1 Luận Văn
Ảnh hưởng của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế trong công cuộc đổi
mới kinh tế của Việt Nam - Một số giải pháp kiểm soát lạm phát để đảm
bảo tăng trưởng trong thời gian sắp tới
3
Mục Lục
Phần 1: Những hiểu biết chung về lạm phát và ảnh hưởng
của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế. 1
1- Nhận thức chung về lạm phát. Các quan điểm về lạm phát
2
2. Các nguyên nhân của lạm phát 3
3. Ảnh hưởng của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế 5
Phần 2: Lạm phát với tăng trưởng kinh tế trong thực tiễn
kinh tế ở Việt Nam 12
1. Lạm phát với tăng trưởng kinh tế trong những năm qua. 15 4
2. Vấn đề mới nảy sinh : giảm phát và ảnh hưởng của nó đối
- Lạm phát vừa phải : là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10% một năm. lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng
kể đối với nền kinh tế.
- Lạm phát phi mã : Xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ
2 hoặc 3 con số trong 1 năm. Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. 6
- Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã. Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là siêu lạm phát
điển hình trong lịch sử lạm phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần.
Siêu lạm phát gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và sâu sắc.
Lạm phát là vấn đề không xa lạ đối với một nền kinh tế hàng hoá và
hầu hết mọi người đều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát ở
những mức độ khác nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm phát là gì không phải
dễ, ngay cả các nhà kinh tế học cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về
lạm phát.
a- Trường phái của Karl Marx:
Theo Marx, lạm phát là do ý chỉ chủ quan của Nhà nước. Nhà nước
chủ động tạo ra lạm phát là nhằm hai mục đích : bù đắp bội chi ngân sách
và đảm bảo lợi ích cho Nhà nước. Cơ sở để Marx coi lạm phát là hành
động chủ quan của Nhà nước xuất phát từ 2 lý do: Thứ nhất Marx khẳng
định lạm phát là bạn đường của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa xã hội
không có lạm phát hoặc chỉ có lạm phát lành mạnh mà thôi. Thứ 2, bản
chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột, giai cấp tư sản là người nắm chính
quyền. Chính giai cấp này đã bóc lột nhân dân lao động lần thứ nhất bằng
sản xuất giá trị thặng dư và lần thứ hai bằng lạm phát.
b- Trường phái kinh tế học thị trường :
phân tích của phái tiền tệ, cung tiền tệ được coi là nguyên nhân duy nhất
làm dịch chuyển đường tổng cầu, cũng chính là nguyên nhân làm nền kinh
tế chuyển dịch.
Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 với sản phẩm ở mức tỷ lệ tự nhiên, giá
cả tại P1. Nếu cung tiền tệ tăng lên đều đặn dần dần trong suốt cả năm thì
đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2. Trước tiên trong một thời
gian rất ngắn, nền kinh tế có thể chuyển động đến điểm 1’, sản phẩm có thể
tăng lên trên mức tỷ lệ tự nhiên Y’. Nhưng kết quả giảm thất nghiệp xuống
dưới mức tỷ lệ tự nhiên sẽ làm lượng tăng lên, đường tổng cung nhanh
chóng di chuyển vào. Nó sẽ dừng di chuyển khi nào đạt đến AS2. Tại đó
nền kinh tế quay trở lại mức tự nhiên của sản phẩm trên đường tổng cung
dài hạn. Tại điểm thăng bằng nối (điểm 2), mức gia tăng từ P1 lên P2.
P1
P2
P3
P4
1’
2
3’
Tổng
mức giá
cả P 9
Nếu năm sau đó cung tiền tệ tăng lên, đường tổng cầu sẽ lại di
chuyển sang phải đến AD3, đường tổng cung di chuyển vào từ AS2 đến
AS3, nền kinh tế sẽ chuyển động sang điểm 2’ sau đó sang 3, mức gia tăng
lên P3. Cứ như vậy nếu cung tiền tệ tiếp tục tăng thì nền kinh tế sẽ tiếp tục
chuyển động đến những mức giá càng cao hơn nữa. Khi cung tiền tệ còn
tăng thì quá trình này sẽ tiếp tục và lạm phát sẽ xảy ra.
Như vậy cách phân tích của phái tiền tệ chỉ ra rằng lạm phát nhanh là
do sự tăng cao của cung tiền tệ thúc đẩy.
d. Quan điểm của phái Keynes:
Giống như kết luận của phái tiền tệ, phái Keynes cho rằng việc tăng
nhanh cung tiền tệ sẽ làm mức giá cả tăng kéo dài với tỷ lệ cao do vậy gây
nên lạm phát. Cách phân tích của phái Keynes chỉ ra rằng cung tiền tệ kéo
dài sẽ có ảnh hưởng như nhau đối với đường tổng cầu và tổng cung. Phái
Keynes cũng không cho rằng có nhân tố nào khác ngoài tiền tệ có thể gây
nên lạm phát mặc dù Keynes cho phép những nhân tố khác ngoài những
thay đổi trong cung tiền tệ ảnh hưởng đến đường tổng cầu và tổng cung
như chính sách tài chính và các cú sốc cung tiền tệ.
Trong cách phân tích của Keynes, chính sách tài chính tự nó không
thể gây nên lạm phát.
sản phẩm ở mức tỷ lệ tự nhiên và mức giá cả P1. Đường tổng cầu di
chuyển đến AD2 khi tăng lên trong chi tiêu của chính phủ làm chuyển đến
điểm 1’. Tại đó sản phẩm ở trên mức tỷ lệ tự nhiên tại Y1. Đường tổng
cung di chuyển vào đến A2. Ở đó sản phẩm lại ở mức tỷ lệ tự nhiên và mức
giá cả tăng lên P2. Kết quả ròng của việc tăng thường xuyên trong chỉ tiêu
chính phủ là việc tăng thường xuyên từng đợt của mức giá cả. Tuy nhiên
với tỷ lệ lạm phát, khi ta chuyển từ điểm 1 đến 1’ rồi đến 2, mức giá cả
tăng và ta có tỷ lệ lạm phát dương. Nhưng khi tới điểm 2 thì tỷ lệ lạm phát
lại quay về số 0. Như vậy việc tăng từng đợt trong chi tiêu của chính phủ
chỉ đưa đến sự tăng tạm thời của tỷ lệ lạm phát chứ không phải là mức lạm
phát mà trong đó mức giá cả tăng kéo dài. Tuy nhiên nếu chi tiêu của chính
phủ tăng kéo dài thì có thể có mức giá cả tăng kéo dài. Nó thể hiện rằng
cách phân tích của phái Keynes có thể bác bỏ ý kiến của Fridman rằng lạm
phát lúc nào cũng là một hiện tượng tiền tệ. Nhưng vấn đề là ở chỗ việc chi 11
tiêu của chính phủ tăng lên kéo dài không phải là một chính sách có thể
thực hiện được bởi có một giới hạn đối với tổng số tiền chính phủ có thể
chi. Chính phủ không thể chi hơn 100% GDP.
Mặt khác của chính sách tài chính: đó là thuế. Việc kéo dài cắt giảm
thuế cũng không thể đưa đến lạm phát. Tương tự như trên sẽ có một sự
tăng duy nhất một lần trong mức giá cả nhưng sự tăng lên trong tỷ lệ lạm
phát sẽ chỉ là tạm thời. Ta có thể tăng mức giá cả bằng cách cắt giảm thuế
hơn nữa, nhưng quá trình này phải dừng lại khi thuế ở mức số không, khi
đó không thể giảm thuế được nữa.
Hiện tượng về phía cung tự nó cũng không thể gây ra lạm phát.
1
12
đường tổng cầu ở tại AD1 thì nền kinh tế ở tại điểm 1’ tại đó sản phẩm ở
dưới mức tỷ lệ tự nhiên Y1 và mức giá cả là cao hơn P2. Đường tổng cung
sẽ di chuyển trở lại AS1 bởi thất nghiệp là trên tỷ lệ tự nhiên, nên kinh tế
chuyển từ điểm 1’ xuống điểm 1. Kết quả của cú sốc cung là quay trở lại
tình trạng công ăn việc làm đầy đủ ở mức giá cả ban đầu và không xảy ra
lạm phát mặc dù có thể có mức giá cả tạm thời tăng.
Như vậy việc phân tích tổng cung và tổng cầu cho thấy các quan
điểm của phái Keynes và phái tiền tệ về quá trình lạm phát không khác
nhau lắm. Thừa nhận lạm phát là một sự tăng kéo dài của mức giá cả với tỷ
lệ nhanh, đại đa số các nhà kinh tế đều đồng ý với Milton Friedman rằng
“lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.
2. Các nguyên nhân của lạm phát:
a. Lạm phát cầu kéo:
Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản
lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Khi xảy ra lạm phát cầu kéo người
ta thường nhận thấy lượng tiền không lưu thông và khối lượng tín dụng
tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa.
Bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng
cung hạn chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường
lao động đã đạt cân bằng. 13
2
3
4
Tổng sản phẩm
Y
Yn
AD1
AD2
AD3
AD4
AS4
AS3
AS2
AS1
Y’
Như vậy theo đuổi một chỉ tiêu sản phẩm quá cao hay tương đương
là một tỷ lệ thất nghiệp quá thấp là nguồn gốc sinh ra chính sách tiền tệ lạm
phát.
b. Lạm phát chi phí đẩy: 15
Ngay cả khi sản lượng chưa đạt mức tiềm năng nhưng vẫn có thể xảy
ra lạm phất ở nhiều nước, kể cả ở những nước phát triển cao. Đó là một đặc
điểm của lạm phát hiện tại. Kiểu lạm phát này gọi là lạm phát chi phí đẩy,
vừa lạm phát vừa suy giảm sản lượng, tăng thêm thất nghiệp nên cũng gọi
là “lạm phát đình trệ”.
Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào, đặc biệt là các vật tư cơ
bản: xăng, dầu, điện là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường
AS dịch chuyển lên trên. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả lại tăng
lên và sản lượng giảm xuống. Giá cả sản phẩm trung gian (vật tư) tăng đột
biến thường do các nguyên nhân như thiên tại, chiến tranh, biến động chính
trị kinh tế
Lạm phát chi phí cũng có thể là kết quả của chính sách ổn định năng
động nhằm thúc đẩy một mức công ăn việc làm cao. Nó xảy ra do những cú
sốc cung tiêu cực hoặc do việc các công nhân đòi tăng lương cao hơn gây
nên. P4
AS3
AS2
AS1
T
ổ
ng s
ả
n ph
ẩ
m Y
Tổng
mức giá
cả 16
Lúc đầu nền kinh tế ở tại điểm 1. Giả định công nhân đòi tăng lương
do họ muốn tăng lương thực tế hoặc do họ dự đoán lạm phát sẽ lên cao nên
đòi tăng lương để khớp với mức lạm phát. Ảnh hưởng của việc tăng đó
tương tự như một cú sốc cung tiêu cực làm đường tổng cung di chuyển vào
đến AS2. Nếu chính sách tài chính, tiền tệ không thay đổi thì nền kinh tế
chuyển tới điểm 1’ sản phẩm sẽ giảm xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên trong
khi giá cả tăng lên. Khi đó do sản phẩm giảm, thất nghiệp tăng, các nhà
thời kỳ đầu nếu thiếu hụt được trang trải bằng tạo ra tiền tệ thì cung tiền tệ
sẽ tăng làm đường tổng cầu dịch sang phải và mức giá cả tăng lên. Nếu
thâm hụt ngân sách vẫn xảy ra trong thời kỳ sau, cung tiền tệ sẽ lại tăng lên
và đường tổng cầu lại di chuyển sang phải làm mức giá cả tăng hơn nữa.
Khi thâm hụt còn dai dẳng và chính phủ phải tin tiền để trang trải thâm hụt
đó thì quá trình này sẽ tiếp tục và đưa đến lạm phát kéo dài.
Tuy nhiên nếu là thâm hụt tạm thời thì nó sẽ không gây nên lạm phát
trong thời kỳ thâm hụt xảy ra, tiền tệ sẽ tăng lên để trang trải thâm hụt.
Việc di chuyển ra của đường cầu sẽ làm mức giá cả tăng lên trong thời kỳ
sau không còn thâm hụt thì không còn nhu cầu in tiền nữa. Đường tổng cầu
sẽ không di chuyển nữa, mức giá cả sẽ không tiếp tục tăng. Như vậy sự 18
tăng lên một đợt trong cung tiền tệ do thâm hụt tạm thời chỉ gây nên sự
tăng lên một đợt trong mức giá cả và lạm phát không mở rộng.
Mặc dù kết quả là lạm phát nhưng chính phủ vẫn thường xuyên trang
trải thâm hụt dai dẳng bằng tạo thêm tiền. Nếu các nước đang phát triển bị
thâm hụt ngân sách, họ không thể trang trải bằng phát hành trái khoán do
không có một thị trường vốn phát triển nên phải dùng đến cách in tiền. Kết
quả là khi bị thâm hụt nghiêm trọng so với GNP của họ thì cung tiền tệ
tăng trưởng với tỷ lệ cao và gây nên lạm phát. Ngược lại ở những nước
phát triển đặc biệt là Mỹ do có thị trường chứng khoán nhà nước phát triển
tốt nên có thể phát hành nhiều trái khoán để tài trợ thâm hụt. Tuy nhiên
không phải thâm hụt tại Mỹ không có nguy cơ lạm phát bởi Fed có thể có
mục tiêu ngăn chặn lãi suất cao. Khi chính phủ phát hành trái khoán để tài
trợ thâm hụt có thể gây nên áp lực với lãi suất. Khi đó Fed có thể mua trái
khoán để nâng giá trái khoán và ngăn chặn lãi suất tăng, kết quả là cung
tiền tăng lên và gây phát sinh lạm phát.
20
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là sự biểu hiện tập
trung nhất về các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như: cân đối giữa sản xuất
và tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, thu chi ngân sách, thanh toán quốc tế Nếu
một trong những cân đối này bị vi phạm sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống
cấn đối vĩ mô của nền kinh tế, đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
lạm phát. Khi đó hoặc:
Một là: lạm phát gia tăng. Hậu quả là đầu tư quá mức, hiệu quả thấp,
lãng phí vốn, giá cả tăng, nhu cầu có khả năng thanh toán giảm sút, tốc độ
sản xuất chậm lại, thất nghiệp nảy sinh.
Hai là: lạm phát quá thấp (thiểu phát) khi đầu tư trong nước giảm
sút, một phần vốn đáng kể di chuyển ra ngoài hoặc rút về tích trữ, sản xuất
và lưu thông đình trệ, thất nghiệp gia tăng.
Cả hai trường hợp trên đều ảnh hưởng tiêu cực đến nhịp độ tăng
trưởng của nền kinh tế. Về vấn đề ảnh hưởng của lạm phát đối với vấn đề
tăng trưởng kinh tế tồn tại 2 hệ quan điểm cơ bản.
Quan điểm thứ nhất cho sự ổn định về giá cả (lạm phát bị kiềm chế
giữ vững ở mức 0%) là nền tảng tốt nhất cho sự tăng trưởng nhanh. Những
nhà chính trị và kinh tế theo quan điểm này cho rằng sự ổn định giá trị tiền
tệ là vấn đề cần phải bảo vệ và duy trì. Họ đã đưa ra các lý lẽ tác hại của
lạm phát đối với toàn bộ nền kinh tế và cho rằng chỉ có sự ổn định như vậy
mới thúc đẩy sự tăng trưởng cao và bền vững. 21
Quan điểm thứ 2 với tư tưởng “lạm phát vừa phải” sẽ có tác dụng
khuyến khích sản xuất phát triển với tốc độ cao thông qua lạm phát. Những
phát thấp có khuynh hướng tăng trưởng nhanh hơn. Nhóm các nước có
mức lạm phát trung bình dưới 6%/năm thì mức tăng GDP/đàu người trung
bình là 2,1%/năm, các nước có lạm phát từ 6 – 10%/năm thì mức tăng
trưởng GDP/đàu người là 1,9%, còn những nước có mức lạm phát trên
10%/năm thì mức tăng trưởng GDP/đầu người là dưới 1%.
Qua phân tích các nước phát triển cho thấy mối liên hệ giữa tăng
trưởng và lạm phát trên phương diện chỉ số là không vững chắc và không
trở thành quy luật chung cho các nước.
Lạm phát và tăng trưởng của các nước công nghiệp phát triển.
a. Giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP) (%).
1991 1992 1993 1994 1995
- Mỹ
- Nhật Bản
- 1,2
4,0
2,1
1,3
2,8
- 0,5
3,1
0,5
2,7
2,3 23
- Đức
- Pháp
- Italia
0,8
1,1
1,7
2,0
3,7
2,1
1,5
2,1
2,2
2,7
2,3
2,9
4,1
2,0
2,6
2,7
b. Tỷ lệ lạm phát (%).
1991 1992 1993 1994 1995
- Mỹ
- Nhật Bản
- Đức
- Pháp
- Italia
- Anh
- Canada
- G7
- Các nước OECD ở Châu Âu
- Các nước toàn bộ OECD
2,4
0,7
2,9
1,9
4,1
3,0
1,8
2,2
3,0
3,2
2,8
0,7
2,0
1,6
2,9
3,0
1,9
2,1
2,5
3,1 24
Trong thực tế cũng có trường hợp:
- Khi kinh tế tăng trưởng cao, nhu cầu tài chính mở rộng kéo theo chỉ
số giá tăng. Chỉ số giá ở đây là hệ quả chứ không phải là động lực.
- Khi lạm phát cao buộc phải thu hẹp tín dụng thì lạm phát giảm,
mức tăng GDP danh nghĩa có xu hướng chậm lại làm mức tăng GDP danh
nghĩa gắn với mức tăng thực tế.
5,1 8,0 5,1 6,0 8,6 8,1 8,8 9,5
Lạm phát 410,9
34,8 67,2 67,4 17,2 5,2 14,4 12,7
Công cuộc chống lạm phát ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào những
vấn đề: Nối lỏng cơ chế kiểm soát giá cả, phi tập trung hóa tiến trình ra các
quyết định về kinh tế, thống nhất điều hành tỷ giá theo quan hệ cung cầu
ngoại tệ, khuyến khích xuất khẩu đồng thời thi hành một chính sách lãi suất