhiên do chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính nên
công tác hạch toán ở CTCP vẫn gặp nhiều vướng mắc, vướng mắc trong việc hạch
toán, quản lý phần vốn nhà nước cũng như phần vốn của các cổ đông như thế nào