ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CHỈ SỐ
HÀNH PHÚC NÓI CHUNG VÀ NGƯỜI
VIỆT NAM NÓI RIÊNG; XÁC ĐỊNH
CÁC NHÂN TỐ CHÍNH SẢNH HƯỞNG
ĐẾN HẠNH PHÚC
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Trọng Hoài
Sinh viên thực hiện : Trần Hữu Ủy
1
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Trọng Hoài ñã tận tình
hướng dẫn, góp ý và ñộng viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
này.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh tế phát triển, Khoa ðào tạo Sau
ðại học Trường ðại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, quý thầy cô Chương
trình ñào tạo kinh tế Fulbright (FETP), các bạn lớp Cao học Kinh tế phát triển
(Fulbright 3), học viên lớp Fulbright 11 ñã nhiệt tình giúp ñỡ tôi trong suốt thời
Lời cảm ơn 1
Lời cam ñoan 2
Mục lục 3
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt 5
Danh mục các bảng, biểu 6
Danh mục các mô hình 6
Danh mục các hình vẽ, ñồ thị 7
Lời mở ñầu. 8
Chương I: Tóm lược lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan 11
1.1. Tóm lược các Lý thuyết 11
1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm 17
1.2.1. Mô hình nghiên cứu của Blanchflower và Oswald (2004) 17
1.2.2. Chỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI) 18
1.2.3. ðiều tra giá trị thế giới - Việt Nam 2001 22
1.3. Giả thiết và kỳ vọng về các nhân tố ảnh hưởng 24
Chương II: Phương pháp phân tích và mô hình ñịnh lượng 27
2.1. Nguồn dữ liệu 27
2.2. Xử lý dữ liệu 28
2.3. Phương pháp phân tích 28
2.4. Mô hình kinh tế lượng 29
2.5. Ước lượng mối quan hệ bằng mô hình hồi quy ña biến 32
2.5.1. Xử lý sơ bộ các biến 32
2.5.2. Thủ tục ước lượng mô hình hồi quy 32
2.6. Ước lượng mô hình hồi quy 33
4
Chương III: ðánh giá kết quả nghiên cứu và gợi ý chính sách 37
3.1. ðánh giá kết quả nghiên cứu 37
3.2. Gợi ý chính sách 41
3.3. Hạn chế của ñề tài 42
3.4. Lĩnh vực nghiên cứu tiếp tục 43
Dummy: Biến giả
Mean: Trung bình
USD: ðôla Mỹ
Mô hình U: Mô hình tổng quát
Mô hình R: Mô hình giới hạn
6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: Chỉ số HPI của 178 quốc gia năm 2006
Bảng 2: Thống kê mô tả chi số HPI năm 2006.
Bảng 3: Vùng phân bố mẫu ñiều tra.
Bảng 4: Tóm tắt các biến.
Bảng 5: Mô hình tuyến tính có trọng số theo WHITE (Mô hình tốt
nhất)
Bảng 6: Mô hình tổng quát (Mô hình U)
Bảng 7: Mô hình rút gọn (Mô hình R)
Bảng 8: Kết quả kiểm ñịnh Wald
Bảng 9: Kiểm ñịnh White Heteroskedasticity (Kiểm ñịnh phát hiện
hiện tượng phương sai thay ñổi.
Bảng 10: Kiểm ñịnh White Heteroskedasticity lần 2.
Bảng 11: Thống kê mô tả các biến
Bảng 12: Ma trận tương quan.
DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH
Mô hình [2.1]: Công thức tính hạnh phúc của Rothwell và Cohen
Mô hình [2.2]: Mô hình của Graham.
Mô hình [2.3]: Mô hình của Layard.
Mô hình [2.4]: Mô hình của Blanchflower and Oswald.
Mô hình [2.5]: Công thức tính chỉ số HPI của NEF.
7
ngày ñầu năm và trong tất cả những sự kiện lớn của mỗi một bản thân ñều ñược
người thân, gia ñình và bạn bè chúc phúc.
Hạnh phúc là một vấn ñề khá trừu tượng, chủ quan và khó nắm bắt vì nó phụ
thuộc vào sự cảm nhận của từng người ở trong những bối cảnh cụ thể. ðây là một
ñề tài ñã ñược nhân loại chiêm nghiệm, nghiên cứu từ rất sớm. Là một vấn ñề
chung của cả nhân loại, không riêng một dân tộc, quốc gia nào. Các học thuyết
triết học, tư tưởng tôn giáo ñều tìm cho mình một cách lý giải riêng về hạnh phúc.
Hạnh phúc ñược phân chia thành hạnh phúc chủ quan (Subjective happiness
hoặc self – reported happiness) & hạnh phúc khách quan (objective happiness);
hạnh phúc chủ quan ñược ño lường bằng cách ñặt câu hỏi “bạn cảm thấy hạnh
phúc như thế nào với cuộc sống hiện tại của bạn?” và hạnh phúc khách quan ñể chỉ
cường ñộ và thời hạn hạnh phúc trong thực tế
3
.
Hạnh phúc ñược nghiên cứu trong luận văn này dựa trên cơ sở hạnh phúc chủ
quan. Thuật ngữ hạnh phúc ñược nghiên cứu dưới góc ñộ sự hài lòng với cuộc
sống hiện tại. Khái niệm này ñược World Value Survey – ðiều tra giá trị thế giới
(WVS) do Ronald Inglehart ðại học Michigan ñưa ra và thực hiện ñiều tra lần ñầu 1 Nguyễn Như Ý, Tự ñiển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn Hóa - Thông Tin – Hà nội, 1998.
2 Lê Văn ðức, Việt Nam Tự ñiển, Nhà xuất bản Khai trí, Sài gòn, 1970.
3 ðịnh nghĩa về hạnh phúc.
9
tiên tại châu Âu năm 1981
4
. Khái niệm hạnh phúc như là sự hài lòng với cuộc sống
cũng ñược NEF (New Economics Foundation’s) nghiên cứu và sử dụng là một
trong ba nhân tố chính của Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Plannet Index –
4
World value survey.
5
Happy Planet Index (HPI).
6
Hoài Linh. Có một nền văn hóa tự tử.
10
các nhân tố ảnh hưởng ñến hạnh phúc, ñể có cái nhìn sâu hơn, thực tế hơn và có
thể gợi ý các chính sách hợp lý hơn nhằm nâng cao hạnh phúc cho từng cộng
ñồng, hoặc dân tộc có một ý nghĩa quan trọng. Vì vậy tác giả chọn ñề tài: Các nhân
tố ảnh hưởng ñến hạnh phúc của người Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của ñề tài là Phân tích hiện trạng chỉ số hạnh phúc nói
chung và của người Việt Nam nói riêng; Xác ñịnh các nhân tố chính ảnh hưởng
ñến hạnh phúc là các yếu tố có liên quan ñến chỉ số hạnh phúc hay sự hài lòng của
người dân như: tuổi tác, giới tính, sức khỏe, trình ñộ học vấn, tình trạng hôn nhân,
li hôn, việc làm, thất nghiệp, thu nhập, yếu tố vùng miền, các yếu tố thuộc vốn xã
hội như niềm tin, mối quan hệ bạn bè… của người dân và cuối cùng ñưa ra các gợi
ý chính sách nhằm nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân.
Hai câu hỏi nghiên cứu ñược ñưa ra là Những nhân tố có ý nghĩa nào ảnh
hưởng ñến hạnh phúc của người dân Việt Nam? Và những tác ñộng chính sách nào
từ chính phủ làm nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân Việt Nam?
Nghiên cứu dựa trên các giả thiết: Liệu thu nhập và hạnh phúc thật sự có mối
liên hệ ñồng biến với nhau; Liệu tình trạng sức khỏe tốt sẽ tác ñộng ñồng biến ñến
hạnh phúc; Liệu những yếu tố rủi ro cuộc sống (thất nghiệp, li hôn) có ảnh hưởng
nghịch biến tới hạnh phúc và Liệu các yếu tố thuộc vốn xã hội (social capital) như
niềm tin vào tôn giáo, vào chính trị, tính cộng ñồng, mối quan hệ với gia ñình, với
người thân, vv… ảnh hưởng thuận chiều ñến hạnh phúc.
ðối tượng nghiên cứu là người dân Việt Nam ñược chọn ñể ñiều tra thông qua
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên do giáo sư Russell J. Dalton & nghiên cứu sinh
mâu thuẫn ngày càng trở nên gay gắt, và ñến một giai ñoạn nhất ñịnh thì ñược giải
quyết bằng sự biến ñổi căn bản hoặc bằng sự tiêu vong của cái cũ và xuất hiện cái
mới. Con người không thể như các sinh vật luôn chấp nhận sự an bài của thượng
ñế, phải luôn vận ñộng, ñấu tranh ñể vì một cái mới hoàn thiện và tốt ñẹp hơn.
Tuy nhiên, con người nếu cứ luôn ñấu tranh, luôn muốn thay ñổi và ñòi hỏi mọi
sự phải luôn tốt ñẹp hơn, ñầy ñủ hơn thì sẽ không bao giờ thỏa mãn với những gì
mình có và phải luôn chạy theo những mục tiêu cao hơn, xa hơn sẽ làm cho cuộc
sống của mình luôn căng thẳng, mệt mỏi và không bao giờ ñược thỏa mãn, sung
7
Nguyễn Hữu An (2008) Hạnh phúc
8
TS Nguyễn Tấn Hùng (2005), Các quan ñiểm khác nhau trong lịch sử triết học về vấn ñề mưu cầu hạnh
phúc cá nhân và ý nghĩa của nó ñối với xã hội ta hiện nay,
12
sướng… Nguyễn Công Trứ ñã từng nói: "Tri túc tiện túc, ñãi túc hà thời túc? Tri
nhàn tiện nhàn, ñãi nhàn hà thời nhàn?" (Biết ñủ thì ñủ, ñợi ñủ thì bao giờ mới ñủ?
Biết nhàn thì nhàn, ñợi nhàn bao giờ mới nhàn?).
Và có một ñiều thú vị là sau nhiều thế hệ và ñặc ñiểm thời ñại hoàn toàn khác
nhau, Layard (2008) - Giáo sư kinh tế ðại học kinh tế Luân ðôn lại có cùng quan
ñiểm với ý tưởng trên, ông cho rằng: ngày nay chúng ta giàu có hơn các thế hệ cha
ông chúng ta rất nhiều, thu nhập của chúng ta cao hơn gấp nhiều lần, chúng ta có
thực phẩm, xe cộ, quần áo, có những ngôi nhà lớn, tiện nghi hơn, có sức khỏe và
công việc thoải mái hơn so với thế hệ cha ông nhưng người phương Tây vẫn
không thấy hạnh phúc hơn cha ông của họ năm mươi năm trước. Ông cũng cho
rằng hạnh phúc là cảm giác tốt ñẹp, hưởng thụ cuộc ñời và cảm thấy cuộc sống
tuyệt vời. Không hạnh phúc là cảm thấy buồn bực và muốn có sự thay ñổi. Và
trong cách nghĩ ñơn giản và rõ ràng như thế, vật chất, thứ người ta vất vả hàng
ngày ñể tìm kiếm nó, lại không góp phần nhiều vào cảm giác ñó.
người khác”.
- Mahatma Gandhi: “Hạnh phúc là khi ta nghĩ, ta nói, ta làm ăn nhịp với
nhau”.
- De Tocqueville: “Chấp nhận sự bất hạnh có lẽ còn ít ñau khổ hơn là sự mưu
cầu hạnh phúc”.
- Gustave Droz: Có một số người, “chỉ ñạt ñến mức sung sướng bằng cách
trang trọng góp nhặt từng mảnh vụn của hạnh phúc vương vãi ñó ñây”.
- Abraham Lincoln: “Chúng ta hạnh phúc vì tâm can ta cảm thấy vậy”.
Những nghiên cứu và suy nghĩ trên về một góc ñộ nào ñó ñã lý giải khá nhiều
vấn ñề của thực tế cuộc sống, tuy vậy vẫn mang tính ñịnh tính và chủ quan của bản
thân, mỗi người tùy theo hoàn cảnh, ñiều kiện và thời ñiểm nhất ñịnh ñể ñưa ra các
quan niệm riêng của mình, do vậy khó có thể thống nhất ñược với nhau, khó có thể
ñưa ra các giải pháp thuyết phục ñể có chính sách tác ñộng thích hợp. Những năm
gần ñây các nghiên cứu ñịnh lượng về hạnh phúc ñã ñược chú ý triển khai ở các
nước phát triển.
Tác phẩm ñược coi là xuất hiện sớm nhất trong nghiên cứu khoa học về hạnh
phúc “The Science of Happiness” của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm
1861. Năm 1909, một cuốn khác cùng tên của Henry S. Williams xuất bản tại New
York tiếp tục gây ñược sự chú ý nhất ñịnh trong giới học thuật. Từ ñó các công
trình, chuyên khảo, bài báo… cùng khuynh hướng nghiên cứu khoa học về hạnh
phúc ñều ñặn xuất hiện. Tuy vậy, phải ñến gần ñây, ở phương Tây, người ta mới
14
thừa nhận Science of Happiness là một ngành nghiên cứu tương ñối ñộc lập với ñối
tượng nghiên cứu là hạnh phúc
10
.
Học thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943) cho rằng nhu cầu tự
nhiên của con người ñược chia thành các thang bậc khác nhau từ "ñáy” lên tới
“ñỉnh”, từ nhu cầu sinh lý (vật chất, cơ bản) ñến nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội
(về liên kết và chấp nhận), nhu cầu ñược tôn trọng rồi ñến mức cao nhất là nhu cầu
15
x là các biến ñộc lập, bao gồm xã hội nhân khẩu học - kinh tế xã hội và ñặc
ñiểm kinh tế xã hội như thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân và việc làm
t là các thời ñiểm
ε là sai số, α , β là các hệ số.
Nghiên cứu cũng chỉ ra ñược các nhân tố có ảnh hưởng ñến hạnh phúc cá nhân
mỗi người như thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân và việc làm. Tuy nhiên
nghiên cứu chưa chỉ ra bộ dữ liệu sử dụng, ý nghĩa thống kê của các biến …
Về quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc, xưa nay, hầu hết các lý thuyết ñạo ñức
xã hội thường nói rằng, tiền bạc gần như không có liên hệ nhân quả nào với hạnh
phúc. Tuy nhiên theo nghiên cứu của nhà xã hội học Glenn Firebaugh, ñại học
Pennsylvania và Laura Tach, ñại học Harvard (Mỹ) thì tiền bạc có tạo ra hạnh
phúc, tuy nhiên, với một ñiều kiện là người làm ra tiền bạc phải cảm thấy họ kiếm
ñược nhiều tiền hơn những người quanh họ
12
.
Cũng cho kết quả tương tự, nhà tâm lý học ñại học Illinois (Mỹ) Diener (1980)
kết luận sẽ là không ñúng nếu nói tiền bạc không liên quan tới hạnh phúc; mối
quan hệ giữa chúng rất phức tạp, song tỷ lệ hài lòng với cuộc sống của người giàu
thường cao hơn nhiều so với người nghèo. Hiện tượng này ñúng cho cả những
nước giàu và những ngước nghèo. Chuyên gia kinh tế Andrew Oswald (2001) của
ðại học Warwick (Anh) cũng ñồng ý với Edward Diener khi nghiên cứu một
nhóm người trúng xổ số từ 2.000 ñến 250.000 USD. Kết quả chỉ ra là mức ñộ hài
lòng với cuộc sống của nhóm người này tăng so với hai năm trước khi họ trúng số.
Và mức ñộ hài lòng tăng tỷ lệ thuận với mức thưởng: trúng thưởng càng lớn người
trúng thưởng càng hài lòng hơn với cuộc sống của mình.
Tuy nhiên, Kahneman (2006), chủ nhân giải Nobel kinh tế năm 2002, cùng các
ñồng nghiệp của mình ở trường Princeton, không ñồng tình với những kết luận
trên ñây. Trong tác phẩm “Có phải bạn hạnh phúc hơn khi bạn giàu hơn”
13
nhân ñược giữ lại nhiều thu nhập hơn từ việc làm thêm ngoài giờ. Các nhà kinh tế
cho rằng, ñây chính là lý do tại sao dân Mỹ lại làm việc nhiều hơn dân châu Âu.
Trong 20 năm qua, số giờ làm việc trung bình hàng năm của người Mỹ không
ngừng tăng lên trong khi con số này ở châu Âu lại giảm mạnh: hiện nay trung
bình, thời gian làm việc của người Mỹ cao hơn 15% so với người châu Âu.
Phân tích của Layard cho thấy vấn ñề không phải là người châu Âu làm việc quá
ít mà là người Mỹ làm việc quá nhiều với mong muốn có thêm thu nhập nhằm bắt
kịp với những người xung quanh, thay vì dành nhiều thời gian ñể nghỉ ngơi. Các
nhà kinh tế cho rằng xác ñịnh một mức thuế thu nhập hợp lý cũng góp phần giúp
con người tự ñiều chỉnh giữa công việc và nghỉ ngơi, giải trí nhằm có một ñời sống
hạnh phúc hơn. 14
Tiền bạc ñi liền với hạnh phúc.
27/11/2006.
17
Layard (2003) cũng ñề xuất mô hình
15
như sau:
Happiness
i
= f(Leisure
i
, Valued Consumption
i
) + αRank
i
+ βOutput
15
Layard (2003) Income and happiness: rethinking economic policy. Lecture 2.p13.
16
Blanchflower, D. G. & Andrew J. Oswald (2004). Well-being over time in Britain and the USA. Journal
of Public Economics 88 (2004) 1359– 1386.
18
- Sự khác biệt trong mức ñộ hạnh phúc của các nhóm chủng tộc ở Hoa Kỳ ñã
thu hẹp hơn trong vài thập kỷ qua. Mức ñộ hạnh phúc của người da ñen ñã nâng
lên rõ rệt.
- Thu nhập cao hơn gắn liền với hạnh phúc cao hơn.
- Nhóm dân số có mức hạnh phúc cao nhất là những người phụ nữ, ñã lập gia
ñình, có giáo dục cao và có cha mẹ không ly hôn. Nhóm hạnh phúc thấp là những
người thất nghiệp sau ñó là những người ñã kết hôn nhưng có ít hạnh phúc.
Biểu ñồ 1: Mô tả mối liên hệ giữa mức ñộ hạnh phúc và ñộ hữu dụng thực tế.
r (mức ñộ hạnh phúc)
h (*) + ε ðộ hữu dụng u (.)
1.2.2. Chỉ số hạnh phúc hành tinh - Happy Planet Index (HPI)
NEF (New Economics Foundation) (2006) ñã ñưa ra Báo cáo Chỉ số hạnh phúc
hành tinh (HPI – Happy Planet Index). Dựa vào các số liệu chọn lọc từ các quốc
gia, các tổ chức quốc tế và các số liệu do chính NEF ñiều tra, NEF ñã ñưa ra các
báo cáo về kinh tế, xã hội và môi trường… gây ñược tiếng vang nhất ñịnh trong dư
luận quốc tế.
Báo cáo Chỉ số hạnh phúc hành tinh năm 2006 tập hợp và ñưa ra ñược bức
tranh về thực trạng hạnh phúc của 178 nước; tức là hầu hết các nước và vùng lãnh
thổ trên thế giới. Chỉ một số ít nước không có số liệu do hoàn cảnh chính trị - xã
hội khá ñặc biệt như Iraq, Apghanistan, Triều Tiên, Somali, Tây Sahara, Liberia,
20
ðảo Greenland, Quần ñảo New Calidonia, Serbi & Montenegro, ðông Timor…
Về mặt học thuật, Báo cáo ñã thiết kế và ñưa ra ñược một chỉ số ñịnh lượng xác
ñịnh về hạnh phúc, chỉ số HPI. ðã có những tranh cãi về chỉ số này sau một thời
gian NEF công bố Báo cáo: một số học giả chưa thỏa mãn với cách thiết kế chỉ số,
chưa ñồng ý với logic của việc quy giản khái niệm hạnh phúc… Tuy thế, ñến nay,
ñánh giá về Báo cáo nhìn chung là tích cực, chưa có quốc gia nào hay tổ chức quốc
tế nào lên tiếng phản ñối Báo cáo này.
Kết quả xếp hạng các quốc gia thể hiện ở Bảng 1: Chỉ số HPI của 178 quốc gia
năm 2006 (Phụ lục 1)
Theo Báo cáo, HPI cao nhất thế giới năm 2006 thuộc về Vanuatu, một quần
ñảo ở nam Thái Bình Dương với HPI = 68,2. Thấp nhất là Zimbabwe với HPI =
16,6. Việt Nam trong Báo cáo ñạt ñược chỉ số HPI là 61,2 với chỉ số hài lòng với
cuộc sống là 6,1; chỉ số tuổi thọ là 70,5 và chỉ số môi sinh là 0,8. ðiều thú vị là,
Việt Nam ñứng thứ 12 trong số 178 nước, trên cả Trung Quốc (31/178), Thái Lan
(33/178), Italia (66/178), Nhật Bản (95/178), Anh (108/178), Mỹ (150/178) và hơn
160 nước khác.
Bảng 2. Chỉ số HPI năm 2006.
Thống kê mô tả
Mức ñộ hài
lòng cuộc sống
Tuổi thọ
Môi
sinh
HPI
Trung bình 6.05 65.96 2.54
Việt Nam và Trung Quốc (xếp hạng thứ 31) có chỉ số mức ñộ hài lòng cuộc
sống và tuổi thọ tương ñương nhau (6,1/6,3 và 70,5/71,6) nhưng yếu tố môi sinh,
khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên… thì Việt Nam tốt hơn khá nhiều (0,8/1,5).
ðiều này phản ánh một thực tế là mức ñộ khai thác tài nguyên thiên nhiên, vấn ñề
ô nhiễm môi trường của Việt Nam là thấp hơn so với Trung Quốc.
So sánh với Mỹ, một quốc gia giàu có nhất thế giới, các chỉ số mức ñộ hài lòng
cuộc sống và tuổi thọ của người dân Mỹ cao hơn Việt Nam khá nhiều (6,1/7,4 và
70,5/77,4) nhưng chỉ tiêu môi sinh Việt Nam tốt hơn (0,8/9,5).
Qua các so sánh trên chúng ta có thể thấy rằng sự tác ñộng của vấn ñề môi sinh
ảnh hưởng rất lớn ñến chỉ số xếp hạng hạnh phúc toàn cầu. Tuy nhiên nội hàm của
yếu tố môi sinh cũng cần có sự thống nhất trong nhận thức, ở các quốc gia phát
triển, thực trạng tiêu dùng tài nguyên tự nhiên rất lớn nhưng việc sử dụng hiệu quả
và có cơ chế quản lý kinh tế - xã hội tốt ñã hạn chế rất lớn vấn ñề ô nhiễm, nâng
cao chất lượng môi trường sống của dân cư.
Ở các nước ñang phát triển, việc tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên còn thấp
nhưng do sử dụng không hiệu quả, lãng phí và do khả năng quản lý yếu kém nên
vấn ñề môi sinh bị ảnh hưởng nhiều. Ở Việt Nam chúng ta, mặc dầu có nhiều
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và dồi dào chưa khai thác hết nhưng việc
khai thác và sử dụng còn chưa hiệu quả (công nghệ khai thác còn lạc hậu, sản
phẩm khai thác chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô và phục vụ mục ñích xuất khẩu),
ngoài ra năng lực quản lý kinh tế xã hội còn yếu kém nên vấn ñề ô nhiễm ngày
càng gia tăng, vấn nạn kẹt xe ngày càng trầm trọng, môi trường sống của người
22
dân ngày càng xấu ñi. Nếu tình hình không sớm ñược cải thiện, chỉ số HPI của
Việt Nam có thể sẽ bị giảm sút nhanh chóng.
1.2.3. ðiều tra giá trị thế giới (ðTGTTG) - Việt Nam 2001:
ðGTTG là một cuộc ñiều tra quốc tế về sự thay ñổi về văn hoá xã hội và chính
trị, ñược thực hiện qua những cuộc thăm dò ý kiến công chúng mang tính ñại diện
quốc gia thuộc hơn 65 xã hội tại 6 châu lục, với gần 80% dân số thế giới.
Lần ñầu tiên, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ñã tham gia mạng
T. Ong.
Từ biểu ñồ 2 chúng ta thấy rằng:
- Hầu hết các quốc gia có thu nhập cao thì mức ñộ hạnh phúc và sự thỏa mãn
của người dân ñều khá cao, nhất là nhóm các quốc gia có mức thu nhập GNP/ñầu
người trên 10000 USD/năm.
- Một số quốc gia có thu nhập GNP/ñầu người khá thấp (dưới 2000 USD/năm)
nhưng vẫn có mức ñộ hạnh phúc và sự thỏa mãn của người dân khá cao, trong ñó
có Việt Nam.
Báo cáo cũng ñưa ra các kết luận về hạnh phúc của người Việt Nam:
- Hầu hết người Việt (91%) vui lòng hoặc rất vui lòng với hoàn cảnh hiện tại
của họ; khoảng 2/3 tự cho là ñã hài lòng với cuộc sống nói chung.
- Những số liệu thống kê về vấn ñề này ñã ñặt Việt Nam ñứng hàng ñầu hầu hết
các nước ñang phát triển và ngang hàng với các quốc gia như Trung Quốc, Mễ Tây
Cơ, Chi Lê và Tây Ban Nha.
- Hầu hết tự ñánh giá là ñã hài lòng với tình hình tài chánh của họ.
Vietnam
24
Như vậy, báo cáo ðTGTTG kết luận rằng mức ñộ hài lòng (hạnh phúc) với
hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam khá cao, nằm trong nhóm những quốc gia ñứng
ñầu thế giới.
1.3. Giả thiết và kỳ vọng về các nhân tố ảnh hưởng (trên cơ sở các nghiên
cứu trước và nghiên cứu ñịnh tính)
Ngoài biến thu nhập ñã ñược xác ñịnh trong nhiều nghiên cứu trên cũng như
trong nhiều nghiên cứu về hạnh phúc khác, có thể liệt kê các biến sau:
1. Tuổi (Age): (Cantril 1965, Inglehant 1990) cho rằng sự tác ñộng tích cực
của tuổi tác ñến hạnh phúc ñã ñược tìm thấy trong các cuộc ñiều tra ở nhiều quốc
gia khác nhau. Tuổi cũng ñược xem là những yếu tố ñầu tiên ảnh hưởng ñến hạnh
phúc con người trong “bát khổ” Sinh - Lão - Bệnh - Tử - Ái biệt li - Cầu bất ñắc -
19
Lê Sơn (2008) Tuổi tác và hạnh phúc.