Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhập khẩu của công ty kinh doanh và sản xuất vật tư hàng hoá MATECO pot - Pdf 15

 Luận văn

Thực trạng và một số
giải pháp nhằm thúc đẩy
hoạt động nhập khẩu
của công ty kinh doanh
và sản xuất vật tư hàng
hoá MATECO

1
2LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mang lại một sự đổi mới toàn diện trên
mọi lĩnh vực. Chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bước ngặt quan trọng của nền kinh tế đất
nước, từng bước đưa nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới bằng các quan hệ kinh

3

Trong quá trình viết đề tài này em được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
PGS - PTS Đồng Xuân Ninh cùng thầy giáo Hồ Đình Bảo. Em xin bày tỏ lòng cảm ơn
chân thành tới thày cô giáo đã giúp em hoàn thành đề tài này. Trong giới hạn về thời
gian cũng như kiến thức và kinh nghiệm nên đề tài em nghiên cứu không tránh khỏi
thiếu sót, em mong nhận được sự chỉ bảo hướng dẫn của các thầy cô giáo giúp em
hoàn thiện kiến thức.
4

triển mới, tạo điều kiện khai thác lợi thế, tiềm năng sẵn có của nước ta nhằm sử dụng
chúng trong phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất. Thương mại quốc tế chỉ
ra và xác định cho một nước biết được đâu là lợi thế của mình, chỉ ra đúng đắn nên
đầu tư vào đâu, đầu tư vào lĩnh vực nào có lợi nhất.
Nhập khẩu sẽ là nhân tố giúp cho chúng ta tháo bỏ những vướng mắc mà các
nước nghèo thường mắc phải, phương châm đó là vay mượn công nghệ nước ngoài
trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa. 5Thực chất ở đây, nhập khẩu hàng hoá là việc mua bán hàng hoá từ các tổ chức
kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu tại thị
trường nội địa hoặc tái xuất với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất và tiêu
dùng với nhau.
Xu thế nhập khẩu bổ sung để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cũng là một tất yếu,
thông qua đó nước ta có thể từng bước thay đổi, hoàn thiện cơ cấu tiêu dùng của nhân
dân theo hướng hiện đại hoá. Điều đó cũng đồng thời dẫn đến việc nâng cao kỹ thuật
công nghệ sản xuất trong nước. Do vậy, Nhà nước ta đã đề ra chính sách nhập khẩu
chặt chẽ, có chon lọc, nhất là nhập khẩu vật tư thiết bị, máy móc, kỹ thuật công nghệ
để tăng cường tiếp thu công nghệ nước ngoài, từ đó phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một trong 2 hoạt động cấu thành nên nghiệp vụ xuất nhập khẩu,
là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động ngoại thương của mỗi quốc gia.
Nó tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sống, thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau
nhau giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Nó tác động tích cực đến sự
phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của nền kinh tế mỗi quốc gia về
sức lao động, vốn cơ sở sản xuất, tài nguyên và khoa học kỹ thuật. Đặc biệt trong tình

hội tiêt kiệm chi phí và thời gian tạo ra sản phẩm.
Tuy nhiên việc phát huy hết vai trò của nhập khẩu còn phụ thuộc vào đường
lối, phương hướng, quan điểm của mỗi quốc gia. Vậy ở nước ta vai trò của nhập khẩu
được phát huy thế nào?
Chúng ta đều biết quan hệ kinh tế quốc tế trong chế độc tập trung bao cấp của
nền kinh tế nước ta chỉ thu hẹp trong phạm vi một vài nước XHCN trên các khoản
viện trợ và mua bán theo nghị định đã làm thui chột hoạt động nhập khẩu. Sự quản lý
quá sâu của Nhà nước đã làm mất đi tính linh hoạt, uyển chuyển của hoạt động nhập
khẩu, do đó không phát huy được vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Chủ thể của hoạt động nhập khẩu trong cơ chế cũ là những doanh nghiệp Nhà nước
độc quyền thụ động, cơ cấu tổ chức cồng kềnh và kém năng động dẫn đến công tác
nhập khẩu trì trệ, không đáp ứng được nhu cầu hàng hoá trong nước. Trong hoàn cảnh
đó Đại hội Đảng VI là bước đột phá đưa đến sự chuyển mình của nước ta thoát khỏi
nền kinh tế cứng nhắc. Chuyển sang nền kinh tế mới với xu hướng toàn cầu hoá, khu
vực hoá hoạt động nhập khẩu đã phát huy lớn mạnh được vai trò của nó. Nhập khẩu
tác động đến nền kinh tế nước ta ở những điểm sau:
Nhập khẩu góp phần phát triển sản xuất, chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với định hướng phát triển nền kinh tế xã hội
của Đảng, chính sách kinh tế đối ngoại nói chung, nhập khẩu nói riêng phải luôn là
một giải pháp có tầm cỡ chiến lược nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân.
Chính sách nhập khẩu phải tranh thủ cao nhất nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ tiên tiến
cũng như sự đổi mới đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý nhằm thúc đẩy hàng hoá của
nước ta phát triển.
Nhập khẩu đã tác động tích cực đến hoạt động giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân, không ngừng ổn định kinh tế xã hội. Thông qua hoạt động
nhập khẩu đã đáp ứng kịp thời tư liệu sản xuất cũng như trang thiết bị phục vụ đầu tư 7


nước có sự biến động ít nhiều cũng ảnh hưởng tới những nước có quan hệ xuất nhập
với nước đó. Luật pháp quốc tế buộc các nước vì lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong hoạt động nhập khẩu do đó tạo nên sự tin
tưởng cũng như hiệu quả cao trong hoạt động này.
3.2- Tỷ giá hối đoái 8

Nhân tố này có tầm quan trọng quyết định tới việc lựa chọn bạn hàng, mặt hàng
cũng như phương án kinh doanh của không chỉ các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp
mà còn ảnh hưởng tới các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu nhưng không phải nhập
khẩu trực tiếp. Sự biến động của các nhân tố này sẽ gây ra những biến động lớn trong
tỷ trọng nhập khẩu cũng như xuất khẩu. Chẳng hạn, tỷ giá hối đoái tăng lên nghĩa là
đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với đồng ngoại tệ. Nếu như không có các nhân tố
khác ảnh hưởng sẽ có tác động khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ
hơn so với giá cả chung trong nước. Trong trường hợp này tác động đối với hoạt động
xuất khẩu sẽ ngược lại. Có thề nói, trong kinh doanh quốc tế nói chung trong hoạt
động nhập khẩu nói riêng thì việc dự toán được tỷ giá hối đoái có ý nghĩa hết sức
quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
3.3- Ảnh hưởng của sự biến động thị trường trong và ngoài nước
Ta có thể hình dung hoạt động nhập khẩu giống như một chiếc cầu nối giữa hai
thị trường tạo ra sự phù hợp, gắn bó cũng như phản ánh sự tác động qua lại giữa
chúng, phản ánh sự biến động của một thị trường. Cụ thể như sự tồn đọng, giá cả,
giảm nhu cầu về một mặt hàng ở thị trường trong nước sẽ làm ngay lập tức lượng
hàng đó thông qua chiếc cầu nhập khẩu và ngược lại. Cũng như vậy thị trường ngoài
nước quyết định tới sự thoả mãn nhu cầu trên thị trường trong nước, sự biến động của
nó về khả năng cung cấp, về sản phẩm mới, về sự đa dạng hoá dịch vụ cũng được
phản ánh qua chiếc cầu nhập khẩu để tác động trên thị trường nội địa.
3.4- Sự ảnh hưởng của nền sản xuất trong và ngoài nước

động nhập khẩu. Tuy nhiên, đây không phải là nhân tố duy nhất mà còn nhiều nhân tố
khác cần được xem xét.
3.6- Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng
Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng phát triển khá mạnh, nó tác động tới tất
cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù ở thành phần kinh tế nào những vai trò to lớn
của nó, đó là việc đảm bảo cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận
lợi nhanh chóng, chính xác cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không
thực hiện được nếu như không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Dựa trên các
mối quan hệ, uy tín nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng rất thuận tiện cho các doanh
nghiệp tham gia vào hoạt động nhập khẩu vì sẽ được đảm bảo về mặt lợi ích và trong
nhiều trường hợp có uy tín với ngân hàng đứng ra bảo lãnh hay cho vay với lượng vốn
lớn, kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được cơ hội kinh doanh.
3.7- Ảnh hưởng của những nhân tố khác.
Ngoài các nhân tố trên, còn có một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng nhất định
đến hoạt động nhập khẩu.
Ảnh hưởng của phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng của mỗi quốc gia sẽ
quyết định đến lượng hàng cũng như hình thức kinh doanh nhập khẩu.
Ảnh hưởng của sự phát triển kỹ thuật công nghệ trên thế giới làm đa dạng hoá
chủng loại tạo ra những nhu cầu do đó cũng đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu.
Sự xuất hiện của liên kết kinh tế ở phạm vi khu vực và trên phạm vi toàn thế
giới: khi tham gia vào các khối liên kết kinh tế (ASEAN, EU, APEC ) thì mọi quốc
gia đềi giành cho nhau những ưu đãi đặc biệt về thuế quan, các chính sách khuyến
khích do đó sẽ làm cho giá hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn nên hoạt động nhập khẩu sẽ
gia tăng. 10

Những nhân tố này là khách quan mà bản thân doanh nghiệp chỉ có thể nhận
thức và có phương hướng kinh doanh cho phù hợp chứ không thể tự mình làm tác

một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu
theo yêu cầu của mình. 11

Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để nhập khẩu
hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một phần thù lao gọi là phí uỷ
thác.
Đặc điểm: Trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhận uỷ thác
không phải bỏ vốn, không phải xin hạn nghạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị
trường hàng nhập mà chỉ đứng ra làm đại diện bên uỷ thác để tìm và giao dịch với bạn
hàng nước ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng cũng như thay bên
uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì các doanh nghiệp chỉ được tính phí uỷ thác
chứ không được tính doanh thu và không chịu thuế doanh thu.
Khi nhập khẩu uỷ thác thì các doanh nghiệp nhận uỷ thác phải lập 2 hợp
đồng:
- Một hợp đồng ngoại
- Một hợp đồng nội uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác
1.3- Nhập khẩu liên doanh
Khái niệm: là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế
một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ
trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát
triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên lãi cùng chia, lỗ cùng chịu
Đặc điểm: so với nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp bớt chịu rủi ro
hơn bởi vì mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất
định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên cũng tăng theo vốn góp. Việc phân chia
chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp; lãi lỗ tuỳ theo hai bên thoả thuận phân chia

tiêu dùng trong nước, nhập tái xuất ít, chưa ở mức độ cao thế nhưng trong tương lai sẽ
phát triển thông dụng.
1.5- Nhập khẩu tái xuất
Khái niệm: là hoạt động nhập hàng vào trong nước nhưng không phải để
tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước nào đó nhằm thu lợi nhuận, những
hàng nhập này không được qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất
luôn thu hút 3 nước tham gia: nước xuất khẩu , nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Đặc điểm: Doanh nghiệp nước tái xuất phải lập 2 hợp đồng:
- Một hợp đồng nhập khẩu
- Một hợp đồng xuất khẩu
Doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng
xuất và nhập sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành
hoạt động. 13

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất và
nhập, doanh số tính trên giá trị hàng xuất do đó phải chịu thuế doanh thu.
Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể
chuyển thẳng sang nước thứ 3, nhưng trả tiền thì phải luôn do người tái xuất thu từ
người nhập khẩu và trả cho người xuất khẩu. Nhiều khi người tái xuất còn thu được
lợi tức về tiền hàng do thu được nhanh và trả chậm.

Trên đây đã khái quát một số hình thức nhập khẩu thông dụng ở nước ta hiện
nay, cho dù là hình thức nào thì các bước tiến hành hoạt động nhập khẩu ở doanh
nghiệp xuất nhập khẩu cũng theo một trình tự chung.
2. Các công cụ quản lý nhập khẩu của Nhà nước
Mỗi quốc gia trên thế giới sử dụng công cụ khác nhau để quản lý hoạt
động nhập khẩu, có những nước đánh thuế cao đối với nhập khẩu, có những nước lại

+ Hàng nguyên liệu, vật tư để gia công xuất khẩu theo hợp đồng đã ký.
+ Hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
bên nước ngoài hợp tác liên doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác liên doanh
trong các trường hợp cần khuyến khích đầu tư theo quy định của luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
+ Hàng là quà tặng, quà biếu trong mức quy định
+ Những mặt hàng của công dân Việt Nam đi công tác và học tập, lao
động và hợp tác chuyên gia mang theo hoặc gửi về trong nước theo mức quy định của
Chính phủ Việt Nam
+ Hàng xuất khẩu của cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế được hưởng
các tiêu chuẩn miễn trừ do Chính phủ Việt Nam quy định phối hợp với điều ước quốc
tế mà doanh nghiệp Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
+ Thuế còn được hoàn lại cho người nhập khẩu trong trường hợp hàng là
vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất
Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo
nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò quan trọng
trong việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ, mới được hình thành ở Việt Nam
chưa các khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi ở đây không phải là thuế suất mà là những biện pháp
kinh tế cơ bản, mục tiêu chính là cạnh tranh trên thị trường thế giới, thống nhất chung
với năng suất và hiệu quả cao. Thuế cần được đơn giản để mọi người hiểu là nghĩa vụ
của mình. Thuế chồng lên thuế sẽ là một yếu tố làm tăng giá, làm giảm tính cạnh
tranh của hàng sản xuất trong nước.
2.2- Hạn nghạch nhập khẩu (Quota)
Hạn nghạch nhập khẩu là một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan.
Nó được hiểu là mức quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng 15


nhà xuất nhập khẩu.
2.3- Giấy phép nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu là một công cụ để quản lý nhập khẩu khác với hạn
nghạch giấy phép nhập khẩu được áp dụng rộng rãi hơn. 16

Sau đây là danh sách một số hàng hoá khi đi qua cửa khẩu Việt Nam đều
phải có giấy phép nhập khẩu.
- Hàng nhập khẩu theo hợp đồng mua bán ngoại thương
- Hàng nhập khẩu theo các dự án đầu tư chuyển giao công nghệ của nước
ngoài
- Hàng hội chợ triển lãm hàng quảng cáo
- Vật tư nguyên liệu, thiết bị nhập khẩu để gia công nhập khẩu
- Hàng nhập khẩu theo con đường viện trợ và vay nợ
Có hai loại giấy phép thường gặp:
- Giấy phép tự động: khi người nhập khẩu xin cấp giấy phép nhập khẩu thì sẽ
được cấp ngay không đòi hỏi gì cả.
- Giấy phép không tự động: đối với là giấy phép này muốn nhập khẩu phải có
hạn nghạch nhập khẩu và bị ràng buộc bởi các hạn chế khác về nhập khẩu. Người
nhập khẩu am hiểu nâng cao quy định của Nhà nước và việc cấp giấy phép và những
phí tổn co liên quan đến việc xin giấy phép để hoạt động kinh doanh thuận lợi và có
hiệu quả cao.
2.4- Quản lý ngoại tệ
Đối với những nước thiếu ngoại tệ như nước ta, áp dụng những biện pháp kiểm
soát ngoại tệ bằng cách điều tiết nhập khẩu một số loại sản phẩm thông qua việc phân
phối ngoại tệ để nhập khẩu các hàng hoá đó qua ngân hàng quốc gia. Nhiều nước còn
quy định “hạn nghạch ngoại tệ” trên cơ sở hạn nghạch nhập khẩu được cấp. Người
nhập khẩu có thể ký hợp đồng mua hàng ở nước ngoài nhưng phải được quyền sử
Ký kết hợp đồng nhập khẩu
Xin giấy phép nhập khẩu
Mở L/C khi bên bán báo
Đôn đốc bên bàn giao hàng
Thuê
tàu

Làm thủ tục hải quan
Nhận hàng
Mua bảo hiểm hàng hoá
Kiểm tra hàng hoá
Giao cho
đơ
n v


đ

t hàng

cần xác định được mặt hàng cùng với nhãn hiệu, mẫu mã, phẩm chất, giá cả và số
lượng hàng hoá đó. 19

- Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó trong nước ra sao? Mỗi loại mặt hàng
đều có thói quen tiêu dùng riêng, điều đó thể hiện ở thời gian tiêu dùng, thị hiếu và
quy luật biến đổi của quan hệ cung cầu về mặt hàng đó trên thị trường.
- Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống? Bất cứ một sản
phẩm nào cũng đều có chu kỳ sống riêng. Nắm được mặt hàng mà doanh nghiệp dự
tính kinh doanh đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống sẽ xác định được các biện pháp
cần thiết để nâng cao doanh số bán hàng và thu được nhiều lợi nhuận.
- Tình hình sản xuất của mặt hàng đó trong nước như thế nào? Muốn
kinh doanh có hiệu quả thì bất kể doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến quan hệ
cung cầu về mặt hàng kinh doanh. Vấn đề mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu cần xem xét ở đây là: khả năng sản xuất, thời vụ sản xuất, tốc độ phát triển của
mặt hàng đó trong nước. Việc lựa chọn mặt hàng nhập khẩu không chỉ dựa vào những
tính toán, ước tính và những biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà còn dựa vào kinh
nghiệm của người nghiên cứu thị trường để dự đoán các xu hướng biến động của giá
cả thị

trường trong và ngoài nước, khả năng thương lượng để đạt tới điều kiện mua bán ưu
thế hơn.
1.2- Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
Đối với người nhập khẩu, việc tìm hiểu dung lượng thị trường hàng hoá
cần nhập là rất quan trọng. Có thể hiểu dung lượng thị trường của một hàng hoá là
một khối hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định (thế giới,
khu vực, quốc gia) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Nghiên cứu dung
lượng thị trường cần xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể cả lượng dự trữ, xu

doanh phải nắm được tình hình kinh doanh mặt hàng đó trên thị trường, các đối thủ

cạnh tranh và các dấu hiệu về chính trị, thương mại, luật pháp, tập quán buôn bán
quốc tế để hoà nhập nhanh chóng với thị trường.
1.3- Nghiên cứu giá cả trên thị trường quốc tế.
Trên thị trường thế giới, giá cả chẳng những phản ánh mà còn điều tiết
mối quan hệ cung cầu hàng hoá. việc xác định đúng đắn giá hàng hoá trong xuất nhập
khẩu có một ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả thương mại quốc tế.
Giá cả trong hoạt động xuất nhập khẩu là giá cả quốc tế. Giá quốc tế có
tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên thị trường thế giới. Giá cả
đó phải là giá cả giao dịch thương mại thông thường, không kèm theo một điều kiện
đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi được. Dự đoán xu hướng
biến động của giá cả và các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng ấy. Xu hướng biến động
của giá cả hàng hoá trên thế giới rất phức tạp, có lúc theo chiều hướng tăng, có lúc
theo chiều hướng giảm, có biệt có những lúc giá cả hàng hoá có xu hướng ổn định
nhưng xu hướng này chỉ là tạm thời. Để có thể dự đoán được xu hướng biến động trên
thị trường thế giới trước hết phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự đoán về tình hình
thị trường loại hàng hoá đó, đánh giá đúng ảnh hưởng của nhân tố tác động đến xu
hướng vận động của giá cả hàng hoá.
Các nhân tố tác động đến giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới có rất
nhiều và có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau. Khi dự đoán xu hướng biến 21

động của giá cả trong thời gian dài cần phân tích đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố
tác động lâu dài như: chu kỳ, giá trị khi dự đoán xu hướng biến động của giá cả
trong thời gian ngắn cần phân tích đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của những biến đổi về
cung cầu và các nhân tố mang tính tạm thời như: thời vụ, nhân tố tự nhiên.
2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu


Triển lãm là việc trưng bày, giới thiệu những thành tựu của một ngành,
một nền kinh tế nào đó. Ngày nay, triển lãm không chỉ là nơi trưng bày mà còn là nơi
thương nhân hoặc tổ chức kinh doanh tiếp xúc, giao dịch, ký kết hợp đồng.
Trên đây là một số phương thức giao dich, buôn bán chủ yếu trên thị
trường quốc tế, căn cứ vào mặt hàng nhập khẩu, đối tượng giao dịch, thời gian giao
dịch và khả năng của nhà kinh doanh để lựa chọn phương thức giao dịch cho phù hợp.
3. Đàm phán, ký kết hợp đồng
3.1- Đàm phán
Trong kinh doanh quốc tế, có ba hình thức cơ bản đó là: đàm phán qua
thư tín, qua điện tín và gặp gỡ trực tiếp. Mỗi một hình thức đều có những ưu điểm,
nhược điểm riêng. Vì vậy, phải tuỳ vào từng điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp,
tuỳ vào bạn hàng để lựa chọn hình thức đàm phán cho thích hợp.
Quá trình đàm phán bao gồm những bước sau:
- Hỏi giá: Là việc bên mua đề nghị bên bán cho biết những điều kiện của
mặt hàng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, thời hạn
và đồng tiền thanh toán.

- Báo giá: Là việc người bán thông báo trở lại người mua và người mua
đã nhận được có nghĩa là có sự cam kết của người bán về việc sẽ bán hàng.
- Hoàn giá: Bên mua không chấp nhận báo giá trên và đã đưa ra đề nghị
mới.
- Chấp nhận giá: Là đồng ý mọi điều kiện về chào hàng mà bên kia đưa
ra, khi đó hợp đồng được thực hiện.
- Xác nhận giá: bên mua và bên bán sau khi đã thống nhất thoả mãn lợi
ích sẽ lập hai biên bản xác nhận, bên lập ký trước và gửi cho bên kia ký xong giữ lại
một bản và gửi trả lại một bản.
3.2- Ký kết hợp đồng nhập khẩu
Sau khi các bên đã tiến hành đàm phán có kết quả thì việc tiếp theo là ký
kết hợp đồng ngoại thương.

Những điều khoản cơ bản trong hợp đồng:
- Các điều khoản về đối tượng hợp đồng
+ Tên hàng: Cần ghi tên thông dụng, tên thương mại và tên khoa học
(nếu có), có thể ghi thêm nơi sản xuất ra mặt hàng đó.
+ Số lượng: Phải ghi rõ đơn vị đo lường được hai bên lựa chọn, quy định
cụ thể số lượng hàng giao dịch.
+ Trọng lượng: Có thể tính trọng lượng hàng theo nhiều cách 24

- Các điều khoản về giá cả:
+ Đồng tiền tính giá: Có thể dùng đồng tiền của bên mau hoặc bên bán
hoặc của nước thứ ba nhưng phải là đồng tiền ổn định, tự do chuyển đổi.
+ Mức giá: Là giá cả quốc tế
+ Phương pháp định giá: Có một số cách như: giá cố định, giá quy định
sau, giá linh hoạt, giá di động.
+ Giảm giá: Bên bán có thể giảm giá cho bên mua nếu bên mua là khách
quen, mua số lượng lớn, thanh toán ngay.
- Điều khoản giao hàng:
+ Thời hạn giao hàng: Cần ghi rõ trong hợp đồng vì nếu giao không đúng
thời hạn có thể gây thiệt hại lớn cho người mua.
+ Địa điểm giao hàng
+ Phương thức giao hàng
+ Thông báo giao hàng
- Điều khoản thanh toán:
+ Đồng tiền thanh toán: Phải là đồng tiền ổn định, có khả năng chuyển đổi.

+ Phương thức thanh toán: có thể trả ngay, trả trước hoặc trả sau và có
thể kết hợp các loại hình đó trong một hợp đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status