Đề tài " NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT CĂN BẢN VỀ HỢP ĐỒNG " - Pdf 15

Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP. HCM
KHOA QTKD
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT CĂN BẢN VỀ HỢP ĐỒNG
Môn học: Luật Kinh Doanh
GVHD: Ths. Châu Quốc An
Nhóm thực hiện: Nhóm 8
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 1
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
DANH SÁCH NHÓM 8
Stt Họ và tên MSSV Ghi chú
1 Bạch Thị Thu Hà 0964012055 Nhóm trưởng
2 Hà Quốc Hòa 40701151
3 Mai Công Hòa
4 Đỗ Phi Hùng 0964012080
5 Vũ Huy Thành 1164010065
6 Nguyễn Chí Thảo 1164010066
7 Ngô Phi Thụy Vũ 1164010096
8 Hoàng Trung Quân 0964012168
9 Nguyễn Quốc Tường 0964012238
10 Đỗ Văn Thành 1064012105
11 Nguyễn Thanh Toàn 116400078
BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC CỦA CÁC THÀNH VIÊN
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 2
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
Stt Họ và tên Diễn giải Ghi chú
1 Bạch Thị Thu Hà
Phụ trách cơ sở lý luận và
tổng hợp toàn bộ bài tiểu
luận

CHƯƠNG I:
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 4
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thuật ngữ “hợp đồng”, khế ước” được sử dụng rất phổ biến trong các quan hệ
dân sự giữa các cá nhân, tổ chức với nhau. Tuy nhiên hợp đồng được xem là
một giao ước theo đó các bên bị ràng buộc về mặt pháp lý với nhau bởi các
quyền và nghĩa vụ. Do đó có thể nói rằng hợp đồng phải là một loại giao ước
được điều chỉnh bởi pháp luật.
1. Khái niệm hợp đồng:
Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005, Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực:
 Chủ thể hợp pháp
 Chủ thể tự nguyện
 Nội dung không trái pháp luật và đạo
đức xã hội
 Thủ tục và hình thức phù hợp với quy
định
Phân loại hợp đồng:
Căn cứ:
 Theo nội dung của hợp đồng
 Theo lĩnh vực đời sống
 Theo nghĩa vụ trong hợp đồng
 Theo hình thức của hợp đồng
 Theo sự phụ thuộc về hiệu lực của hợp đồng
 Theo đối tượng của hợp đồng
 Theo tính chất đặc thù của hợp đồng
 Theo tính thong dụng (quy định của Bộ luật dân sự 2005)
2. Giao kết hợp đồng:

 Phải là hình thức văn bản
 Phải có chứng thực, đăng ký hoặc xin phép.
Ví dụ: công chứng, UBND, cục sở hữu trí tuệ.
2.5. Trình tự giao kết:
 Đề nghị giao kết
• Theo khoản 1 điều 390 Bộ luật
dân sự 2005 thì: đề nghị giao
kết Hợp đồng là việc thể hiện
rõ ý định giao kết hợp đồng và
chịu sự ràng buộc về đề nghị
này của bên đề nghị đối với
bên đã được xác định cụ thể.
• Yêu cầu khi đưa ra đề nghị giao kết
• Giới hạn của đề nghị giao kết
 Chấp nhận đề nghị giao kết
• Chấp nhận toàn bộ đề nghị
• Thời hạn của sự chấp nhận
Lưu ý:
- Trường hợp chậm trả lời
- Trường hợp chỉ chấp nhận một phần đề nghị
2.6. Địa điểm giao kết:
Địa điểm giao kết Hợp đồng dân sự do các bên thỏa thuận dân sự do các bên
thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là
nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết
hợp đồng.
2.7. Thời điểm giao kết:
• Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được
trả lời hoặc chấp nhận giao kết
• Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời
mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự

 Không được xâm hại đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi
hợp pháp của người khác.
3.2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
 Là các biện pháp tác động mang tính dự phòng do các bên thỏa thuận đặt
ra nhằm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ, ngăn ngừa và khắc phục hậu
quả xấu do vi phạm nghĩa vụ.
 Bao gồm:
• Cầm cố tài sản
• Thế chấp tài sản
• Ký cược
• Ký quỹ
• Bảo lãnh
• Tín chấp
3.3. Sửa đổi hợp đồng
 Các bên có thể thỏa thuận
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 7
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
 Hình thức ghi nhận sửa đổi phải phù hợp với hình thức hợp đồng đã giao
kết
 Giải quyết hậu quả của việc sửa đổi (chi phí bỏ ra để thực hiện hoặc
chuẩn bị thực hiện, tiền bồi thường thiệt hại do sửa đổi hợp đồng)
3.4. Nội dung thực hiện:
 Đối với hợp đồng đơn vụ: (Điều 413 Bộ luật dân sự 2005)
 Đối với hợp đồng song vụ: (Điều 414 Bộ luật dân sự 2005)
 Đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
4. Chấm dứt – hủy bỏ hợp đồng
Theo quan điểm của luật dân sự, chấm dứt hợp đồng là dấu hiệu chỉ báo quyền
và nghĩa vụ của các bên không còn tồn tại.
4.1. Chấm dứt hợp đồng:
 Các trường hợp:

 Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
 Phạt hợp đồng
 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG
Trong thực tiễn đời sống hiện nay, có nhiều
mối quan hệ như mua bán hàng hóa, trao đổi,
vay mượn, và ngày càng có nhiều loại giao dịch
khác do tính chất phát triển đa dạng của các quan
hệ xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh,
các giao dịch đều phải được thực hiện bằng hợp
đồng.
Hợp đồng là kết quả của sự ưng thuận giữa các
bên. Tuy nhiên, trong thực tế, không hiếm trường hợp sự ưng thuận này có “khiếm
khuyết” và nhìn chung, pháp luật hợp đồng các nước đều dự liệu ba trường hợp “khiếm
khuyết” cho phép tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong
quá trình giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, vấn đề xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao
kết hợp đồng đã tồn tại khá sớm
Do đó, khi vấn đề nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng được đặt ra, Tòa án thường “mượn”
các quy định của Pháp lệnh HĐDS hay của BLDS để giải quyết.
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 9
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
BLDS 2005 đã có sự sửa đổi so với BLDS năm 1995 và Pháp lệnh HĐDS về nhầm lẫn. Cụ
thể, Điều 131 BLDS năm 2005 về “giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn” quy định:
“Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà
xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao
dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về
nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”.
Trong quá trình vận dụng chế định này chúng ta thấy thể hiện một số bất cập về nguyên

nhầm lẫn”. Ở đây, bên mua là anh Mạnh có nhầm lẫn, khi mua anh Mạnh không thể nghĩ
rằng đây là tang vật của một vụ án hình sự, nhưng thực tế đây lại là tang vật của một vụ
cướp. Vẫn theo Tòa án, bản thân anh Thắng “cũng” “bị nhầm lẫn”.
Trong vụ việc vừa nêu, hợp đồng bị vô hiệu do nhầm lẫn là hợp đồng giữa anh Mạnh và
anh Thắng; cả hai cùng nhầm lẫn. Do vậy, không thể coi ai trong hai người có lỗi cả. Tòa
án đã vận dụng BLDS năm 1995 và cho rằng có nhầm lẫn làm cho hợp đồng vô hiệu. Cách
giải quyết như vậy là hoàn toàn thuyết phục. Bởi, BLDS năm 1995 (và Pháp lệnh HĐDS)
không phân biệt nguyên nhân của nhầm lẫn như BLDS năm 2005. Do đó, mọi nguyên
nhân làm cho một bên nhầm lẫn đều thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS năm 1995.
BLDS năm 2005 thay đổi so với BLDS năm 1995 và chỉ đề cập đến 02 nguyên nhân, do
đó cách giải quyết của BLDS năm 2005 là chưa toàn diện, không đầy đủ. Nếu vụ việc
tương tự như trên xảy ra và phải áp dụng BLDS năm 2005 thì chúng ta thiếu cơ sở pháp lý
để giải quyết.
2. Về đối tượng của sự nhầm lẫn
2.1. Nội dung hợp đồng
Trong thực tế, không hiếm trường hợp các bên nhầm lẫn nội dung hợp đồng; một bên yêu
cầu sửa đổi phần nhầm lẫn và được bên kia cũng như Tòa án thừa nhận.
Ví dụ, vào năm 1997, vợ chồng bà Sáu, ông Tuấn có lập hợp đồng trao đổi nhà, đất với vợ
chồng ông Hòa, bà Phương. Qua đó, ông Tuấn, bà Sáu giao phần đất ngang 05m; dài 20m
cho vợ chồng ông Hòa bà Phương tọa lạc tại khóm 9, phường 7, thị xã Trà Vinh, nay là số
95 Nguyễn Thị Minh Khai, khóm 9, phường 7, thị xã Trà Vinh. Phía vợ chồng ông Hòa, bà
Phương phải giao cho vợ chồng bà Sáu căn nhà 29/11 Phạm Thái Bường, phường 3, thị xã
Trà Vinh. Theo yêu cầu của bà Sáu, vợ chồng ông Hòa, bà Phương làm thủ tục mua bán
căn nhà trên cho con bà Sáu là Kiều Quốc Vương đứng tên, để thuận lợi cho việc hợp thức
hóa. Nhưng khi đến phường làm thủ tục thì mới phát hiện trong giấy tờ chỉ ghi địa chỉ nhà
là đường Độc Lập, khóm 2, phường 3. Bà Sáu cũng đã yêu cầu ký lại hợp đồng mới cho
phù hợp với địa chỉ nhà đất trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nhưng vợ chồng bà
Phương, ông Hòa nghi ngờ có sự gian dối nên không đồng ý ký. Từ đó, bà Sáu yêu cầu hủy
hợp đồng. Về vụ việc này, theo Tòa án, “xét thấy tại phiên tòa hôm nay anh Vương được
bà Sáu và ông Tuấn ủy quyền tự nguyện rút lại đơn kháng cáo không yêu cầu hủy hợp

là bác sỹ nên bị nhầm lẫn y ngoại tổng quát với phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ ngay từ khi
xác lập hợp đồng thỏa thuận hợp tác”. Ở đây, Tòa án cho rằng sự nhầm lẫn xuất phát từ
nhận thức của bà Thu bởi bà đã nhầm “y ngoại tổng quát” là “phẫu thuật tạo hình thẩm
mỹ”. Điều đó có nghĩa là đối với bà Thu, có sự khác nhau giữa nhận thức của bà Thu về
chuyên môn của ông Trường và “sự thật” về chuyên môn của ông Trường. Trong nhận
thức của mình, bà Thu nghĩ rằng bằng cấp chuyên môn của ông Trường là y ngoại tổng
quát, tức là ông Trường có chuyên môn về phẫu thuật thẩm mỹ nên mới hợp tác kinh
doanh. Ông Trường có chuyên môn về y ngoại tổng quát nhưng ông lại không có chuyên
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 12
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
môn về phẫu thuật thẩm mỹ. Như vậy, nếu có nhầm lẫn như Tòa án đã nhận định thì đây là
nhầm lẫn về chủ thể giao kết hợp đồng.
BLDS chỉ đề cập đến nhầm lẫn về “nội dung” của hợp đồng còn vụ việc vừa rồi dường như
có nhầm lẫn về chủ thể. Mặc dù vậy, Tòa án vẫn cho tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Xét về
góc độ văn bản thì Tòa án đã thiếu cơ sở pháp lý.
Trong vụ việc sau đây, dường như hợp đồng đã được giao kết và một bên đã nhầm lẫn về
chủ thể của hợp đồng.
Cụ thể, bà Lê Thị Hoà và ông Hoàng Hiếu Dân đã ly hôn ngày 11/5/2001, nhưng tại giấy
vay ngày 18/1/2003 do ông Hoàng Hiếu Dân lập, xác định ông có vay bà Oanh 30 lượng
vàng; phía dưới dòng chữ “Người vay” ông Dân ký tên và ghi rõ họ tên, phía bên phải giấy
này có chữ ký bà Lê Thị Hòa.
Theo Tòa án, “không đủ cơ sở xác định bà Lê Thị Hòa là người vay ( ). Tuy nhiên, bà
Oanh nêu bà chỉ đồng ý cho hai vợ chồng vay chứ không cho ông Dân vay, vì ông Hoàng
Hiếu Dân và bà Lê Thị Hòa muốn giấu tình trạng hôn nhân giữa hai người nên bà Hòa dù
không vay nợ nhưng vẫn ký thì bà cũng có một phần lỗi làm bà Oanh nhầm tưởng mà cho
vay, nên đây là giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn và phải tuyên bố giao dịch này vô
hiệu, bà Lê Thị Hòa phải có một phần trách nhiệm, cụ thể là bà Lê Thị Hòa phải trả ½ số
nợ là phù hợp”. Ở đây, Tòa án đã áp dụng “Điều 131; Điều 137 BLDS”10 năm 2005, tức
các quy định về nhầm lẫn trong BLDS.
Trong vụ việc vừa nêu, Tòa án cho rằng có nhầm lẫn và tuyên bố vô hiệu hợp đồng, nhưng

100 USD, hẹn đến ngày 22/9/2005 tiến hành lập hợp đồng. Đúng hẹn ngày
22/9/2005, ông Trăng đến ký hợp đồng với ông, ông có nhắc lại một lần nữa là nhà
không thể ra công chứng, nhưng ông Trăng trả lời không sao, miễn sao ông cung
cấp giấy tờ nhà cho ông Trăng thì ông Trăng ra công chứng được. Ông đã cung cấp
đầy đủ giấy tờ nhà và giao chìa khoá nhà cho ông Trăng coi như hợp đồng có hiệu
lực”. Nếu thông tin này là chính xác thì không có nhầm lẫn vì ông Trăng đã biết sự
việc. Có lẽ, Tòa án đã “tùy tiện” xác định có nhầm lẫn là do BLDS cho phép tuyên
bố hợp đồng vô hiệu nhưng không định nghĩa khái niệm này.
Tương tự như vậy, trong vụ việc sau đây, Tòa án đã xác định có nhầm lẫn nhưng chúng ta
không biết nhầm lẫn thể hiện như thế nào.
Cụ thể, căn nhà 85/10 Bình Tây, phường 1, quận 6 có nguồn gốc tạo lập của ông Huỳnh
Điền (chết năm 1981) và bà Lê Thị Kiêm (chết năm 1977). Ông Điền, bà Kiêm có 08
người con chung: bà Lê Thị Hai, ông Huỳnh Hà (chết, không vợ, con), ông Huỳnh Tô, bà
Huỳnh Ngọc Lan, ông Lê Văn Hùng, ông Huỳnh Minh Lý, ông Huỳnh Hưng Luân và ông
Huỳnh Hưng Thuận. Năm 2001, ông Huỳnh Tô làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với một phần diện tích di sản là 43,6m2.
Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 193/2002 ngày
26/6/2002 do Uỷ ban nhân dân quận 6 cấp, chủ sở hữu là ông Điền và bà Kiêm – do ông
Hùng đại diện khai trình. Ngày 27/7/2004, bà Lê Thị Hai, ông Huỳnh Minh Lý và ông
Huỳnh Hưng Thuận lập giấy ưng thuận (có xác nhận chữ ký của Ủy ban nhân dân phường
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 14
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
1, quận 6) cho ông Hùng đại diện được quyền bán, tặng cho căn nhà 85/10 Bình Tây,
phường 1, quận 6. Ngày 19/8/2004, ông Hùng lập hợp đồng tặng cho căn nhà 85/10 Bình
Tây, phường 1, quận 6 cho ông Huỳnh Tô, hợp đồng được chứng thực tại Phòng Công
chứng số 2 thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, ông Tô đem bản chính giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thế chấp để vay tiền. Khi có tranh chấp, Tòa án đã xét
“theo lời khai của bà Hai, ông Hùng, ông Lý, ông Thuận phù hợp với lời khai của bị đơn
(bút lục 95) là bị đơn (ông Huỳnh Tô) đề nghị ký hợp đồng tặng cho để dễ dàng thực hiện
việc vay tiền Ngân hàng, do vậy cấp sơ thẩm xác định người ký hợp đồng cho tặng bị

dụng các quy định về lừa dối đối với nhầm lẫn do lỗi cố ý của một bên.
Lưu ý là Cộng hòa Pháp đang sửa đổi BLDS về phần hợp đồng và hiện nay họ đã có một
dự thảo sửa đổi. Ở đây họ cũng không quan tâm đến nguyên nhân của sự nhầm lẫn. Do
vậy, chúng ta hoàn toàn có thể theo hướng này.
Thứ hai là, ngoài hai nguyên nhân làm cho một bên nhầm lẫn
như BLDS hiện nay, chúng ta bổ sung thêm một nguyên nhân
nữa. Đó là một bên nhầm lẫn về một vấn đề mà bên kia cũng bị
nhầm lẫn: cả hai cùng nhầm lẫn. Với hướng đi này thì sau đoạn
1 của Điều 131, theo đó, “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên
kia nhầm lẫn ” chúng ta có thể thêm một đoạn nữa là các quy
định trên cũng được áp dụng đối với trường hợp “cả hai bên
cùng nhầm lẫn”.
Lưu ý là hướng xử lý như trên đã được thể hiện trong Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng.
Ở đây, Điều 4:103 đã cho phép một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu (nếu các điều
kiện khác hội đủ) khi:
(i) nhầm lẫn được gây ra do thông tin của bên kia cung cấp;
(ii) bên kia biết hoặc phải biết có nhầm lẫn nhưng đã để cho nạn nhân nhầm lẫn trái
với nguyên tắc thiện chí;
(iii) hoặc bên kia cũng có cùng nhầm lẫn.
Có thể có ý kiến cho rằng, không cần sửa đổi BLDS mà chỉ cần “mở rộng” khái niệm
nhầm lẫn “do lỗi vô ý” đối với trường hợp cả hai cùng nhầm lẫn, nên coi trường hợp cả hai
cùng nhầm lẫn là một trường một bên nhầm lẫn “do lỗi vô ý” của bên kia. Hướng đi này
dường như không ổn vì việc xác định một bên có lỗi kéo theo hậu quả liên quan đến bồi
thường thiệt hại. Do vậy, với cách “giải thích thông thoáng” khái niệm “lỗi” chúng ta có
thể dẫn đến hậu quả là buộc một bên ngay tình phải chịu bồi thường thiệt hại. Trong trường
hợp này, để bảo vệ bên ngay tình nếu vẫn xác định có “lỗi” để cho phép tuyên bố hợp đồng
vô hiệu, chúng ta có thể quyết định bên “có lỗi” đó không phải bồi thường. Tuy nhiên, với
cách xử lý này, chúng ta lại mâu thuẫn với quy định tại Điều 137, BLDS về “hậu quả pháp
lý của giao dịch dân sự vô hiệu” theo đó “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
2. Kiến nghị cách sửa đổi về đối tượng của sự nhầm lẫn

bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng và “sự thật” về nội dung này phải được xác định
tại thời điểm “xác lập giao dịch”. Tại thời điểm này, chúng ta phải biết cụ thể “nhận thức”
của bên cho rằng đã nhầm lẫn là gì và “sự thực” về nội dung của hợp đồng tại thời điểm
này như thế nào. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không được sử dụng
những thông tin nảy sinh sau thời điểm này. Trong thực tế, chúng ta thường cần phải khai
thác những thông tin phát hiện sau để biết có nhầm lẫn hay không, nhất là để biết “sự thật”
Khoa Quản trị kinh doanh- Trường Đại học mở Tp. HCM 17
Luật kinh doanh GVHD: Ths Châu Quốc An
như thế nào. Trong ví dụ mua xe Dream chẳng hạn, xe là đối tượng của vụ án hình sự và sự
thật này tồn tại ở thời điểm giao kết hợp đồng nhưng chúng ta chỉ biết xe là đối tượng vụ án
hình sự sau khi hợp đồng được giao kết, tức là khi Công an dừng xe và thông báo về chiếc
xe.
Nhận thức của một người đối với một sự việc có thể thay đổi theo thời gian nên thời điểm
nhận thức của họ cần được xác định một cách chính xác. Như đã nói ở trên, phải xác định
nhận thức này vào thời điểm giao kết hợp đồng. Để hiểu rõ hơn, xin dẫn một ví dụ. Giả sử,
A bán cho B một bức tranh. Khi bán, A chắc chắn rằng bức tranh này không phải của tác
giả C (vì cho rằng đây là của tác giả D). Nhưng sau này, chuyên gia cho rằng đây có thể là
tác phẩm của tác giả nổi tiếng C. Ở đây có sự khác nhau giữa nhận thức của A và thực tế
của bức tranh nên có thể được coi là có nhầm lẫn. Thêm vào ví dụ tình tiết sau: trước khi
bán một thời gian, A đã từng nghĩ rằng tác phẩm đó là của C, nhưng lúc muốn bán để chắc
chắn hơn, A đã mời chuyên gia về đánh giá và chuyên gia này khẳng định tác phẩm không
phải là của C. Do đó, khi bán A nghĩ rằng đây không là tác phẩm của C và quyết định đem
bán. Như vậy, trước khi bán, A nhận thức về tài sản khác với thời điểm giao kết hợp đồng.
Ở đây, chúng ta phải đánh giá nhận thức của bên nhầm lẫn vào thời điểm giao kết.
Vẫn liên quan đến đánh giá “nhận thức” của bên bị coi là có nhầm lẫn, lưu ý thêm là việc
đánh giá này thực chất rất khó vì “nhận thức” là vấn đề nội tâm. Nếu các bên nêu rõ “nhận
thức” này trong hợp đồng thì chúng ta chỉ việc căn cứ vào hợp đồng để biết được nhận thức
của các bên. Tuy nhiên, có những trường hợp nhận thức này không nói rõ trong hợp đồng.
Chẳng hạn, khi mua chiếc xe máy thì người mua không nêu rõ trong hợp đồng là chiếc xe
này không là đối tượng của vụ cướp. Do vậy, trong những trường hợp đó, chúng ta nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status