1 Luận Văn
“Một số vấn đề về Chính sách tiền tệ,
công cụ thực hiện và định hướng hoàn
thiện ở Việt Nam”
2
3
1.Chính sách tiền tệ với công cuộc cải cách và phát triển kinh tế ở Việt
nam 20
2.Các công cụ gián tiếp được sử dụng trong thời gian vừa qua tại Việt
Nam
22
3.Các công cụ trực tiếp được sử dụng thời gian qua 25
V.Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam 27
1.Định hướng 27
2 Giải pháp 28
Kết luận 30
Tài liệu tham khảo 31
Phần mở đầu Bước vào thế kỷ 21, cả nhân loại trong xu hướng toàn cầu hoá các nền
kinh tế của các thể chế khác nhau đang trên con đường hội nhập chung vào
các hoạt động kinh tế đầy sôi động. Loài người đang nỗ lực thúc đẩy thế giới
tiến lên trong văn minh với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Vậy
đáp số của bài toán phát triển kinh tế ở đâu? 5
I. Chính sách tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ
1.Vị trí và vai trò của chính sách tiền tệ
Hiện nay trên thế giới bất cứ Chính phủ nào cũng phải đối mặt với sự
mất ổn định của nền kinh tế đó là lạm phát, thất nghiệp, là khủng hoảng,
sự trì trệ của nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách khác của Chính phủ thì
chính sách tiền tệ là một công cụ hữu hiệu để giải quyết sự mất ổn định
trên; chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nền
kinh tế tới mức sản lượng và việc làm mong muốn, đem lại sự tăng
trưởng ổn định nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ ngày càng trở nên vô cùng quan trọng đặc biệt là
với các quốc gia có nền kinh tế mở, tỷ giá linh hoạt, vốn chuyển động tự
do hoàn toàn. Xu hướng chung của chính sách tiền tệ lúc này là nó sẽ đưa
tỷ giá của đồng nội địa giảm, làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế trong nước và nước ngoài, xuất khẩu tăng lên lãi suất trở về lãi suất
cân bằng của thế giới, thất nghiệp giảm, kinh tế tăng trưởng mạnh,
Chính sách tiền tệ là một công cụ để đẩy lùi lạm phát và kiềm chế ở
mức thấp đưa lạm phát trở thành một công cụ kích thích tăng trưởng của
tăng trưởng kinh tế, là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống kinh doanh
tiền tệ làm cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng được lành mạnh 7
an toàn và có hiệu quả trước sóng gió của thị trường. Nó cho phép dự báo
tình hình báo động các diễn biến thuận lợi và bất lợi của lưu thông tiền tệ,
phân tích và đưa ra các giải pháp cần áp dụng, các công cụ cần vận hành
để hệ thống tiền tệ được lành mạnh. Một chính sách tiền tệ thích hợp sẽ là
tác nhân mạnh mẽ để ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế và ngược
lại sẽ gây mất ổn định, sự phát triển kinh tế chậm lại thậm chí lâm vào
đình trệ, suy thoái và khủng hoảng. Sự phát triển kinh tế và lành mạnh về
tài chính-tiền tệ là tỷ lệ thuận với nhau. Vì vậy nếu xây dựng chính sách
tiền tệ phù hợp vào các điều kiện của một nền kinh tế là một vấn đề chiến
lược.
Trong một quãng thời gian cụ thể nào đó chính sách tiền tệ quốc gia
có thể được xác định theo hai hướng:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: là chính sách nới lỏng tiền tệ ( tăng
cung ứng tiền tệ trong lưu thông ) nhằm khuyến khích đầu tư, mở
rộng sản xuất, trong trường hợp này chính sách tiền tệ nhằm vào
chống suy thoái và kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: chính sách tiền tệ này thu hẹp lượng
tiền trong lưu thông nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển
quá nóng của nền kinh tế, lúc này chính sách tiền tệ nhằm vào
chống lạm phát.
Việc sử dụng chính sách tiền tệ tuỳ theo thực trạng nền kinh tếthông qua
2.1. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, ổn định sức mua dối nội của đồng
tiền
9
Trong điều kiện lưu thông các dấu hiệu giá trị thì lạm phát luôn là khả
năng tiềm tàng thậm chí khó tránh khỏi khi mà hệ thống kim bản vị cũng
như tiền tín dụng chuyển đổi ra vàng không còn nữa thì NHTW luôn coi
việc kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ là mục tiêu hàng đầu của chính sách
tiền tệ của mình, Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hoá là tiền
đề cho nền kinh tế phát triển bình thường đảm bảo đời sống người lao động.
Giá trị đối nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hoá và dịch vụ
trong nước. Sức mua của đồng tiền biến đổi tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hoá
và dịch vụ. ổn định sức mua đồng tiền là một đại lượng tương đối. Nó biến
động xung quanh một biên độ cho phép; ở nước ta hiện nay đang phấn đấu
giữ cho tỷ lệ lạm phát ở mức độ một con số (tức là dưới 10%).
2.2. ổn định sức mua của đồng tiền
Giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiềnđược đo bằng tỷ giá hối đoái
thả nổi. Tỷ giá hối đoái là một đại lượng so sánh giá trị giữa nội tệ và ngoại
tệ, vì vậy tỷ giá hối đoái có liên quan đến hàng loạt các yếu tố:
- Giá thành nhập và xuất khẩu.
- Tỷ lệ lạm phát làm thay đổi sức mua đồng tiền trong nước.
- Tình trạng cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế làm
quốc nội (GDP). Mặt khác tăng khối lượng tiền tệ làm tăng tổng
cầu, hàng tồn đọng giảm, khích lệ gia tăng sản xuất.
- Ngược lại khi khối lượng tiền tệ giảm, lãi suất sẽ tăng làm cho đầu
tư giảm, giảm theo tổng sản phẩm quốc dân(GNP). 11 Trong thời kỳ đầu khi các cơ chế tác động của nền kinh tế thị trường
chưa nhạy cảm thì người ta thường sử dụng phương pháp ấn định và điều
chỉnh lượng cung tiền tệ trực tiếp, chủ yếu bằng hạn mức tín dụng nhưng
khi các cơ chế kinh tế thị trường đã thuần thục, tinh vi và nhạy cảm thì
người ta chuyển sang sử dụng chủ yếu các chính sách và công cụ quản lý vĩ
mô gián tiếp để thực hiện ý đồ thắt chặt hay mở rộng khối tiền tệ cung ứng.
Mục tiêu tăng truởng kinh tế vững chắc quan hệ chặt chẽ với mục tiêu
việc làm cao bởi vì nhf kinh doanh muốn đầu tư nhiều hơn vào tư liệu sản
xuất để nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế khi mức thất
nghiệp thấp.Ngược lại khi thất nghiệp cao và các xí nghiệp nhàn rỗi thì
không có lợi để cho một hãng đầu tư thêm các nhà máy và thiết bị. Mặc dù
hai mục tiêu này quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng các chính sách có thể đặc
biệt nhằm vào việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằng cách trực tiếp
khuyến khích các hãng đầu tư hoặc khuyến khích nhân dân tiết kiệm để có
thêm nhiều vốn cho các hãng đưa vào đấu tư.
2.4. Tạo công ăn việc làm:
Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ hướng vào mục
tỷ lệ thất nghiệp có thể chấp nhận được. Nó tạo được tình thế ổn
định hơn, tránh được các cơn sốc lạm phát, khủng hoảng kinh tế và
thất nghiệp.
- Có người cho rằng chấp nhận một mức lạm phát nhự nhàng đôi khi
là liều thuốc bổ quan trọng để kích thích phát triển sản xuất, có thể 13
tìm ra một phần chân lý ở luận điểm này. Nhưng nếu lấy lạm phát
làm chất xúc tác cho tăng trưởng thì quả là một trò đi trên dây.
Vì vậy vấn đề đặt ra là chính sách tiền tệ phải tìm được giải pháp để
dung hoà được 4 mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, để vừa kìm chế
đượclạm phát vừa tăng trưởng được nền kinh tế và đạt mức nhân dụng cao.
II. Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong chính sách vĩ mô của
Nhà nước. Về thực chất điều chỉnh quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu tiền
tệ, giữa tiền và hàng trên 4 lĩnh vực quan trọng nhất.
- Khối lượng cung ứng tiền
- Kiểm soát hoạt động tín dụng trong nền kinh tế.
- Kiểm soát ngoại hối.
- Kiểm soát việc tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.
- Chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước
- Trình độ kỹ thuật và khả năng tổ chức thanh toán của ngân hàng.
Tóm lại qua việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ phải khống
chế sao cho khối lượng tiền tệ cung ứng trong một thời kỳ nhất định phải
cân đối với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa và vòng quay tiền
tệ từng thời kỳ. 15 b.Làm cho thành phần khối tiền tệ (M) đa dạng lên cùng với quá trình
phát triển công nghệ ngân hàng, gồm:
- Tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn tại
ngân hàng là M
1- M
1
và các khoản tiền tiết kiệm (có kỳ hạn) và tiền gửi có kỳ hạn tại
các ngân hàng thương mại là M
2- M
2
Còn tốc độ tăng trưởng và vòng quay đồng tiền đều biến động, khó biết
trước chính xác. Việc điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng phải thực hiện từ
gốc, qua các nhu cầu đối ứng đặt ra trong các lĩnh vực tạo tiền bằng các
chính sách tín dụng và ngoại hối trong những điều kiện khác nhau không
đổi, có thể điều hoà lượng tiền cung ứng giữa ba kênh nói trên nhưng tổng
số phải bằng tổng lượng tiền cung ứng đã xác định.
d.Cách nhìn nhận đối với tiền mặt
Để kiểm soát lạm phát, người ta quản lý từ gốc chứ không phải nhằm
vào cái ngọn của nó là khống chế tiền mặt. Vì lúc này đã quá muộn, chỉ làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với hệ thống ngân hàng. Nhu cầu tiền mặt
thường phụ thuộc vào:
- Thói quen của dân chúng mỗi nước đối với tiền mặt hay thanh toán
không dùng tiền mặt
- Trình độ phát triển của hệ thống thanh toán ngân hàng
- Lòng tin của dân chúng đối với ngân hàng và Nhà nước. 17 e.Thanh toán không dùng tiền mặt - một công cụ điều tiết khối tiền tệ
Về nội dung kinh tế, tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt tốt hay
không sẽ không ảnh hưởng trực tiếp mà tác động gián tiếp đến khối lượng
tiền do làm tăng hay giảm vòng quay của nó. Tuy chỉ ảnh hưởng gián tiếp
xin tái cấp ( tái chiết khấu ) tiền trung ương. ở đây phải đảo ngược chu trình
cấp vốn, NHTW luôn là người cho vay cuối cùng, đóng vai trò chủ nợ nhằm
kiểm soát được chất lượng và số lượng tín dụng, các nguồn tiền gửi của các
ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng theo các định hướng chính sách
cụ thể sau:
a.Để tăng tầm kiểm soát của NHTW, tích cực kìm chế lạm phát, tăng
nguồn tín dụng, người ta thực hiện chính sách đa dạng hoá các thành phần
của khối tiền tệ: NHTW thúc đẩy các NHTM thu hút tất cả các nguồn tiền
gửi của mọi doanh nghiệp và dân cư bằng cách mở tài khoản và thanh
toán qua ngân hàng. Từ đó phát triển các thành phần kinh tế của khối tiền
tệ và các công cụ lưu thông tín dụng khác bên cạnh tiền mặt nhằm tăng
nguồn vốn tín dụng của các NHTM và khả năng chi phối của NHTW đối
với khối tiền tệ.
b.Thay lãi suất thực (-) bằng lãi suất thực (+) để thay chính sách tiền tệ
làm xói mòn nguôn vốn bằng chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn với một
lãi suất (+) vừa phải sẽ làm cho dân cư chuyển từ dạng tiết kiệm phi tài
chính (dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản ) qua dạng tiết kiệm tài chính,
tăng tiền gửi ngân hàng, cần khuyến khích các ngân hàng trung gian thực
hiện chính sách tiền tệ “ mở rộng nguồn vốn” bằng việc áp dụng lão suất (+), 19
thực hiện triệt để nguyên tắc “vay để cho vay”. Các NHTM chỉ tìm đến
nguồn tiền trung ương trong trường hợp phải tái chiết khấu.
c.Thay chính sách tiền tệ thụ động phục vụ bằng chính sách tiền tệ chủ
động điều khiển
- Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường
liên ngân hàng ngoại tệ và thị trường hối đoái
- Xây dựng và thống nhất quản lý quỹ dự trữ ngoại hối của đất nước
- Tiến hành kinh doanh ngoại hối trên thị trường quốc tế
- Phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát, ổn định giá
cả trong nước
- Quan hệ với NHTW khác, với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tế
nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ nước ngoài có điều kiện ưu đãi,
khuyến khích đầu tư nước ngoài và thu hút kiều hối
- Tổ chức quản lý nợ nước ngoài.
a.Chính sách hối đoái:
Nhiều nước thực hiện chính sách độc quyền hối đoái cấm lưu thông
tiền nước ngoài trên đất nước mình, chính sách ngoại hối hướng vào việc
ngăn chặn việc tích trữ ngoại hối rải rác trong các pháp nhân và thể nhân,
quản lý mua và bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW. Đây
là chính sách mua đứt bán đoạn chứ không phải cho phép các tổ chức dân
sự và người cư trú đưọc cất giữ ngoại tệ trên tài khoản mở ở các ngân
hàng. Bởi vì điều này chỉ có lợi cho nước phát hành số ngoại tệ đó. Nhờ 21
phát hành tiền họ đã thu về khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà chưa bị
quan hệ cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và sản
xuất kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy
bén và hết sức công phạt đối với sản xuất, xuất nhập khẩu, tình trạng tài
chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ ngoại
tệ của đất nước.
- Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp (đối với ngoại tệ) sẽ khuyến khích
nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tương đối
đắt, khó bán ra nước ngoài, gây trở ngại cho ngành sản xuất hàng
xuất khẩu, bất lợi cho việc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào
trong nước, dự trữ ngoại tệ dễ bị xói mòn.
- Nếu tỷ giá hối đoái quá cao (đối với ngoại tệ) sẽ bất lợi cho nhập
khẩu, nhưng khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu rẻ
hơn, hàng xuất khẩu đắt hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế,
dễ tìm thị trường tiêu thụ, kích thích chuyển dịch vào trong nước,
dự trữ ngoại tệ có cơ hội gia tăng.
e.Biện pháp quản lý và ổn định tỷ giá hối đoái:
Có hai cách vận hành tỷ giá hối đoái:
- Tỷ giá cao hay thấp do NHTW ấn định
- Tỷ giá thả nổi do cung cầu ngoại tệ trên thị trường chi phối,
NHTW hoàn toàn không can thiệp.
23
a.Trường hợp ngân sách cân bằng:
Khi Chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỏi lưu thông một lượng
tiền nào đó, chỉ số tiền ấy vào guồng máy kinh tế. Khối lượng tiền tệ
không thay đổi vì nó được tăng giảm một ngạch số như nhau. Tuy nhiên
nó có thể làm thay đổi kết cấu tiêu dùng và tiết kiệm. Trong khi đó
Chính phủ phải dùng số tiền thuế thu được để cấp phát cho những người
có thu nhập thấp thì số tiêu thụ chung lại gia tăng, số đầu tư giảm và kết
quả là có khả năng làm tăng dần giá cả. Nếu Nhà nước dùng số chi ngân
sách này để đầu tư thì số đầu tư tư nhân giảm trong khi đầu tư Nhà
nước tăng lên, đầu tư chung không đổi, cho nên:
- Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát, ngân sách thăng bằng
vẫn có thể tác dụng ngược lại với chính sách tiền tệ, làm tăng vật
giá.
- Trường hợp chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái, ngân sách
thăng bằng vẫn có thể dịch chuyển thu nhập tiền tệ theo hướng góp
phần chống suy thoái bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.
b.Trường hợp ngân sách thiếu hụt:
Chênh lệch giữa thu và chi ngân sách sẽ có tác dụng khác nhau đến
nền kinh tế tuỳ theo cách tài trợ, số chênh lệch ấy có 4 cách để bù đắp
thiếu hụt ngân sách: