Luận văn
Nâng cao hiệu quả Thanh toán
quốc tế bằng phương thức tín
dụng chứng từ tại NH ACB
1
Lời mở đầu
******
Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế gắn liền với các hoạt động kinh tế – xã
hội, thị trường ngày càng mở rộng và phát triển trong mối quan hệ kinh tế và khu
vực, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương.Vì thế quan hệ
mua bán hàng hóa quốc tế cũng không ngừng phát triển, kéo theo sự xuất hiện của
nhiều phương thức thanh toán quốc tế, trong đó phải kể đến là thanh toán bằng tín
dụng chứng từ.
Trong những năm qua, hoạt động thanh toán bằng tín dung chứng từ của các ngân
hàng thương mại Việt Nam đã có nhi ều đổi mới, từng bước gắn với yêu cầu hội
nhập quốc tế. Tuy nhiên, dù có tính ưu việt nhưng thanh toán bằng tín dụng chứng
từ vẫn còn tồn tại những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia giao dịch
tín dụng chứng từ do pháp luật quy định chưa rõ ràng, không có kiến thức sâu khi
tham gia và áp dụng không đồng bộ thông lệ quốc tế, pháp luật quốc gia.
Với hơn 15 năm có mặt trên thị trường, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
(ACB) đã trở nên gần gủi, gắn kết với khách hàng bằng chiến lược sản phẩm dịch
vụ đa dạng, phong phú và chất lượng phục vụ cao. Trong đó, cũng cần kể đến dịch
vụ thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ.
Xuất phát từ nhu cầu thanh toán quốc tế, luận văn : “ Nâng cao hiệu quả Thanh
toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á
Châu ” sẽ đi sâu vào nghiên cứu t
ổng quan và thực tiễn về phương thức thanh toán
Kết cấu luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
bao gồm ba chương :
- Chương 1 : Tổng quan về Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ.
- Chương 2 : Thực trạng hoạt động Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
- Chương 3 : Nâng cao hiệu quả Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
3
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG
THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1. Khái quát về Thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ (D/C)
1.1.1.Khái niệm về Thanh toán quốc tế và phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ :
1.1.1.1.Khái niệm về Thanh toán quốc tế:
Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh v ực như kinh tế,
chính trị, ngoại giao, văn hóa,…trong đó quan hệ kinh tế (chủ yếu là ngoại
thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và
phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến nhu cầu chi trả,
thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế, trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian
giữa các bên.
Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa v ụ chi trả và
quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh
tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa
một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các
nước liên quan.
600 :”Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ là giao dịch riêng biệt
với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng
chứng từ. Các ngân hàng không liên quan hay bị ràng buộc ngay cả khi thư tín
dụng có dẫn chiếu đến h
ợp đồng đó.”
+ Phương thức thanh toán tín dụng chứn từ là một kiểu mua bán chứng từ
: điều 5 UCP 600 : “các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không
bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên
quan.”.Như vậy ngân hàng có nghĩa v ụ thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ
xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản,
điều kiện của thư tín dụng, ngân hàng không được phép lấy lý do là ngư ời mua
không nhận được hàng mà từ chối thanh toán nếu chứng từ người xuất khẩu phù
5
hợp với điều khoản, điều kiện của thư tín dụng.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của thư tín dụng (L/C) :
Thư tín dụng là văn bản do ngân hàng lập ra, là căn cứ pháp lý để ngân hàng
quyết định việc thanh toán, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu/ bộ chứng từ, là
cơ sở để người thụ hưởng lập bộ chứng từ đòi tiền ngân hàng. Vì vậy, thư tín
dụng (L/C) là một văn bản pháp lí quan trọng đối với hình thức thanh toán
bằng tín dụng chứng từ D/C. Thư tín dụng có một số đặc điểm cơ bản sau :
- Dựa trên sự thỏa thuận giữa ngân hàng phát hành và người mở : khi
nhận được yêu cầu từ người mở thư tín dụng, ngân hàng xem xét hợp đồng mua
bán hàng hóa giữa người mở và người thụ hưởng để quyết định việc chấp nhận
hay từ chối mở thư tín dụng theo yêu cầu của người mở thông qua các quy định
về mở L/C của ngân hàng.
Dựa trên mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng :
L/C là cam kết đơn phương của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho
người thụ hưởng. Do đó, khi phát hành L/C thì có giá trị ràng buộc ngân hàng
phát hành. Người bán sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ và gửi đến ngân hàng
khác của các bên tham gia. Nếu như L/C có thể hủy ngang nói lên khả năng đơn
phương hủy bỏ L/C đang còn hiệu lực không cần sự đồng ý của các bên thì L/C
không hủy ngang không cho phép bên nào đơn phương hủy bỏ hay sửa đổi. Đây
là loại hình đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng nên được sử dụng rất rộng
rãi trên thế giới.
- L/C không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable LC) : là loại
L/C không thể hủy bỏ, được ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo
yêu cầu của ngân hàng phát hành, người bán có thể ký phát hối phiếu đòi tiền
ngân hàng xác nhận. Quyền lợi của người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn
vì cả ngân hàng phát hành và xác nhận đều cam kết thanh toán khi bộ chứng từ
xuất trình phù hợp với điều kiện, điều khoản của L/C.
- L/C không thể hủy ngang không có xác nhận (UnConfirmed Irrevocable
L/C): là loại L/C không thể hủy bỏ, được thông báo qua ngân hàng khác và
không có sự cam kết nào về phía ngân hàng phát hành.
- L/C không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C) là
7
loại L/C mà sau khi người hưởng lợi đã đư ợc trả tiền thì ngân hàng phát hành
không có quyền được đòi tiền người hưởng lợi trong bất cứ trường hợp nào.
- L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): là L/C không hủy ngang, trong đó
người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực
hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi
thứ hai.
- L/C giáp lưng (Back to back L/C): là loại L/C mà sau khi nhận được L/C do
người mở mở cho mình, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng
đúng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội
dung gần giống như nội dung ban đầu. L/C giáp lưng là một L/C biệt lập được
mở trên cơ sở của L/C gốc còn gọi là L/C thứ hai trên cơ sở L/C thứ nhất. L/C
giáp lưng cũng đư ợc dùng trong mua bán trung gian như L/C chuyển nhượng.
Điều khác nhau giữa L/C giáp lưng và L/C chuyển nhượng là ngân hàng phát
có hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường
phải ghi ‘L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng
với nó để cho người mở L/C này hưởng” và L/C đối ứng phải ghi “ L/C này đối
ứng với L/C số…mở ngày tại ngân hàng…” và thông báo cho người hưởng lợi
biết. Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khoản thanh toán. L/C này được sử
dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu, khi cả hai bên
đều là người mua người bán của nhau.
- L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C): là loại L/C mà ngân hàng phát hành
cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng
hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo đúng L/C đã m ở. Khoản ứ
ng
trước này sẽ được khấu trừ vào tiền thanh toán bộ chứng từ.
Căn cứ vào thời điểm thanh toán L/C được phân loại như sau :
- L/C trả chậm (Acceptance/Deffered Payment L/C ): là loại L/C không thể
hủy ngang, trong đó ngân hàng phát hành hay ngân hàng xác nhận L/C cam kết
với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền của L/C tại một hay những
thời điểm xác định trong tương lai, những thời điểm này được xác định cụ thể
trong L/C.
- L/C trả ngay (At sight Payment L/C) : người thụ hưởng sẽ nhận được khoản
9
thanh toán ngay khi họ xuất trình chứng từ phù hợp với điều khoản, điều kiện
của L/C.
1.1.4. Nội dung chủ yếu của L/C:
- Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C :
+ Số hiệu (L/C Number) :mỗi L/C đều có số hiệu riêng do ngân hàng phát
hành cấp, để các bên tham gia trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến L/C nhằm
tạo thuận lợi trong trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan.
+ Địa điểm mở L/C (Place of issue) : là nơi mà ngân hàng mở L/C cam kết
trả tiền cho người thụ hưởng và có ý nghĩa quan tr ọng trong việc lựa chọn luật
trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng vào ngày giao hàng.
- Mô tả hàng hóa (Description of goods) : tên hàng hóa, số lượng, trọng
lượng, quy cách phẩm chất, giá cả, bao bì, kí hiệu cũng được quy định cụ thể
trong L/C.
- Vận tải giao nhận hàng hóa : các điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF,
C&F…) nơi gửi hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng cũng được quy định cụ thể
trong L/C.
- Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents) : đây
là nội dung then chốt chứng minh rằng người xuất khẩu đã hoàn thành đầy đủ nghĩa
vụ giao hàng và làm theo đúng như điều kiện của L/C. Đó là căn cứ quan trọng để
yêu cầu ngân hàng mở L/C thanh toán tiền hàng. Do đó, yêu cầu khắt khe của việc
thực hiện thanh toán bằng phương thức này là sự phù hợp hoàn toàn của các chứng
từ với tất cả các điều kiện của L/C. Chứng từ phải thỏa 3 yêu cầu : số loại, lượng
chứng từ và yêu cầu về việc ký phát chứng từ đó như thế nào. Thông thường bộ
chứ
ng từ bao gồm :
+ Hối phiếu (Drafts)
+ Hóa đơn (Invoice)
+ Chứng từ vận tải (Transport documents)
+ Hợp đồng bảo hiểm (Insurance Document)
+ Chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin)
+ Bản khai đóng gói hàng (Packing List)
+ Giấy chứng nhận số lượng/trọng lượng (Certificate of Weight/Quantity)
11
+ Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate of Quality)
+ Giấy chứng nhận phân tích…(Certificate of Anlysis)
Và một số chứng từ khác do hai bên người mở và người thụ hưởng quy
định như :chứng nhận giao hàng, chứng nhận chuyển giao chứng từ,…
- Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C : là điều khoản ràng buộc trách
7
8
L/C
9
6
4
10
11
2
Nhà nhập khẩu
Nhà xuất khẩu
5
1
12
1. Nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu ký kết hợp đồng ngoại thương.
2. Nhà nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng phát hành mở L/C cho
người thụ hưởng.
3. Ngân hàng phát hành L/C mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và
chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
4. Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu.
5. Dựa vào nội dung L/C, nhà xuất khẩu giao hàng cho nhà nhập khẩu.
6. Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán gửi ngân
hàng thông báo để được thanh toán.
7. Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng
phát hành kiểm tra và trả tiền.
8. Ngân hàng phát hành L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu phù hợp thì trích
tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho nhà xuất khẩu.
khoảng cách địa lý do đó thanh toán bằng L/C là đáng tin cậy do có sự tham gia
của các ngân hàng : khi nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ xem như hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng, còn người mua nhận bộ chứng từ có thể nhận được hàng.
- Việc thanh toán bằng tín dụng chứng từ trong đó ngân hàng phát hành L/C
là người thanh toán cho người thụ hưởng : khi mở L/C thì ngân hàng phát hành
cam kết sẽ thanh toán cho người thụ hưởng khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp cho
dù người mở L/C có thanh toán hay không. Do đó, ngân hàng mở L/C phải đánh
giá năng lực, khả năng tài chính của người mở L/C và các điều kiện khác có liên
quan.
1.1.6. Luật áp dụng khi thanh toán bằng tín dụng chứng từ:
1.1.6.1. Theo thông lệ và tậ
p quán quốc tế :
Khi thanh toán bằng tín dụng chứng từ, các chủ thể tham gia phải tuân thủ
các quy định pháp lý của quốc gia mà còn phải tuân thủ các quy định pháp lý, các
hiệp ước, hiệp định quốc tế, thông lệ của các nước. Tuy nhiên chính điều này lại
gây khó khăn cho giao dịch thanh toán vì mỗi quốc gia có quy định luật pháp riêng.
Do đó, cần có những quy định mang tính thống nhất cho các quốc gia để thực hiện
thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ. Hiện nay chưa có các điều ước quốc tế
14
nào trực tiếp điều chỉnh vấn đề thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Nhưng do nhu
cầu phát sinh thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ càng được mở rộng nên
bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của phòng thương mại quốc
tế ra đời gọi tắt là UCP (The Uniform customer and pratice for documentary
credits, ICC).
- UCP là tập quán quốc tế thống nhất điều chỉnh về tín dụng chứng từ, được ấn
thành bởi Trung tâm hợp tác quốc tế ICC (The international Cooperation Center) .
UCP đã qua 6 lần sửa đổi vào các năm 1951,1962,1974,1983,1993, và 2006 để theo
kịp sự phát triển chung của nền kinh tế. Với số xuất bản UCP 500 (năm 1993) là
bản sửa đổi tương đối hoàn chỉnh bao gồm 49 điều và chia ra làm 7 phần và gồm 2
-URR725 : (Uniform Rules for Bank Reimbursement under Documentary Credit ) :
quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng theo L/C của ICC năm 1996.
-ISP 98 : (International Stanby Practices) : quy tắc thực hành L/C dự phòng do ICC
ban hành, cung cấp các quy tắc về thực hành nghiệp vụ ngân hàng tiêu chuẩn đối
với L/C và các cam kết độc lập có liên quan như L/C dự phòng.
- Incoterms 2010 có hiệu lực ngày 1/1/2011, các điều kiện bảo hiểm ICC Clause
1982, quy định về cấm vận của Mỹ.
Có thể nói, mức độ vận dụng các quy tắc thông nhất quốc tế như thế nào còn tùy
thuộc vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
1.1.6.2. Luật quốc gia điều chỉnh quan hệ thanh toán bằng tín dụng chứng từ :
Ở Việt Nam, đây là nguồn pháp luật cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ. Chẳng hạn như : Luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Luật các tổ
chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004), Nghị định 64/2001/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 20/9/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán, Quyết định 226/2002/QĐ-NHNN của NHNN ngày 20/3/2002
ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán, Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005, Pháp lệnh ngoại hối 2006, Quyết
định của Thống đốc NHNN số 1325/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế
chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 về việc ban hành quy chế mở
16
thư tín dụng hàng nhập trả chậm,…
Tóm lại, xét theo nghĩa r ộng, pháp luật về thanh toán tín dụng chứng từ gồm có
pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là các thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế
về thanh toán bằng tín dụng chứng từ
1.1.7. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia :
1.1.7.1. Người mở (APPLICANT) : theo Điều 2 của UCP 600: “Bên mà theo yêu
cầu của bên đó, L/C được phát hành”: là người mở L/C / người mua / nhà nhập
1.1.7.4. Ngân hàng thông báo (ADVISING BANK): theo Điều 2 của UCP 600
:”ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thông báo tín dụng theo yêu cầu
của ngân hàng phát hành”. Vì vậy, ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân
hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo
thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước của nhà
xuất khẩu .
-Khi nhận được L/C từ ngân hàng phát hành gửi đến, ngân hàng thông báo chỉ
thông báo L/C cho người thụ hưởng và thu phí thông báo mà không có cam kết gì.
1.1.7.5. Ngân hàng xác nhận (CONFIRMING BANK) : theo Điều 2 UCP 600 “ là
ngân hàng, theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành, thực
hiện xác nhận của mình đ ối với một tín dụng” được ngân hàng phát hành yêu cầu
đứng ra xác nhận L/C trong trường hợp nhà xuất khẩu muốn có sự đảm bảo chắc
chắn của L/C.
-Ngân hàng xác nhận được ngân hàng phát hành ủy quyền thanh toán thay mình số
tiền trong L/C cho người thụ hưởng, để đảm bảo số tiền thanh toán, ngân hàng xác
nhận có thể yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ 100% giá trị tín dụng và hưởng
phí xác nhận.
1.1.7.6. Ngân hàng được chỉ định (NOMINATED BANK) :theo Điều 2 UCP 600
“ngân hàng chỉ định là ngân hàng mà tín dụng có giá trị thanh toán hoặc bất cứ
ngân hàng nào trong trường hợp tín dụng có giá trị thanh toán đối với bất cứ ngân
hàng nào”là ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng nào đó được ngân hàng phát hành
ủy nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với những quy định
trong L/C thì thanh toán cho ngư ời thụ hưở
ng, chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối
phiếu hoặc bộ chứng từ, hoặc cam kết trả chậm L/C.
18
- Ngân hàng được chỉ định có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ của nhà xuất khẩu
như ngân hàng phát hành.
1.1.8. Ưu - nhược điểm của thanh toán bằng tín dụng chứng từ so với các
• Người bán có thể đề nghị ngân hàng phục vụ mình chiết khấu L/C hoặc tài
trợ để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng.
- Đối với ngân hàng phát hành :
• Ngân hàng thu được các khoản phí, và thu hút khoản tiền ký quỹ (nếu có)
và thực hiện các sản phẩm khác liên quan đến giao dịch thanh toán bằng L/C
này : tài trợ, chiết khấu, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ
• Ngân hàng mở rộng uy tín và vai trò của mình trên thị trường thế giới.
1.1.8.2. Nhược điểm :
- Thanh toán bằng tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán an toàn và hiệu quả
nhất so với các phương thức thanh toán quốc tế khác. Tuy nhiên, vẫn còn một số
nhược điểm như sau :
Quy trình thanh toán tỷ mỷ, các bên tiến hành phải thực hiện thận trọng
nhiều khâu như lập bộ chứng từ, kiểm tra chứng từ nên thời gian từ khi
mở L/C đến thanh toán và hoàn tất tương đối dài.
Chỉ cần có sai sót trong khâu lập, kiểm tra chứng từ là có thể dẫn đến
việc từ chối bộ chứng từ
Chi phí mở và thanh toán bằng tín dụng chứng từ cao
Tóm lại, thư tín dụng là công cụ giúp nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu thực
hiện nghiêm chỉnh hợp đồng đã ký kết và nhà nhập khẩu kiểm soát thông qua các
chứng từ liên quan đối với việc nhận hàng hóa, chất lượng hàng hóa, đối với
những giao dịch mà người mua và người bán chưa có sự tin tưởng lẫn nhau thì cam
kết của ngân hàng là đảm bảo hợp đồng được thực hiện, củng cố khả năng của
người mua, tạo niềm tin cho người bán. Đây là đặc điểm ưu việt hơn hẳn của thanh
toán bằng tín dụng chứng từ so với các phương thức thanh toán quốc tế khác.
Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh
vực ngân hàng. Đó là hình th ức thanh toán linh hoạt, đảm bảo tính an toàn cho các
giao dịch thương mại quốc tế và đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương
20
mại quốc tế. Thứ nhất, do các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những
Bảng 1.1. So sánh các Phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức
TTQT
Rủi ro
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
Ngân hàng
Chuyển tiền trước
khi giao hàng
An toàn
Rủi ro không nhận
được hàng
Không rủi ro
Chuyển tiền sau
khi giao hàng
Rủi ro không nhận
được thanh toán
An toàn
Không rủi ro
Giao chứng từ trả
tiền
Bị từ chối thanh
toán
Rủi ro hàng không
đúng chất lượng
Không rủi ro
Nhờ thu trả ngay
Bị từ chối bộ chứng
từ và thanh toán
Chưa nhận hàng đã
thanh toán quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Do đó, các ngân hàng
thường đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế thông qua các chỉ tiêu :
- Tỉ lệ tăng trưởng hàng năm về doanh số của hoạt động thanh toán quốc tế : phản
22
ánh một phần hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế.
- Doanh thu từ hoạt động thanh toán quốc tế : khi thực hiện thanh toán quốc tế,
ngân hàng sẽ thu được một khoản phí nhất định theo biểu phí dịch vụ của ngân
hàng. Phí thu được càng cao thì hiệu quả hoạt động của thanh toán quốc tế càng
lớn, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng.
- Gia tăng công nghệ : là chỉ tiêu tương đối quan trọng, là cơ sở để phát triển sản
phẩm dịch vụ mới, tiện ích, đẩy nhanh tốc độ xử lý thanh toán quốc tế. Công nghệ
hiện đại sẽ giúp quá trình thanh toán quốc tế nhanh, chính xác, an toàn, tăng hiệu
quả quản lý, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Mức độ đa dạng sản phẩm hoạt động thanh toán quốc tế : số lượng các nghiệp vụ
thanh toán quốc tế, số lượng sản phẩm dịch vụ trong từng nghiệp vụ cụ thể, đáp
ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, tăng thêm thu nhập của ngân hàng
qua thu các phí dịch vụ, phí thanh toán.
- Tỷ trọng của từng phương thức thanh toán quốc tế : sẽ giúp nhận biết được trong
toàn bộ các phương thức thanh toán thì phương th ức nào khách hàng quan tâm
nhiều nhất, sử dụng nhiều nhất. Từ đó, ngân hàng có thể đưa ra các tư vấn hợp lí
cho khách hàng khi lựa chọn phương thức thanh toán cho giao dịch của mình.
- Chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế : như đánh giá chất lượng sản phẩm
dịch vụ thanh toán quốc tế, mức độ sai sót, mức độ áp dụng các chuẩn mực, thông
lệ quốc t
ế, quy trình, thủ tục, mức độ rủi ro trong thanh toán quốc tế.
1.2.2.Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng
từ:
- Tỉ lệ tăng trưởng hàng năm về doanh số của hoạt động thanh toán bằng tín dụng
chứng từ : phản ánh một phần hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế.
thanh toán.
Tóm lại, các ngân hàng cần có những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động thanh
toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ nói riêng.
Từ đó, các ngân hàng sẽ có hướng hoạch định chính sách thích hợp để phát triển
thanh toán quốc tế tại ngân hàng.
1.2.3. Rủi ro đối với các bên tham gia thanh toán tín dụng chứng từ :
Rủi ro là sự không chắc chắn về các kết quả trong tương lai, không ai biết
24
“điều gì có thể xảy ra, xảy ra như thế nào và nó ảnh hưởng đến hoạt động của một
doanh nghiệp như thế nào”. Trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ tuy
ưu việt hơn các phương thức thanh toán khác nhưng cũng ti ềm ẩn những rủi ro đối
với các chủ thể tham gia, cụ thể như sau :
1.2.3.1. Đối với nhà nhập khẩu :
Thanh toán bằng tín dụng chứng từ chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà
không dựa trên hàng hóa, do đó sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà nhập
khẩu về hàng hóa được giao nhưng nhà nhập khẩu vẫn phải trả tiền.
Khi có những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa người mua và
người bán thì ngư ời mua phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi L/C tại ngân
hàng phát hành, do đó làm kéo dài thời gian giao dịch, tăng chi phí.
Ngân hàng xác nhận hoặc một ngân hàng chỉ định khác có thể mắc sai lầm
khi đã thanh toán cho bộ chứng từ có bất hợp lệ và có ghi nợ ngân hàng phát
hành làm cho nhà nhập khẩu có thể không nhận được hàng vì chứng từ
không phù hợp.
Người mua chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng cập cảng vì vậy
để nhận hàng thì ngư ời mua phải ký quỹ bổ sung và trả phí cho ngân hàng
bảo lãnh đi nhận hàng.Theo thực tế, khi ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa
bằng đường biển, nhà nhập khẩu phải có vận đơn đường biển để đi nhận
hàng, thông thường, bộ vận đơn gốc gồm 3 bản có giá trị ngang nhau.Nếu
không quy định bộ chứng từ vận đơn đầy đủ thì một người khác có thể lấy