1 Luận văn: "Vai trò điều tiết vĩ mô nền
kinh tế thị trường của ngân sách nhà nước"
Kết luận 43
Tài liệu tham khảo 46 3 LỜI NÓI ĐẦU
Những biến động về kinh tế của khu vực trong những năm cuối của
thế kỉ 20 đã tác đông mạnh mẽ tới nhận thức kinh tế cũng như sự phát triển
kinh tế của Việt nam. Trải qua một thời gian phát triển kinh tế một cách
mạnh mẽ các nước Đông nam á vừa mới trải qua một cuộckhủng hoảng
tiền tệ lớn mà điểm suất phát là Thái lan. Do sự quyết định thả nổi “đồng
bạt” của Chính phủ thái lan. Điều đó đã tácđộng trực tiếp tới nền kinh tế của
Thái lan mà còn lan rộng ra các nước trong khu vực. Nó đã chứng minh một
cách mạnh mẽ các tác động vĩ mô của Chính phủ tới nền kinh tế như thế
nào. Qua kinh nghiệm của các nước đi trước ta thấy vai trò điều tiết vĩ mô
nền kinh tế thị trườnglà rất to lớn. Chính phủ thông qua ngân sách nhà nước
để thực hiện điều tiết vĩ mô qua hoạt động thu chi ngân sách. Vậy vấn đề
cấp bách đặt ra là nhà nước ta cần phải xem xét sác định một cách đúng đắn
tiền ảnh hưởng tới lạm phát, việc làm và tăng trưởng kinh tế. Với kế hoạch
chi tiêu của mình nhà nước còn làm ảnh hưởng tới thu nhập và hành vi tiêu
dùng của dân cư và doanh nghiệp.
Thông qua đó thực hiện các chính sách vĩ mô như chính sách kích
cầu,chính sách khuyến khích sản suất xuất khẩu. Bằng các biện pháp phân
tích tổng hợp các vấn đề lí luận và thực tiển và từ đó chứng minh được vai
trò to lớn điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường của ngân sách nhà nước.
5
TRONG PHẠM VI ĐỀ TÀI EM XIN ĐƯỢC CHIA L
ÀM BA
CHƯƠNG CHÍNH
Chương một
Tổng quan về ngân sách nhà nước và những tác động vĩ mô nền kinh
tế thị trường của ngân sách nhà nước.
Chương hai
Thực trạng về vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế trong những năm trước.
Chương ba
Giải pháp để nâng cao vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế
thị trường
hệ thống tài chính quốc gia nó chi phối các tổ chức doanh nghiệp, tổ chức
đối ngoại, tổ chức xã hội đưa ra các thể lệ, chính sách cho các hoạt động tài
chính.
Hoạt động của ngân sách nhà nước luôn luôn ngắn liền với nhiệm vụ,
với chức năng của nhà nước mục tiêu hoạt động của ngân sách nhà nước
thông phải là lợi nhuận mà hoạt động cơ bản của nó nhằm vào các mục tiêu
có tính chất vĩ mô như vấn đề việc làm, lạm phát, tạo lập sự công bằng ổn
định môi trương trong nền kinh tế
Ngân sách nhà nước là một nguồn lực tài chính để giúp cho nhà nước
thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của mình đối với nền kinh tế, cụ
thể trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước có vai trò
trong việc điều tiết vĩ nền kinh tế xã hội. Đó là vai trò định hướng phát triển
sản suất, điều tiết thị trưòng bình ổn giá cả, điều tiết đời sống xã hội để
thực hiện được các vai trò đó, ngân sách nhà nước phải có các nguồn vốn
được tập chung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp.
ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và
chi cho đầu tư phát triển. Việc cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho các
mục đích khác nhau này sẻ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn.
*Thu ngân sách nhà nước : 7
Thu ngân sách nhà nước là các quan hệ kinh tế giữa một bên là nhà
nước, một bên là các tổ chức xã hội.hay các quá trình tạo ra quỹ ngân sách
nhà nước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu do thu nhập quốc
dân hay viện trợ, vay từ nước ngoài trong đó thuế là yếu tố chính quyết định
thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó còn có phí và lệ phí, các khoản thu từ
lợi tức đầu tư của nhà nước, thu từ việc bán và cho thuê các tài sản của nhà
sách khác nhau. từ đó nghiên cứu nền kinh tế như nó đang tồn tại.
Và tìm ra phương pháp để cải thiện nó.
Những vấn đề kinh tế ví mô bao gồm: lạm phát, tăng trưởng của thu
nhập, thay đổi giá cả và tỷ lệ thất nghiệp. Các số liệu kinh tế vĩ mô phản
ánh giá trị của hoạt động kinh tế (tổng sản phẩm trong nước ), phản ánh giá
sinh hoạt ( chỉ số giá tiêu dùng ), phản ánh tình trạng thất nghiệp ( tỉ lệ thất
nghiệp )
Mặt khác các vấn đề kinh tế đó nằm trong một thể thống nhất có tác
động qua lại lẫn nhau. vì vậy vấn đề đặt ralà ta cần phải điều tiết nó như thế
nào để đem lại lợi ích cao nhất.
Ở đây nghiên cứu các vấn đề kinh tế vĩ mô và nhưng vấn đề tác động
tới nó cũng như nó tác động tới các chính sách khác
a.lạm phát và tác động vĩ mô của ngân sách nhà nứoc tới lạm phát.
Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ.Lạm phát một điều kiện làm cho
mức giá cả tiếp tục tăng lên, trở thành mối quan tâm chính của các nhà
chính trị và công chúng. Việc kiểm soát lạm phát như thế nào là vấn đề
hàng đầu trong cuộc tranh luận về chính sách kinh tế. Hiện nay vẫn còn
nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát. đứng trên góc độ tiền tệ thì ta thấy
nguồn gốc của mọi lạm phát là một tỉ lệ tăng trưởng cao của cung tiền tệ.
Đơn giản bằng cách giảm tỉ lệ tăng trưởng cung tiền tệ đến mức thấp nhất
thì có thể ngăn chặn đưọc lạm phát.
Nhưng chính sách tiền tệ, lạm phát chỉ là một bộ phận của chính sách
khác của chính phủ. Vì khi giảm tỉ lệ tăng trương của tiền tệ có nghĩa là
đang ngăn chặn tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp tăng. Điều này mâu
thuẫn với những chính sách khác của chính phủ như: nỗ lực đạt được chỉ
tiêu công ăn việc làm cao hoặc quản lý thâm hụt ngân sách lớn. Hiểu được
những chính đó đưa đến lạm phát như thế nào sẽ cho chúng ta một vài ý
nghĩ về việc làm cách nào để ngăn chặn lạm phát với giá thấp nhất phải trả
bằng thất nghiệp và tổn thất phải trả.
Ta thấy rằng quan điểm của friedmal là hoàn toàn đúng trên góc độ
kích cầu tiêu dùng, tăng cung tiền tệ, giảm thuế. Lúc này lạm phát tăng cao.
Qua một số phân tích trên đây ta đã thấy được một phần tác động vĩ
mô của ngân sách nhà nước tới kinh tế thị trường. Muốn điều chỉnh được
nền kinh tế vĩ mô ta cần phân tích một số chính sách liên quan đến ngân
sách nhà nước tác động đến nền kinh tế thị trường
*Chính sách ngân sách nhà nước :
Khi các hộ kinh doanh và hộ gia đình quá bi quan vào tương lai, chi
tiêu cho đầu tư và tiêu dùng có thể giảm mạnh, do giá cả và tiền lương 10
không thể giảm xuống đủ nhanh và đủ mạnh, nền kinh tế có thể trải qua
một thời kì suy thoái với các đặc trưng là sản suất đình trệ thất nghiệp cao.
trong bối cảnh đó nếu chính phủ theo đuổi chính sách tài chính thận trọng,
cố duy trì ngân sách cân bằng bằng cách hạn chế chi tiêu thì có thể đưa nền
kinh tế tới tình trạng khủng hoãng trầm trọng. để nhanh chóng vượt qua
khủng hoãng, hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp, chính phủ cần tăng chi tiêu để tăng
cầu hoặc khuyến khích đầu tư vào khu vực tư nhân nhằm huy động mọi
nguôn lực cho sự tăng trưởng. đó chính là tư tưởng của chính sách ổn định
kinh tế mà chính phủ cần đảm đương để luôn duy trì đưọc trạng thái toàn
dụng nhân lực
Ở việt nam do đặc thù từ nền kinh tế tập chung chuyển sang kinh tế
thị trường tình hình chi ngân sánh vẩn còn phán ánh tình trạng bao cấp nặng
nề tốc độ về chi ngân sách tăng nhanh về tuyệt đối cũng như tương đối.
trong lĩnh vực chi ngân sách 1986 chi ngân sách nhà nưiưóc chiếm tỉ lệ
trọng là 37,5% đến năm 1988 là 41,5% trung bình tăng 7,8% hàng năm.
trong vòng 5 năm trở lại đây riêng chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế tăng
gấp 8,8 lần. ở các quốc gia khác nhau đối tượng chi kinh tế của ngân sách
cũng hết sức khác nhau. tuy nhiên các hoạt động chi ngân sách này có điiểm
đối với việc phát triển nền kinh tế, thông qua việc chi phí tiêu dùng hàng
hoá công cộng chính phủ thể hiện sự điều tiết của mình trong quá trình tăng
trưởng kinh tế
Khi chi tiêu công cộng tăng lên, trên thị trường vật phẩm tiêu dùng
sẽ cần có su hướng tăng lên thông qua việc nâng cao thu nhập từ các cơ
quan thông quyền và hệ thống bảo hiểm xã hội. chính sự tăng cầu đã góp
phần hạn chế suy thoái nền kinh tế theo chu kì. trên thị trường tư liệu sảnv
suất bằng việc đầu tư sản suất hàng hoá công, trợ cấp, góp vốn hoặc trợ giá
cho các doanh nghiệp để đảm bảo danh lợi đã có thể thúc đẩy khả năng phát
triển nền kinh tế.
Bên cạnh các tác động tích cực từ việc bảo đảm hàng hoá công của
chính phủ cần hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực có thể
xảy ra. nếu chi tiêu công cộng của chính phủ quá cao sẽ dẫn đến việc tăng
giá hàng hoá thiếu hụt ngân sách và lạm phát. mặt khác việc tăng trợ cấp xã
hội có thể làm hạn chế tính năng động và giảm số cung của nền kinh tế do
thủ tiêu các tác nhân mang tính động lực
*Chính sách thuế khoá:
Vai trò điều chỉnh kinh tế của chính phủ còn được thể hiện ở việc
động viên nguồn lực vào ngân sách. cơ cấu nguồn thu từ ngân sách phụ
thuộc vào tình hình đặc điểm nền kinh tế chính trị, cơ cấu kinh tế, chính 12
sách, chi ngân sách của từng nước. Tuy nhiên các nguồn thu từ thuế ở đa số
các nước thường chiếm tỉ trọng cao trong ngân sách
Thông thường nguồn thu từ thuế chiếm 90% ngân sách. Tuy nhiên
tuỳ theo chính sách thuế mỗi nước và cơ cấu nguồn thu mà có thể có những
khác biệt. Vì vậy thuế thường trở lên là một công cụ quan trọng của chính
13
*Chính sách tài chính tiền tệ :
Nội dung của bộ phận cấu thành chính sách tài chính tiền tệ :
Chính sách tài khoá : chính sách tài khoá gắn liền với những điều
chỉnh trong các hoạt động thu và chi của chính phủ nhằm hướng nền kinh tế
tới mức sản lượng và sử dụng nhân công mong muốn. các công cụ chủ yếu
của chính sách tài khoá là : chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư của chính phủ
;các loại thuế ; chuyển khoản của chính phủ.
Chính sách tiền tệ : bao gồm việc kiểm soát mức cung tiền và lãi suất
có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, ổn định giá cả và
khuyến kích đầu tư. thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn. các công cụ chủ
yếu mà ngân hàng trung ương ở các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển thường sử dụng để điều tiết mức cung tiền bao gồm :
+ Nghiệp vụ thị trường mở, trong đó ngân hàng trung ương mua vào
hay bán ra các chứng khoán của chính phủ nhằm tác động trực tiếp tới cơ sở
tiền.
+ Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức là tỉ lệ mà các ngân hàng trung
ương bắt buộc phải giử lại làm quỹ dự trữ ở ngân hàng trung ương đối với
các khoản tiền gửi.
+ Thay đổi lãi suất chiết khấu, tức là mức lãi suất tính cho các khoản
tiền vay của ngân hàng thương mại từ ngân hàng trung ương.
Chính sách tỉ giá : việc thay đổi tỉ giá giửa trao đổi nội tệ và ngoại tệ
sẽ tác động tới mức giá tương đối giữa hàng trong nước và hàng ngoại nhập
từ đó ảnh hưởng đến khối lượng tiền trong nước.
Công cụ của chính sách ngân sách nhà nước :
Công cụ ngân sách nhà nước có vai trò định hướng và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước. Thuế
và các khoản chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước là những công cụ
bộ phận của ngân sách nhà nước có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Việc sử dụng ngân sách nhà nước với hai công cụ bộ phận quan trọng
của nó là thuế và chi tiêu đầu tư phát triển cho phép ngân sách nhà nước tác
động mạnh mẽ vào hoạt động nền kinh tế xã hội. ngân sách nhà nước là một
công cụ được nhà nước sự dụng để can thiệp vào lĩnh vực kinh tế do đó
muốn phát huy tác dụng hiểu hiệu của nó trong quản lý và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế đòi hỏi ngân sách nhà nước phải có tiềm lực về tài chính và hoạt
động lành mạnh, có hiệu quả. Vấn đề này liên quan đến cân đối ngân sách
và sử lý bội chi ngân sách nhà nước hiện nay. về mặt lý luận được đề cập
tới và trên thực tế cần phối hợp sự vận dụng đồng thời hai phương phaps cơ
bản xử lý bội chi của ngân sách đó là tăng thu, giảm chi và thực hiện vay nợ 15
trong và ngoài nước của chính phủ trong trường hợp bội chi ngân sách xuất
phát từ yêu cầu đầu tư phát triển.
2>Ảnh hưởng của bội thu, bội chi ngân sách nhà nước tới các vến đề
tăng trưởng kinh tế.
Bội chi ngân sách ảnh hưởng đến việc cung cấp tiền tệ trên thị
trường từ đó tác động tới mọi hoạt động kinh tế
Các công cụ chính sách tiền tệ, chính phủ có thể thực thi chính sách
tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt. chính phủ mỡ rộng tiền tệ thường được áp
dụng ở những nước có nhịp độ tăng trưởng thấp, nạn thất nghiệp gia tăng.
Khi thực hiện chính sách mõ rộng tiền tệ, lượng cung ứng cho nền kinh tế
quốc dân tăng lên do đó sẽ dẫn đến việc mỡ rộng tín dụng với lãi suất thấp.
điều này kích thích các nhà đầu tư và doanh nghiệp mỡ rộng đầu tư, mỡ
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. đối với việt
nam trong điều kiện thúc đẩy một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nâng cấp và phát triển cơ sở hạ tầng, tăng cường đầu tư vào các
một công cụ quan trọng đó là việc phát hành trái phiếu.muốn vậy chính phủ
phải đua công cụ thỉ trường mở vào hoạt động và tăng cường sử dụng công
cụ này. Bằng công cụ thị trường mở đã tác động đến nguồn thu ngân sách
nhà nước
Và hỗ trợ cho việc phát hành trái phiếu thuận lợi. Do đó việc vận
dụng công cụ thị trường mở đòi hỏi trước mắt không chỉ đối với tín phiếu
kho bạc mà ngay cả với tín phiếu kho bạc và các loại chứng chỉ đầu tư của
nhà nước( trái phiếu công trình ). Cần phải phát hành theo phương thức đấu
thầu thông qua hoạt động của ngân hàng ngoại thương trung ương và các
ngânhàng thương mại trong đó tăng cường vai trò của ngân hàng nhà nước
trung ương trong việc phát hành tiền để mua trái phiếu chính phủ và qua đó
thực hiện việc mua trái phiếu lại traí phiếu chính phủ với các ngân hàng
thương mại với các tổ chức kinh tế theo tín hiệu thị trường.
Qua quá trình phân tích trên ta đã biết được những tác động vĩ mô
của ngân sách nhà nước tới nền kinh tế tiền tệ đứnh trên góc độ lý luận
chung còn thực tế ở việt nam thì sao ? ngân sách nhà nước đã đáp ứng được
vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay chưa ? những mặt
nào được, những mặt nào chưa được và lý do tại sao lại chưa được sẽ được
đề cập đến trong chương 2 “thực trang jquá trình điều tiết vĩ mô của ngân
sách nhà nước “.
17
CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TIẾT
VĨ MÔ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
Thực trạng quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường của
Các nguồn thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn này tiếp tục có
những thay đổi về cơ cấu.
+Thu khu vực kinh tế quốc doanh bình quân trong các năm 1981-
1985 là 57,9% số thu ngân sách nhà nước trong khi đó bình quân trong thời
gian 1976-1980 là 48$ tăng bình quân là 9,9%.
+ Thu khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bình quân trong các năm
1981-1985 là 14,3 tổng số thu ngân sách nhà nước. Nguồn thu ngoài nước
tiếp tuc jgiảm xuống,bình quân trong thời kì 1976-1980 là 38,2% tổng số
thu ngấnách nhà nước, nhưng trong giai đoạn 1981-1985 chỉ còn 22,5%.
Về chi ngân sách nhà nước trong thời kì 1981-1985 đã thực hiện các
cơ chế chính sách sau :
+ Trợ cấp khó khăn theo tỉ lệ lương cho công nhân cviên chức nhà
nước bù giá hàng cung cấp. Trong thời kì 1981-1985 đã có mầm mống
những nhân tố không ổn định trong viêc pphát triển kinh tế cụ thể là
Bội chi ngân sách nhà nước 1985 so với 1981 tăng 17,8 lần,
bội chi tiền mặt năm 1985 vso với 1981 là 12,5 lần, chỉ số giá trị thị trường
năm 1985 tăng 110,9%. Tình trạng nói trên thể hiện rỏ nét nhất trong việc
thực hiện tăng đồng bộ giá lương, tiền dẫn đến tình trạng siêu lạm phát
trong giai đoạn tiếp theo.
-Giai đoạn 1986-1990:
Từ năm 1989 giá cả hàng hoá nói chung không còn bị kiểm soát chặt
chẽ như trước, tự để thị trường điều chỉnh. Việc chi bù giá hàng cung cấp
giảm.
Do ảnh huởng bởi những khuyết điểm trong việc thực hiện
đồng bộ giá, lương, tièn năm 1985 lên trong thời 1986-1990 đã xảy ra tình
trạng lạm phát khá nghiêm trọng tác đông lớn đến tình hình kinh tế xã hội
của đất nước.
Các năm 1986 –1988 nền kinh tế bộc lộ những dấu hiệu khủng
hoảng lạm phat tăng, sản xúât kém. Bội chi ngân sách bình quân thời 1986
–1988 là 17%-25% bội chi tiền mặt từ 20-25% so với tổng số chi. Hậu quả
đắp cho thiếu hụt 67,3% từ phát hành tiền 1,6% vay dân
Giai đoạn 1991-1995:
Do thực hiện từng bước cơ chế kinh tế nhiều thành phần đã phát
triển kinh tế ngoài quốc doanh ỏ nhiều lỉnh vực giải quyết nhiều công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Từ cuôi năm 1989, nhà nước dã thực hiện những chính sách chống
lạm phát có hiệu quả tích cực nên đã góp phần ổn đinhj kinh tế xã hội. Tỉ lệ
tăng giá hàng tháng của các năm 1990 –1991 –1992 và 6 tháng năm 1993
tương đối ổn định. Trong giai đoạn này, nhà nước thực hiện chính sách đầu
tư cho tiêu dùng xã hội. vì ở tầm quản lý vĩ mô đảng và nhà nước đã xác 20
định rỏ vị trí của chiến lược xây dựng con người trong mối quan hệ với
chiến lược phát triển kinh té xã hội và trong nghị quyết hội nghị trung ương
lần 4 của đãng đã làm rỏ thêm vai trò của chính sách văn hoá xã hội trong
việc thực hiện chiến lựơc con người do điều kiện ổn định kinh tế từ những
năm 1990 đến nay đã tạo tiền đề cho việc đầu tư tăng trưởng chi cho văn
hoá xã hội hàng năm. Từ những năm 1991 bố trí ngân sách giải quyết các
vấn đề xã hội như sắp xếp lại lao động đầu tư cho cáccchương trình giải
quyết việc làm
- Thực trạng điều tiết vĩ mô ngân sách nhà nước trong những năm
gần đây (1996-2000) tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu được xác
định trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội ở việt nam. đến
năm 2000 là một giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế mà trọng tâm là
đẩy tới một bước công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.dự kiến mức độ
tăng trưởng của gdp là 10%, phấn đấu tới năm GDP tăng từ 2,5-2,7 lần so
với năm 1990, lạm phát kiềm chế ở mức từ 10-15% một năm. Với những
mục tiêu phát triển kinh tế vĩ mô ở việt nam trong giai đoạn 1996-2000 đòi
thực hiện chủ chương ”kích cầu “ của chính phủ. do tình hình kinh tế xã
hội có những biến động : thiên tai sảy ra trên diện rộng mà ta chưa lường
hết được trong quá trình lập kế hoạch. mặt khác để điều chỉnh vĩ mô bằng
biện pháp tài chính như trợ giá hàng xuất khẩu, hàng chính sách, hổ trợ vốn
cho các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả. tăng dự trữ thu mua
nông sản vào những thời điểm cần thiiết nhằm ổn định kinh tế xã hội.
Chi đầu tư phát triển tăng 37,8% so với dự toán năm. Số tăng chi này
chủ yếu thực hiện kích cầu thông qua việc bổ sung vốn cho các công trình
cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp, nông thôn, kiên cố hoá kênh mương,
xây dựng giao thông ở các tỉnh miền núi,vùng cao, vùng sâu và có nhiều
khó khăn.Chi thường xuyên đạt 102,1% dự toán năm. trong đó chú trọng
cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ như tinh thần nghị quyết, cắt
giảm chi quản lý hành chính, đồng thời bảo đảm kinh phí cho việc cũng cố
quốc phòng an ninh đối ngoại và thực hiện những nhiệm vụ mới phát sinh
như khắc phục thiên tai, cứu đói, hoàn thuế cho các doanh nghiệp, bù tiền
điện cho thuỷ nông thuê sửa đường xá, vệ sinh đô thị
Bội chi ngân sách được kiềm chế trong tầm kiểm soát và có tác động
đối với quá trình kích thích tăng trưởng, chống thiểu phát, nâng cao sức
mua và khả năng thanh toán của nền kinh tế. bội chi ngân sách nhà nước
năm 1999 là 4,9%. bù đắp bội chi bằng cách vay trong và ngoài nước. só
vay bù dắp bội chi dành toàn bôi cho phát triển đây là năm thứ 8 chính phủ
không phát hành tièen để bù đắp bội chi 22
Đánh giá tình hình điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường của
ngân sách nhà nước từ khi bước sang nền kinh tế thị trường
Từ khi bước sang nền kinh tế thị trường vai trò điều tiết vĩ mô của
nhà nước được nang lên một cách rỏ rệt. Nhà nước đã sử dụng công cụ ngân
23
chức tài chính tự do hoạt động khinh doanh, tự điều tiết.Trong khi ở Việt
Nam chúng ta vai trò của nhà nước là rất lớn. Các tổ chức tài chính chủ yếu
tồi tại và phát triển đều dựa vào nhà nước.Nhà nước thường xuyên phải sử
dụng một phần ngân sách để bù lỗ cho các ngân hàng(do sự hoạt động kém
hiệu quả) nhằm ổn định đồng tiền,chống khủng hoảng tài chính.Cơ chế tài
chính của ta lõng lẽo chưa hình thành được các mối qua hệ qua lại tác động
chặt chẽ với nhau để trở thành một thể thống nhất mà cơ chế đều phụ thuộc
vào nhà nước.Vì vậy cách một chỉ tồn tại vời các nước phát triển.
Đối với cách hai độ rủi ro quá cao và khi xẩy ra rủ ro thì cái giá phải
trả là quá đắt.
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhà nước ta cần kiểm soát vốn để
có thể từ đó đIều chỉnh mức cung tiền tệ,điều chỉnh lạm phát,tỉ giá hối
đoái.Chính Phủ chủ chương khai thác tối đa nguồn vốn trong nước,chủ yếu
là vốn trong dân cư để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.Từ đầu năm 1991
đến nay bộ tài chính đã phát hành liên tục các loại tín phiếu,trái phiếu kho
bạc nhà nước.Trước hết nước ta đã thí điểm ở ba thành phố lớn là Hải
Phòng,Hà Nội thành phố hồ chí minh,dần đần sẽ mở rộng ra cả nước.
Từ giữa năm 1995 bộ tài chính phối hợp với ngân hành nhà nươc
thành lập và đưa vào hoạt động thị trườngđấu thầu tín phiếu kho bạc.Tạo
thêm một kênh huy động vốn mới cho ngân sách nhà nước đáp ứng tương
đối kiệp thời các nhu cầu chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
ổn định và số liệu này có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện ngân sách
của ta chưa thiếu hụt hằng năm tương đối lớn trên dưới 3,8%GDP
Cùng với các kênh huy động vốn của ngân hàng thương mại với khối
lượng trái phiếu chính phủ đã mở ra một kênh huy động vốn mới trong nền
kinh huy động hàng năm khá lớn thời gian phát hành tương đối liên tục,đối
tượng chủ yếu là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư đã góp phần tích cực
Điểm thứ ba là : thị trường kích cầu nhưng giá cả vẫn giảm,giá cả
giảm không do năng suất lao động tăng cao mà chủ yếu do cường độ sản
suất dư thừa cục bộ.Đó là mâu thuẩn không thể tiếp tục phát triển trong điều
kiện một nước nghèo,chậm phát triển như nước ta.
Ngoài những tồn tại do quá trình điều tiết của nhà nước còn tồn tại
một số vấn đề do quá trình thu chi gây ra trong một số năm qua :
+ Thu từ hàng hoá xuất nhập khẩu bao gồm thuế xuất khẩu,thuế
nhập khẩu,thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu,thu chênh lệch giá hàng
nhập khẩu,thuế giá tri gia tă3ng hàng nhập khẩu )gặp khó khăn,chủ yếu do
nhân tố khách quan là kim nghạch nhập khẩu chịu thuế đạt thấp hơn dự kiến
và nhà nước điều chỉnh giảm thuế xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng
do giá quốc tế tăng cao. 25
+Chi cho đầu tư xây dựng cơ bản chưa có chuyển biến rõ rệt,bố chí
vốn đầu tư còn phân tán.Có một số mục tiêu được ưu tiên nhưng không bảo
đảm đủ nguồn.việc phân bổ chi tiết vốn đến từng công trình và chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để khởi công như duyệt dư án đầu tư,phê duyệt tổng dư
toán,tổ chức đấu thầu và kết quả xét duyệt đấu thầu,giải phóng mặt bằng ở
một số bộ phận địa phương còn chậm,vướng mắc trong các khâu trên đã
làm giảm hiệu quả vốn đầu tư.Dẫn đến tình trạng thường xuyên vốn chờ
công trình,làm cho các nguồn vốn bổ xung cho nền kinh tế và một số
chương trình quốc gia chậm phát huy tác dụng,bên cạnh đó tình trạng vốn
tín dụng của nhà nước và các ngân hàng thương mại thiếu những dự án có
hiệu quả và khả thi để cho vay cũng phần nào hạn chế việc huy động các
nguồn lực cho đầu tư phát triển.
+Thất thoát vốn,lãng phí vốn ngân sách nhà nước vẫn còn lớn trong
những năm qua (1996_2000) chính phủ và các nghành các cấp đã đẩy mạnh