1
Luận Văn
" Lạm phát và một số biện pháp
khắc phục lạm phát trên thế giới và ở
Việt Nam"
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT 5
I. NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 5
1. Khái niệm 5
2. Phân loại lạm phát 6
3. Nguyên nhân của lạm phát 10
LỜI NÓI ĐẦU
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền
kinh tế Việt Nam trong những thập niêm gần đây. Trong nền kinh tế thị trường
hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng
vững trên thương trường. Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh
chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề
cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong
những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là
lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề
hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong
muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà
doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến
nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động. ở nước ta hiện
nay, chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là một mục
tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm,
nghiên cứu và đề xuất các phương án khắc phục. Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và
chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát. Nét đặc
trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết các
hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thể kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. ở nước ta lạm
phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng nề
của chiến tranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài. Lạm phát đã phá vỡ toàn bộ kế
4
hoạch của nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế -
xã hội.
thực tế thường được thay thế bằng một trong hai loại chỉ số giá thông dụng khác:
chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá bán buôn (còn gọi là chỉ số giá cả sản xuất).
Chỉ số giá cả tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một giỏ hàng hoá và
dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Công thức tính:
6
I
P
= i
p
. d
Trong đó:
I
P
: chỉ số giá cả của giỏ hàng
i
p
: chỉ số giá cả của từng loại hàng nhóm hàng trong giỏ
d : tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại nhóm hàng trong giỏ (với d=1)
Nó phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội.
Chỉ số bán buôn (giá cả sản xuất) phản ánh sự biến động giá cả của đầu vào,
thực chất là biến động giá cả chi phí sản xuất. Xu hướng biến động giá chi phí tất
yếu sẽ tác động đến xu hướng giá cả hàng hoá thị trường.
Tỷ lệ lạm phát:
Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô
và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát.
Công thức:
g
P
= ( Error! - 1 ) . 100
hội hơn nữa tạo động lực phát triển kinh tế, thông thường loại lạm phát một chữ số
được xem là có thể chấp nhận được.
* Lạm phát hai chữ số: khi giá cả bắt đầu tăng đến hai chữ số mỗi năm, lạm
phát trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập, loại lạm phát này khi đã trở nên
vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
* Siêu lạm phát:
Ngoài lạm phát hai chữ số có thể còn một vài loại khác với các tên gọi như
lạm phát ba chữ số, lạm phát phi mã, tuỳ theo quan điểm của các nhà kinh tế.
Tuy nhiên, hai loại lạm phát này đều có nét giống nhau nhất định và hoàn toàn có
thể đưa chúng vào dạng siêu lạm phát vì siêu lạm phát bao gồm cả hai đặc trưng:
rất cao và phi mã. Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnh siêu lạm phát điển
hình trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần. Siêu lạm phát
thường gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít khi
xảy ra.
b. Theo khả năng định tính:
Lạm phát được gọi tên thêm các loại phổ biến sau:
* Lạm phát thuần tuý:
Lạm phát thuần tuý là trường hợp đặc biệt khi giá cả hàng hoá tiêu dùng và
hàng hoá sản xuất đều tăng lên gần như cùng tỷ lệ % trong một đơn vị thời gian.
Đây là trường hợp mà nhu cầu trên thực tế tăng cùng chiều và khá tương đồng với
cung ứng tiền thực tế.
L = Error!
* Lạm phát cân bằng và không cân bằng:
Thí dụ đơn giản sẽ giúp chúng ta hiểu về lạm phát cân bằng: giả định rằng
vào tháng 5 năm 1992, một công nhân Việt Nam với mức lương bình quân
400.000đ/tháng, trường hợp xem giá gạo là giá cả đại diện cho các loại giá khác
trên thị trường, với giá gạo là 2.000đ/kg.
1 tháng lương = 400.000đ mua được Error! = 200kg
Mức sống của người công nhân nói trên được đo bằng 200kg gạo.
thứ 3 là không cân bằng. Như vậy, cân bằng ở đây là cân bằng so với thu nhập.
9
Kết luận: Lạm phát được gọi là cân bằng khi nó tăng tương ứng với thu nhập.
Nghĩa là sự tồn tại của lạm phát không ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.
Ngược lại, lạm phát không cân bằng khi nó tác động đến đời sống của người lao
động nó làm cho họ giầu hơn nếu tỷ lệ % tăng lạm phát thấp hơn tỷ lệ % tăng
lương trong cùng thời gian, làm cho mọi người nghèo hơn, vất vả hơn nếu tỷ lệ %
của lạm phát cao hơn tỷ lệ % tăng của thu nhập cũng trong giai đoạn ấy.
Lạm phát không cân bằng là loại xảy ra phổ biến nhất.
* Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường.
Khi lạm phát (thí dụ 8% năm), xảy ra liên tục trong một khoảng thời gian đủ
dài (10 năm chẳng hạn), tâm lý và sự chờ đợi của nhân dân đã trở thành quán tính,
người ta đã quen dần với lạm phát. Năm thứ 11 hay 12 trở đi, việc nền kinh tế sẽ
có lạm phát 8% là chuyện bình thường và gần như được tin chắc, được đoán trước,
được chờ đợi. Người ta gọi là loại lạm phát dự đoán được.
Cũng có khi người ta có thể nhìn thấy trước về lạm phát và tin rằng nó sẽ xảy
ra bởi các nguyên nhân của nó đã bộc lộ đầy đủ và rõ ràng. Trong tình huống như
vậy, người ta cũng sẵn sàng chờ đợi, không bất ngờ với lạm phát.
Nhưng nếu lạm phát bùng ra thình lình, trước đó chưa hề có. Thí dụ như nền
kinh tế đã quá quen với lạm phát rất thấp, bỗng nhiên lạm phát vọt lên cao như
Nhật Bản vào năm 1979, 1980, tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi người đều
chưa thích nghi được với lạm phát. Người ta gọi đây là lạm phát bất thường.
Lạm phát bất thường dễ gây sốc cho cuộc sống và mọi người. Bởi vì nhân dân
chưa chuẩn bị về mặt tâm lý và tiêu xài để sống thích hợp với việc tăng giá đột
ngột.
* Lạm phát cao và lạm phát thấp.
Không thể đánh giá theo cách chủ quan của mình rằng đây là lạm phát cao,
kia là lạm phát thấp nếu không hiểu rõ tiêu chuẩn hoặc mốc để đánh giá. Bởi vì cao
hay thấp không đơn thuần chỉ dựa vào tỷ lệ % năm của nó.
, P
0
và Y
0
lần lượt là vận tốc vòng quay của tiền tệ sinh lợi tức, giá cả và
sản lượng tương ứng tại thời điểm nói trên.
Đến thời điểm t=1, cung ứng tiền sẽ là M
1
, vận tốc vòng quay tiền tệ, giá cả,
sản lượng sẽ là V
1
, P
1
, Y
1
.
Bởi vì cung ứng tiền ở mỗi thời điểm luôn luôn khác nhau dù ít hay nhiều
(M
1
M
0
), cho nên vận tốc vòng quay, giá cả, sản lượng cũng vậy. Ta cũng sẽ có V
-
1
V
0
, P
1
P
0
V
1
= V
0
+ g
V
V
0
P
1
= P
0
+ g
P
P
0
Y
1
= Y
0
+ g
Y
Y
011
Với g
P
) x Y
0
(1 + g
Y
) (3)
Nhưng tại thời điểm t=0
M
0
V
0
= P
0
Y
0
(4)
Mà tỷ lệ tăng trên tổng tiền tệ và sản lượng giữa hai thời điểm t
0
và t
1
hoàn
toàn có thể phản ánh được:
Error! = Error! (5)
Do vậy, nó cũng có thể viết thành:
(1 + g
M
) (1 + g
V
) = (1 + g
P
P
+ g
Y
(7)
Các nhà kinh tế học cổ điển diễn tả vắn tắt về phương trình (7) là vào bất kỳ
thời điểm nào của nền kinh tế khi so sánh với một thời điểm khác trước đó:
Tỷ lệ tăng trong;cung ứng tiền %
+
Tỷ lệ tăng trong;vận tốc lưu thông;tiền tệ %
=
Tỷ lệ lạm phát;%
+
Tỷ lệ tăng;của sản lượng
Họ xem đây là mấu chốt cơ bản để hiểu về mối quan hệ giữa hệ gia tăng trong
cung ứng tiền với lạm phát. Giả sử vào một thời điểm nào đó tỷ lệ thay đổi của sản
lượng và vận tốc lưu thông tiền tệ được xem là bằng không, lạm phát xảy ra khi và
chỉ khi cung ứng tiền gia tăng, chính quan điểm này đã được Friedman củng cố.
Ông phân biệt là không phải mọi trường hợp lạm phát xảy ra đều trực tiếp gây lên
bởi sự tăng cung ứng tiền. Nhiều trường hợp lạm phát bộc phát bởi nhiều tác nhân
khác. Tuy nhiên điều cần nói là đằng sau những tác nhân này luôn luôn có sự đóng
góp, hoặc vô trách nhiệm của chính sách tiền tệ. Cho nên có thể nói là mấu chốt
vẫn ở chế độ cung ứng tiền.
Đối với Friedman lạm phát được gây ra bởi một trong ba nguyên nhân đó là:
12
Cung ứng tiền tăng nhanh.
Chi phí đẩy giá cả lên cao.
Lãi suất hạ, tỷ giá giữa nội tệ và ngoại tệ tăng.
* Theo quan điểm của Keynes
1
trong lúc giá
cả chưa biến động, vẫn ở mức P
0
, sẽ làm cho LM thay đổi rất lớn. LM dịch chuyển
lên tới LM'.
13
Hình 1
Với LM' = Error! và sản lượng danh nghĩa đã vượt lên đến 12.000đ.
Khi sản lượng tăng nó thực sự kích thích tổng cầu tăng, giai đoạn hai bắt đầu.
Giá cả lên từ P
0
đến P'. Lạm phát đạt mức rất cao. Lúc này thương số M
1
20
10
0
Lãi suất
Sản lượng
(tỷ VNĐ)
LM (
Error!
)
LM (
Error!
)
LM (
)
A '
B '
K
'
YD
1
(M
14
LM dịch chuyển quá mạnh qua phải, sản lượng tăng quá nhanh.
Tổng cầu tăng gây ra lạm phát.
Lạm phát làm cho mức cung ứng tiền thực tế nhỏ lại so với ban đầu.
LM qua trái trở lại một ít, sản lượng tụt, tuy vẫn cao hơn mức khởi điểm.
Giá cả từ đỉnh lạm phát xuống thấp hơn.
Do sự chuyển tiếp của việc tăng cung ứng tiền tệ qua tổng cầu (Aggreate
demand) để làm nên lạm phát, các nhà kinh tế học cổ điển còn gọi tên cách phân
tích của Keynes về lạm phát là lạm phát do cầu kéo.
* Quan điểm của các nhà kinh tế tiền tệ:
Nếu gọi M
S
là mức cung tiền danh nghĩa, P là giá cả bình quân và L là mức
cung ứng tiền thực tế thì:
L
S
= Error! (8)
Gọi M
1
là nhu cầu về tiền danh nghĩa thì L
D
sẽ là nhu cầu về tiền thực tế với:
L
D
= Error! (9)
Milton Friedman đặt tên cho khái niệm này vào thập niên 50. Và nhu cầu về
tiền thực tế trong nền kinh tế L
D
Nếu Y không đổi a và b không đổi, M
S
tăng khi một trong 3 trường hợp xảy ra:
- M
D
phải tăng tương ứng để tạo thế cân bằng.
- P phải tăng.
- M
D
và P cùng tăng.
15
Vì M
D
thường là cố định vào những khi M
S
tăng đột ngột, cho nên chỉ có
trường hợp 2 là diễn biến một cách phổ biến nhất. Giá cả phải tăng để tạo thế cân
bằng trên thị trường tiền tệ. Nếu M
D
hoàn toàn không tăng, phần tăng của giá được
giải thích như sau:
Gọi M
S
là tỷ lệ tăng của cung ứng tiền
P là tỷ lệ tăng của giá cả.
Thì để thị trường toàn bộ cân bằng như cũ khi cung ứng tiền danh nghĩa tăng,
ta phải có:
Error! = Error! (12)
S
, nó sẽ
gây ra lạm phát với tỷ lệ chính thức là bằng tỷ lệ tăng cung cung ứng tiền danh
nghĩa trừ đi tỷ lệ tăng của nhu cầu tiền danh nghĩa chia cho tổng của 1 cộng với tỷ
lệ tăng trong nhu cầu về tiền danh nghĩa.
Rõ ràng là nhu cầu về tiền danh nghĩa có tăng hay là không mọi sự tăng lên
của cung ứng tiền danh nghĩa - về mặt ngắn hạn - đều nhanh chóng gây ra lạm
phát. Về mặt dài hạn, khi sản lượng đã phần nào được mở rộng theo cung ứng tiền
16
thì sự chuyển tiếp từ sản lượng qua gia tăng tổng cầu trên thị trường hàng hoá tiếp
tục là bay tay gây ra lạm phát theo quan điểm của Keynes. Dù trực tiếp hay gián
tiếp ngắn hạn hay dài hạn, cung ứng tiền tăng là lý do thường thấy nhất của vấn đề
lạm phát.
b. Do Chính phủ theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát:
* Lạm phát chi phí đẩy:
Ngay cả khi sản lượng đạt mức tiềm năng nhưng vẫn có thể xảy ra lạm phát ở
nhiều nước, kể cả ở những nước phát triển cao. Đó là một đặc điểm của lạm phát
hiện đại. Kiểu lạm phát này gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm phát vừa suy giảm
sản lượng tăng thêm thất nghiệp nên cũng gọi là "lạm phát đình trệ".
Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào đặc biệt là các vật tư cơ bản: xăng,
dầu, điện, là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển lên
trên. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả lại tăng lên và sản lượng giảm
xuống. Giá cả sản phẩm trung gian (vật tư) tăng đột biến thường do các nguyên
nhân như thiên tai, chiến tranh, biến động chính trị kinh tế.
Lạm phát chi phí cũng có thể là kết quả của chính sách ổn định năng động
nhằm thúc đẩy một mức công ăn việc làm cao. Nó xảy ra do những cú sốc cung
tiêu cực hoặc do các công nhân đòi lương cao hơn gây nên.
Lúc đầu nền kinh tế ở tại điểm 1. Giả định công nhân đòi tăng lương do họ
muốn tăng lương thực tế hoặc do họ dự đoán lạm phát sẽ lên cao nên đòi tăng
3 '
2
1
2 '
1 '
AS
4
AS
3
AS
2
AS
1
AD
1
AD
2
AD
3
AD
4
317
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng
đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Điều này được minh hoạ trong hình vẽ 2. Trong
thực tế khi xẩy ra lạm phát cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu
thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng giới hạn của mức
cung hàng hoá. Như vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để
mua một lượng cung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được trong thị trường lao
động đã đạt được cân bằng. P
1
P
Y
P
0
0
E
1
E
0
AD
0
AD
1
của đường cầu sẽ làm mức giá cả tăng lên, trong thời kỳ sau không còn thâm hụt
thì không còn nhu cầu in tiền nữa. Đường tổng cầu sẽ không di chuyển nữa, mức
giá cả sẽ không tiếp tục tăng. Như vậy sự tăng lên một đợt trong cung tiền tệ do
thâm hụt tạm thời chỉ gây nên sự tăng lên một đợt trong mức giá cả và lạm phát
không mở rộng.
Mặc dù kết quả là lạm phát nhưng Chính phủ vẫn thường xuyên trang trải
ngân sách bằng cách tạo thêm tiền. Nếu các nước đang phát triển bị thâm hụt ngân
sách, họ không thể trang trải bằng cách phát hành trái khoán do không có một thị
trường vốn phát triển nên phải dùng đến cách in tiền. Kết quả là khi bị thâm hụt
nghiêm trọng so với GNP của họ thì cung tiền tệ tăng trưởng với tỷ lệ cao và gây
nên lạm phát. Ngược lại với những nước phát triển đặc biệt là Mỹ do có một thị
trường chứng khoán Nhà nước phát triển tốt nên có thể phát hành nhiều trái khoán
để tài trợ thâm hụt. Tuy nhiên thâm hụt tại Mỹ không có nguy cơ lạm phát bởi Fed
có thể có mục tiêu ngăn chặn lãi suất cao. Khi Chính phủ phát hành trái khoán để
19
tài trợ thâm hụt có thể gây nên áp lực với lãi suất. Khi đó Fed có thể mua trái
khoán để nâng giá trái khoán và ngăn chặn lãi suất tăng, kết quả là cung tiền tăng
và gây phát sinh lạm phát.
d. Tỷ giá hối đoái và lạm phát:
Lạm phát ở Đức (1921-1923), Bolivia năm 1985, Brazil và Argentine những
năm đầu thập niên 90 cho đến gần đây, Việt Nam (1989-1992) lúc đầu là do
nguyên nhân thứ nhất: lạm phát do cầu kéo. Giữa giai đoạn lạm phát khi mà đồng
tiền nội tệ xuống giá mức quá nhanh so với ngoại tệ thì bắt đầu xuất hiện tâm lý
kéo giá hàng hoá tăng lên theo tỷ lệ tăng giá của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Tỷ giá hối đoái thực sự quan hệ chặt chẽ với giá cả hàng hoá xuất và nhập
khẩu. Do đó, nó gắn bó trực tiếp với tất cả các loại giá cả hàng hoá khác trên thị
trường. Tỷ giá giữa tiền nội tệ và tiền nước ngoài càng tăng lên, hàng hoá càng lên
giá và giá hàng lên càng kéo tỷ giá lên nhanh hơn, kinh tế càng lạm phát.
Một số nền kinh tế đang phát triển cũng có trường hợp này. Nói cho cùng mối
Tác động đầu tiên của lạm phát nên đời sống kinh tế là nó làm thay đổi lãi suất.
Vì lãi suất ngày nay tác động nhiều mặt đến thu nhập, tiêu dùng và đầu tư cho nên
thông qua lãi suất, lạm phát tác động nhiều mặt đến thu nhập, tiêu dùng và đầu tư; lạm
phát có tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế vĩ mô và vi mô.
Để giữ cho tài sản nợ, tài sản có có hiệu quả không đổi, hệ thống ngân hàng
sẽ luôn cố gắng giữ cho lãi suất thực tế ổn định. Nhưng, vì lãi suất thực tế = lãi
suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát.
Nên nếu muốn cho lãi suất thực tế không đổi thì lãi suất danh nghĩa phải tăng
cùng với tỷ lệ lạm phát. Khi các ngân hàng và hệ thống tài chính tăng lãi suất danh
nghĩa theo lạm phát, hậu quả mà nền kinh tế phải gánh lấy là suy thoái và thất
nghiệp tăng. Về mặt lâu dài, sự cân bằng trên thị trường hàng hoá và thị trường
tiền tệ kéo cả lạm phát và lãi suất xuống khi không có sự can thiệp của ngân hàng
trung ương. Nhưng cái giá phải trả là tiềm năng sản xuất bị lãng phí, số việc làm
giảm và đời sống nhân dân thêm khó khăn.
2. Lạm phát và thu nhập thực tế.
Lạm phát tăng cao làm giảm thu nhập thực tế của người lao động, giảm giá trị
của tài sản không sinh lãi. Có lạm phát không cân bằng, lạm phát làm giảm giá trị
của những tài sản sinh lãi.
Giả sử ta có 1.000.000đ cho vay (gửi ngân hàng, mua trái phiếu Chính phủ)
với i = 10%/năm, tổng số thuế thu nhập 30%.
Giả sử tỷ lệ lạm phát = 0 lãi suất thực tế = 10%, thuế thu nhập từ tiền lãi là
10% x 1.000.000đ = 100.000đ, thu nhập thực tế sau thuế là:
100.000đ - 30% x 100.000đ = 70.000đ
21
Giả sử tỷ lệ lạm phát = 10% khi đó:
Lãi suất danh nghĩa 20%, thu nhập danh nghĩa từ tiền lãi là 200.000đ, thuế
thu nhập = 30% x 200.000đ = 60.000đ, thu nhập danh nghĩa sau thuế 200.000đ-
60.000đ = 140.000đ thu nhập thực tế sau thuế = 140.000đ - 10% x 1.000.000đ =
40.000đ.
lên giàu có hơn.
Lạm phát như thế có thể dẫn đến rối loạn kinh tế và làm cho hố ngăn cách
giàu nghèo lại càng mở to hơn. Quá trình phân phối lại thu nhập do lạm phát
thường là không hợp lý và làm tăng thêm sự bất bình đẳng.
4. Tác động khác của lạm phát:
Làm tăng khoản nợ quốc gia, biến động kinh tế xã hội, gây ra tâm lý bất ổn
định trong nhân dân,
III. NHỮNG BIỆN PHÁP KÌM CHẾ VÀ KHẮC PHỤC LAM PHÁT.
Để đấu tranh chống hiện tượng lạm phát, người ta có thể tác động vào quan hệ
cung cầu, vào chi phí và các phản ứng tâm lý. Tác động vào quan hệ cung cầu:
muốn chống lạm phát phải quản lý cầu, để cân đối tiền hàng trong nền kinh tế
thường được thực hiện bằng việc tăng cung (khuyến khích sản xuất, khuyến khích
cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng của sản xuất, ) hoặc điều tiết khống chế cầu,
hoặc đồng thời cả hai biện pháp đó. Song việc tăng cung rất khó khăn và đòi hỏi
phải có thời gian dài, trong khi lạm phát luôn ở trạng thái động và luôn tạo ra hiện
tượng cầu ngày càng lớn hơn cung, do đó biện pháp có tính khả thi nhanh chóng là
khống chế và điều tiết cầu. Khống chế và điều tiết cầu bằng cách giảm chi ngân
sách, thắt chặt tín dụng, tăng thuế, khuyến khích tiết kiệm.
Tác động vào chi phí: thực hiện việc đa dạng hoá các nguồn cung ứng vật tư,
tiết kiệm nguyên liệu, thực hiện việc kiểm soát giá cả và tiền lương.
Tác động vào tâm lý: thông tin đầy đủ cho nhân dân về giá cả và chất lượng
hàng hoá, công bố các biện pháp tác động của ngân hàng và Chính phủ.
Lạm phát là hiện tượng kinh tế phức tạp, đa nhân tố và luôn ở trạng thái động.
Do các biện pháp chống lạm phát phải là một hệ thống đồng bộ bao gồm các biện
pháp về kinh tế hành chính, tâm lý, các biện pháp cấp bách và lâu dài.
PHẦN II
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT TRONG
CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
tế Châu Mỹ Latinh (Liên đoàn lao động chiến đấu, hệ thống chính trị) không ổn
định gây lên lạm phát cao. Thực tế lạm phát ở Châu Mỹ Latinh là đa dạng: một số
nước Châu Mỹ Latinh như Hondura, có tỷ lệ lạm phát bình quân năm dưới 10%
trong thời kỳ đó, trong khi tại các nước khác như Argentine, Brazin, Peru, tỷ lệ lạm
phát là trên 200%. Tỷ lệ lạm phát ở các nước Châu Mỹ Latinh đổi lại với mức tăng
trưởng cung tiền tệ cho thấy là những nước có tỷ lệ lạm phát rất cao cũng có tỷ lệ
tăng trưởng cao nhất. Chứng cứ về các nước Châu Mỹ Latinh cũng như các nước
khác trên thế giới dường như bảo vệ cho ý kiến rằng: lạm phát cực kỳ cao là kết
quả của tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao. Tuy nhiên cũng lưu ý rằng ta đang nhìn vào
một chứng cứ rút gọn, nó chỉ nhằm vào mối tương quan giữa hai biến số: tăng
trưởng tiền tệ và tỷ lệ lạm phát. Lạm phát gây nên tăng trưởng cung tiền tệ hoặc
một nhân tố thứ ba thúc đẩy cả tăng trưởng tiền tệ và lạm phát.
Ta có thể nhìn vào những giai đoạn lịch sử mà lúc đó mức tăng trưởng tiền tệ
tăng lên thể hiện là một sự kiện ngoại sinh, do vậy một tỷ lệ lạm phát cho một thời
kỳ kéo dài đi tiếp theo sau mức tăng của tăng trưởng tiền tệ sẽ cho ta biết tăng
trưởng tiền tệ cao là một động lực đằng sau lạm phát.
2. Siêu lạm phát của Đức 1921 - 1923:
Đức đã thất bại trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, kinh tế bị tàn phá nặng
lề với mức sản lượng thấp và nguồn thu thấp từ thuế, đã gia tăng thêm bởi những
khoản bồi thường mà Đức phải nộp cho các nước thắng trận. Lạm phát đã bùng ra
ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Rồi đến quân đội Pháp chiếm đóng vùng Ruhr
(3-1923) làm nảy ra cuộc "kháng cự thụ động" cũng là yếu tố làm cho đồng tiền
của Đức mất giá nhanh. Chỉ trong vài tháng đồng Mác của Đức đã mất toàn bộ giá
trị trên thị trường hối đoái.
Từ 1921 đồng Mác không còn được dùng làm tiền dự trữ có giá trị, cuối năm
1922 mở ra giai đoạn 2. Đồng Mác không còn là đơn vị đo lường giá trị, đồng Đôla
đang dần chiếm vị trí của đồng Mác trước đây. Đồng Mác chỉ còn giữ lại phần nào
chức năng tối thiểu làm trung gian trong việc trao đổi.
Cuối cùng năm 1922 người ta không tính bằng đồng Mác mà căn cứ vào số
lượng vật chất của hàng hoá, đến tháng 8-1923 chẳng còn ai nghĩ đến chuyện đầu
cung cấp cho Chính phủ hàng hoá và dịch vụ.
Cuối năm 1921, cung tiền tệ bắt đầu tăng nhanh và mức giá cả cũng vậy. Năm
1923 tình hình ngân sách của Chính phủ Đức lại càng xấu đi hơn nữa. Đó là nhân
quả ngược rất vô lý và rất khó mà hình dung được một nhân tố thứ ba có thể có
một động lực thúc đẩy đằng sau lạm phát và sự bùng nổ cung tiền tệ.