Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thắng thầu xây dựng ở Công ty xây lắp vật tư kỹ thuật - Hà nội potx - Pdf 15

 Luận văn

Thực trạng và một số
giải pháp nhằm nâng cao
khả năng thắng thầu xây
dựng ở Công ty xây lắp
vật tư kỹ thuật - Hà nội LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới xây dựng đất nước theo con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, các dự án đầu tư xây dựng là một phần quan trọng của sự phát triển
kinh tế. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay chúng ta có thể khẳng định được rằng: Mọi
hoạt động sản xuất xây lắp có tầm quan trọng to lớn trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện hệ thống hoạt động sản xuất xây lắp, nhằm nâng cao hiệu quả các công
trình dự án đầu tư.
Để việc xây dựng đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi về chất lượng, kỹ thuật, tiến
độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và hạn chế tới mức thấp nhất những tranh chấp có thể
gây thiệt hại về vật chất hoặc hại đến uy tín của các bên hữu quan, việc sử dụng
phương pháp đấu thầu ngày càng tỏ ra có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, dự án của các
công ty có nhiều chủ sở hữu, các dự án thuộc khu vực Nhà nước , dự án được sự tài
trợ của các định chế tài chính quốc tế.

khởi đầu. Trước khi có quy chế đấu thầu ban hành kèm theo nghị định số 43/CP
ngày 16-07-1996 của Chính phủ có thể kể đến một số quy định về đấu thầu như sau:
- Quyết định số 91 TTG ngày 13-11-1992 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành về qui định về quản lý xuất nhập khẩu máy móc thiết bị.
- Quyết định số 60 BXD – VKT ngày 30-03-1994 của Bộ xây dựng ban hành về
“Quy chế đấu thầu” của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, công nghiệp, Giao
thông vận tải và các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
Sau này là quy chế đấu thầu ban hành kèm theo nghị định 43/CP ngày 16-07-
1996 của Chính phủ (đã được sửa đổi theo nghị định số 93/CP của Chính phủ ngày
23-07-1997) và hiện nay là quy chế đấu thầu ban hành kèm theo nghị định số
88/1999/NĐ-CP ngày 01-09-1999 của Chính phủ.
Theo quy định mới nhất, đấu thầu được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu
đáp ứng được các yêu cầu của các bên mời thầu. Trong đó, nhà thầu là tổ chức kinh
tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu. Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đấu
thầu hoặc pháp nhân đại diện, hợp pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách
nhiệm, thực hiện việc đấu thầu. Trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn nhà thầu có
thể là cá nhân.
Theo tính chất công việc, đấu thầu có thể áp dụng cho công việc sau:  Đấu thầu tuyển chọn tư vấn.
 Đấu thầu xây lắp

 Đấu thầu mua sắm hàng hóa.
 Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án.
Khi đó nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong
đấu thầu mua sắm hàng hóa, là nhà tư vấn đấu trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư.
Quy chế đấu thầu áp dụng cho các cuộc đấu thầu được tổ chức và thực hiện ở
Việt nam. Mục tiêu của đấu thầu là nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và
minh bạch trong quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả

thông báo công khai về các điều kiện, thời gian rộng rãi tối thiểu là 10 ngày trước khi
phát hành hồ sơ mời thầu. Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong
đấu thầu.
2.2 Đấu thầu hạn chế
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu
(tối thiểu là 5 nhà thầu) có đủ năng lực tham gia. Danh sách nhà thầu tham dự phải
được người ( hoặc cấp) có thẩm quyền chấp thuận. Hình thức này chỉ được xem xét
áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các gói thầu.
+ Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế.
+ Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc áp dụng đấu thầu hạn chế có lợi
thế.
2.3 Chỉ định thầu
Chỉ định thầu là hình thức lựa chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói
thầu để thương thảo hợp đồng. Hình thức này chỉ áp dụng được trong các hình thức
đặc biệt sau :
* Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch họa được phép chỉ định ngay
đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công tác kịp thời.
* Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh,
bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định. * Gói thầu đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở báo cáo
thẩm định của Bộ kế hoạch và đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và
các cơ quan liên quan.
2.4 Chào hàng cạnh tranh
Hình thức này được áp dụng cho những gói hàng mua sắm hàng hóa có giá trị
dưới 2 tỷ đồng. Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau
trên yêu cầu chào hàng bên mời thầu. Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện
bằng cách gửi trực tiếp, bằng Fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện

Phương thức này áp dụng cho những trường hợp sau :
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa và xây lắp có giá trị từ 500 tỷ đồng trở
lên.
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn
bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp.
- Dự án hợp đồng thực hiện theo hợp đồng chìa khoá trao tay.
Quá trình thực hiện phương thức này như sau:
a. Giai đoạn thứ nhất Các nhà thầu nộp Hồ sơ dự thầu sơ bộ gồm đề xuất về kỹ thuật và phương án tài
chính (chưa có giá) để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu,
nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị nộp Hồ sơ
dự thầu chính thức của mình.
b. Giai đoạn thứ hai
Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong giai đoạn thứ nhất nộp Hồ sơ
dự thầu chính thức với đề xuất về kỹ thuật và đề xuất chi tiết về kinh tế với đầy đủ
nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng giá dự thầu.
4. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN ĐẤU THẦU
4.1 Việc tổ chức đấu thầu chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
a. Văn bản quyết định đầu tư hoặc giấy phép quyết định đầu tư của người
(hoặc cấp) có thẩm quyền.
b. Kế hoạch đấu thầu đã được người có thẩm quyền phê duyệt. c. Hồ sơ mời thầu đã được người (hoặc cấp) có thẩm quyền phê duyệt.
d. Bên mời thầu không được tham gia với tư cách là nhà thầu đối với các gói
thầu do mình tổ chức.
Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn thực hiện công việc chuẩn bị dự
án hoặc đấu thầu lựa chọn đối tác để thực hiện dư án, điều kiện tổ chức đấu thầu là

Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư nắm được quyền chủ động hoàn toàn. Bởi vì,
chỉ khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ kỹ lưỡng về tất cả mọi mặt trước khi đầu tư mới tiến
hành mời thầu và tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu.
Tuy nhiên để đánh giá được đúng các hồ sơ dự thầu, đảm bảo tính công bằng
trong đấu thầu, đòi hỏi các cán bộ của chủ đầu tư phải có trình độ nhất định.Việc
quản lý một dự án đầu tư với bên B cũng đòi hỏi các cán bộ phải tự nâng cao trình độ
của mình để đáp ứng được với yêu cầu thực tế. Kết quả là thúc đẩy việc nâng cao
trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ kinh tế, kỹ thuật của bên chủ đầu tư
Thứ 2: Đối với các nhà thầu
Trước hết phương thức đấu thầu sẽ phát huy tính chủ động trong việc tìm kiếm
các cơ hội tham gia dự thầu và đấu thầu, các nhà thầu sẽ phải tích cực tìm kiếm các
thông tin do các chủ đầu tư đang mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng,
trên thị trường, gây dựng các mối quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước, tự
tìm cách tăng cường uy tín của mình để có thể nắm bắt được các cơ hội dự thầu.
Việc tham gia dự đấu thầu, trúng thầu và tiến hành thi công theo hợp đồng làm
cho nhà thầu phải tập trung nguồn vốn của mình vào một điểm đầu tư, ngay từ quá
trình tham gia đấu thầu. Nếu trình độ kỹ thuật công nghệ của nhà thầu không cao thì
cũng khó có cơ hội trúng thầu hoặc nếu có trúng thầu thì cũng do trình độ thi công,
năng lực quản lý của nhà thầu thấp kém dẫn đến dễ bị lỗ. Thực tế này đòi hỏi các nhà
thầu phải không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt như : tổ chức quản lý, đào tạo
đội ngũ cán bộ, đầu tư nâng cao năng lực máy móc thiết bị, có như vậy mới đảm bảo
thắng thầu, đảm bảo hiệu quả đồng vốn của mình bỏ ra là có lãi, mặt khác nâng cao
được trình độ thi công công trình, nâng cao uy tín được trên thị trường.
Thứ 3: Đối với Nhà nước
Hoạt động đấu thầu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tập trung (vốn từ
Ngân sách Nhà nước). Đấu thầu dựa trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu trên mọi
mặt (tài chính, kỹ thuật) nên nó thúc đẩy các đơn vị đấu thầu tăng cường trình độ,
hiệu quả về mọi mặt. Qua đấu thầu chủ đầu tư sẽ chọn được nhà cung cấp sản phẩm,
dịch vụ với giá hợp lý nhất đồng thời đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng.


 Nộp và nhận Hồ sơ dự thầu.
 Mở thầu.
 Đánh giá và xếp hạng nhà thầu.  Trình duyệt kết quả đấu thầu.
 Công bố trúng thầu và thương thảo hoàn thiện hợp đồng.
 Trình duyệt nội dung hợp đồng và ký hợp đồng.
2.1 Chuẩn bị đấu thầu
* Lập và trình duyệt kế hoạch đấu thầu của dự án.
Kế hoạch đấu thầu của dự án do bên mời thầu lập và phải được người có thẩm
quyền phê duyệt. Trường hợp chưa đủ điều kiện lập kế hoạch đấu thầu của toàn bộ
dự
án bên mời thầu có thể lập kế hoạch đấu thầu cho từng phần của dự án theo giai
đoạn thực hiện nhưng phải được người có thẩm quyền phê duyệt cho phép.
Nội dung kế hoạch đấu thầu của dự án bao gồm:
- Phân chia dự án thành các gói thầu
- Giá gói thầu và nguồn tài chính.
- Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu áp dụng đối với từng
gói thầu.
- Thời gian tổ chức đấu thầu cho từng gói thầu.
- Loại hợp đồng cho từng gói thầu.
- Thời gian thực hiện hợp đồng.
Như vậy những vấn đề cơ bản đều dược xác định trong kế hoạch đấu thầu. Gói
thầu là căn cứ để tổ chức đấu thầu và xét thầu được phân chia theo tính chất hoặc
trình tự của dự án phù hợp với công nghệ và đảm bảo tính đồng bộ của dự án.
Giá gói thầu được xác định cho từng gói thầu trên cơ sở tổng mớc đầu tư hoặc
tổng dự toán hoặc dự toán được duyệt. Các vấn đề khác ( lựa chọn phương thức đấu
thầu, thời gian thực hiện) được xác định cụ thể cho từng gói thầu tùy theo tính chất,
quy mô từng gói thầu.

sơ mời thầu thường gồm:
- Thư mời thầu hoặc thông báo mời thầu .
- Mẫu đơn dự thầu.
- Chỉ dẫn đối với nhà thầu .
- Chỉ dẫn kỹ thuật. - Bản tiền lương dự toán.
- Điều kiện chung của hợp đồng.
- Điều kiện cụ thể của hợp đồng.
- Hợp đồng kinh tế về giao nhận thầu xây lắp công trình.
- Mẫu bảo lãnh dự thầu.
- Mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Trường hợp cần sơ tuyển thì bên mời thầu phải lập hồ sơ tuyển bao gồm:
- Thư mời thầu.
- Chỉ dẫn sơ tuyển.
- Tiêu chuẩn đánh giá.
- Phụ lục kèm theo.
2.2 Sơ tuyển
Việc sơ tuyển nhà thầu phải được tiến hành đối với các gói thầu xây lắp có giá
trị từ 200 tỷ đồng trở lên nhằm lựa chọn các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm
thực hiện, đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Sơ tuyển nhà thầu được tiến hành
theo các bước:
- Thông báo mời sơ tuyển.
- Nhận và quản lý Hồ sơ dự thầu sơ tuyển.
- Đánh giá Hồ sơ dự thầu.
- Trình duyệt kết quả sơ tuyển.
- Thông báo kết quả sơ tuyển.
2.3 Mời thầu
Mời thầu được tiến hành thông qua các phương tiênh thông tin dại chúng hoặc

Bên mời thầu tến hành nghiên cứu, đánh giá chi tiết và xếp hạng các Hồ sơ dự
thầu đã được mở căn cứ theo yêu cầu Hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá được
người (hoặc cấp) có thẩm quyền phê duyệt trước khi mở thầu. Việc đánh giá các hồ
sơ dự thầu được thực hiện theo trình tự sau:
Bước1 : Đánh giá bộ Hồ sơ dự thầu
Việc đánh giá sơ bộ là nhằm loại bỏ được các Hồ sơ dự thầu không đáp ứng
được các yêu cầu bao gồm : - Kiểm tra tính hợp lệ của Hồ sơ dự thầu.
- Xét đáp cơ bản của Hồ sơ mời thầu.
- Làm rõ Hồ sơ dự thầu (nếu cần).
Bước 2 : Đánh giá chi tiết Hồ sơ dự thầu
Việc đánh giá chi tiết Hồ sơ dự thầu xây lắp được thực hiện theo phương pháp
đánh giá.
Trước hết, Hồ sơ dự thầu được đánh giá về mặt kỹ thuật để chọn danh sách
ngắn. Việc đánh giá được tiến hành dựa trên cơ sở yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá
được quy định trong Hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá chi tiết được người (hoặc
cấp) có thẩm quyền phê duyệt trước thời gian mở thầu. Các nhà thầu đạt số điểm tối
thiểu từ 70% tổng số điểm về kỹ thuật trở lên sẽ được chọn vào danh sách ngắn.
Đánh giá vè mặt tài chính, thương mại các nhà thầu thuộc danh sách ngắn:
việc đánh giá veeg mặt tài chính thương mại được tiến hành trên cùng một mặt bằng
theo tiêu chuẩn đánh giá được phê duyệt nhằm xác định giá, đánh giá bao gòm bên
mời thầu thực hiện các nội dung công viẹc sau:
- Sửa lỗi: sửa chữa các sai sót nhằm chuẩn xác Hồ sơ dự thầu bao gồm: lỗi số
học, lỗi đánh máy, lỗi chính tả, lỗi nhầm đơn vị.
- Hiệu chỉnh sai lệch: bên mời thầu tiến hành bổ sung, điều chỉnh những nọi
dung còn thiếu sót hoặc thừa trong hồ sơ dự thầu so với các yêu cầu của Hồ sơ mời
thầu cũng như bổ sung hoặc điều chỉnh những khác biệt giữa các phần của hò sơ dự
thầu.

thầu, hợp đồng có thể được thực hiện một trong các loại sau:
a/ Hợp đồng trọn gói: là hợp đồng theo giá khoán gọn, được áp dụng cho
những gói thầu được xác định rõ về khối lượng yêu cầu về chất lượng và thời gian.
Trường hợp có những phát sinh ngoài hợp đồng nhưng không do nhà thầu gây ra thì
sẽ được người (hoặc cấp) có thẩm quyền xem xét quyết định.
b/ Hợp đồng chìa khóa trao tay: là hợp đồng bao gồm toàn bộ các cong việc
thiết kế, cung cấp thiết bị và xây lắp của một gói thầu được thực hiện thông qua một
nhà thầu. Chủ đàu tư có trách nhiệm tham gia giám sát quá trình thực hiện, nghiệm
thu và nhạn bàn giao khi nhà thầu hoàn thành toàn bộ công trình theo ký kết hợp
đồng.
C/ Hợp đồng có điều chỉnh giá: hợp đồng điều chỉnh giá áp dụng cho những gói
thầu mà tại thời điểm ký kết hợp đồng khong đủ các điều kiện xác định chính xác về số lượng và chất lượng hoặc có biến động lớn vè giá cả do chính sách của Nhà nước
thay đổi và hợp đồng có thời gian thực hiện trên 12 tháng.
Riêng đối với gói thầu nhỏ (gói thầu có giá trị dưới 2 tỷ đồng) việc lập hò sơ
mời thầu được thực hiện đơn giản dựa trên những quy điịnh đấu thầu đối với gói thầu
quy mô nhỏ. Tuy nhiên, hồ sơ mời thầu bao gồm các nội dung sau:
- Thư mời thầu và mẫu đơn dự thầu.
- Yêu cầu đối với gói thầu xây lắp: hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên
lượng được duyệt, chỉ dẫn kỹ thuật và tiến độ thực hiện.
- Tiêu chuẩn đánh giá (đạt hoặc không đạt) vè mặt kỹ thuật.
- Mẫu bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng bảo lãnh dự thầu trong
trường hợp này bằng 1% giá dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng bằng 3% giá trị
hợp đồng
III. HỒ SƠ DỰ THẦU XÂY LẮP VÀ CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ
HỒ SƠ DỰ THẦU XÂY LẮP
1. HỒ SƠ DỰ THẦU XÂY LẮP
Hồ sơ dự thầu do các nhà thàu xay dựng lập trên cơ sở của hồ sơ mời thầu. Nộ

- Các biện pháp đảm bảo chất lượng
2.2 Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu
- Kinh nghiệm đã thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật ở vùng địa lý và hiện
trường tương tự.
- Số lượng, trình độ cán bộ, công nhân kỹ thuật trực tiếp thực hiện dự án.
- Năng lực tài chính (doanh số lợi nhuận và các chỉ tiêu khác).
2.3 Tài chính và giá cả
Khả năng cung cấp tài chính, các điều kiện thương mại và tài chính, giá cả đánh
giá.
2.4 Tiến độ thi công
- Mức độ đảm bảo tiến độ thi công quy định trong hồ sơ mời thầu.
- Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành và các hạng mục công trình có liên
quan. IV. MỘT SỐ YẾU TỐ TRONG XÂY DỰNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG
TÁC ĐẤU THẦU CỦA TỔ CHỨC XÂY DỰNG
1.TÌNH HÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT TRONG XÂY DỰNG THIẾU
TÍNH ỔN ĐỊNH, LUÔN BIẾN ĐỔI THEO ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG VÀ CÔNG CỤ
LAO ĐỘNG
Cụ thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển
từ công trình này đến công trình khác, còn sản xuất xây dựng (tức các công trình xây
dựng) thị hình thành và đững yên tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành. Các
phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi
theo địa điểm và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức
sản xuất, khó cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, làm nảy sinh nhiều chi
phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và công trình tạm phục vụ sản xuất, làm
cho công tác đấu thầu của các tổ chức xây dựng gặp nhiều khó khăn trong đề xuất
biện pháp thi công cũng như hạ thấp giá dự thầu. Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ
chức xây dựng phải cố gắng tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt

thầu phải thực hiện trình độ tổ chức phói hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác
chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công.
5. SẢN XUẤT XÂY DỰNG THƯỜNG PHẢI TIẾN HÀNH NGOÀI TRỜI NÊN
CHỊU NHIỀU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI TIẾT, ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC NHỌC
NHẰN
Ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực của
tổ chức xây dựng không được sử dụng điều hòa trong bốn quý, gay khó khăn cho
việc lựa chọn trình tự thi công dự trữ vật tư nhiều hơn Đặc điểm này đòi hỏi các tổ
chức xây dựng trong quá trình lập hồ sơ dự thầu phải lập tiến độ thi công hợp lý để
tránh thời tiết xấu, phấn đấu tìm cách hoạt động trong năm, áp dụng kết cấu lắp ghép
làm sẵn trong xưởng một cách hợp lý. Chú ý đến nhân tố rủi ro vì thời tiết khi tranh
thầu, quan tâm phương pháp xây dựng trong điều kiện nhiệt đới.
6. SẢN XUẤT XÂY DỰNG CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA LỢI NHUẬN CHÊNH
LỆCH DO ĐIỀU KIỆN CỦA ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG ĐEM LẠI
Củng cố một loạt công trình xây dựng nhưng nếu nó đặt một nơi có sẵn nguồn
máy xây dựng cho thuê, sẵn công nhân thì người nhận thầu xây dựng ở trường hợp
này có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu được lợi nhuận cao hơn. Đây là
một yếu tố mà khi tranh thầu các nhà thầu phải chú ý.

V. GIÁ DỰ TOÁN DỰ THẦU TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP
1.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊNH GIÁ TRONG XÂY DỰNG
Việc định giá trong xây dựng có một số đặc điểm sau: 1.1 Giá của sản phẩm xây dựng có tính cá biệt cao vì các công trình xây dựng
phụ thuộc nhiều vào điều kiện của địa điểm xây đựng Vào chủng loại công trình
xây dựng và vào các yêu cầu sử dụng khác nhau của các chủ đầu tư. Do đó giá xây
dựng không thể đinh trước hàng loạt cho công trình toàn vẹn mà phải xác định cụ thể
cho từng trường hợp cụ thể.
1.2 Trong xây dựng người ta không thể định giá trước cho một công trình

T : chi phí trực tiếp
C : chi phí chung
TL: thu nhập chịu thuế tính trước
* Giá trị dự toán xây lắp trước thuế : là mức giá để itnhs thues GTGT bao gồm
chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước, được xác định theo
mức tiêu hao về vật tư, lao động, sử dung máy và mặt bằng giá của khu vực của từng
thời kỳ do các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Chi phí trực tiếp: bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sử dung
máy thi công, được xác định trên cơ sở khối lượng xây lắp theo thiết kế được lắp
tương ứng. Chi phí vật liệu gồm: vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển,
được tính theo đơn giá xây dựng cơ bản (đơn giá địa phương hoặc đơn giá công
trình). Mức giá các loại vật tư vật liệu trong đơn giá nói trên chưa bao gồm thuế
GTGT đầu vào mà doanh nghiệp xây dựng phải ứng trả khi mua vật tư, vật liệu có sự
thay đổi về giá cả thì căn cứ vào mức giá chưa có thuế GTGT trong thông báo từng
kỳ của cơ quan có thẩm quyền công bố để tránh sự chênh lệch này vào chi phí vật
liệu trong dự toán. Chi phí về nhân công GTDTXD bao gồm: lương cơ bản và các
khoản phụ cấp có tính chất lượng, các chi phí theo chế độ có thể khoán trực tiếp cho
người lao động để tính một ngày công định mức. Chi phí máy thi công gồm ch phí
nhân công thợ điều khiển, sửa chữa máy, thiết bị thi công. Riêng một số chi phí phụ
thuộc trong giá cả máy và thiết bị thi công như xăng dầu, điện năng chưa tính giá trị
tăng đầu vào.
Chi phí chung: tính bằng % so với chi phí nhân công trong giá trị doanh thu xây
lắp, được quy định cho từng loại công trình. Khoản thu nhập chịu thuế tính trước
dùng để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và một số khoản chi phí phải nộp, phải trừ
khác. Phần còn lại được trích lập quỹ theo quy chế quản lý tài chính và hạch toán
kinh danh đối với doanh nghiệp Nhà nước.
* Thuế GTGT đầu ra: dùng để trả thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp xây
dựng đã ứng trước khi mua vật tư, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng nhưng chưa được

điều kiện địa chất, bão lụt dẫn dến phải thông qua giải pháp thiết kế không có căn cứ
những chi phí ban đầu.
3.3 Các nhân tố bên ngoài có liên quan đến yếu tố thông tin làm tăng giảm
không chính đáng và ngẫu nhiên giá dự toán.
- Số dự báo không đầy đủ về tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ (vì thiếu
các tài liệu dự báo có thể dẫn đến việc thông qua giải pháp thiết kế không có căn cứ
những chi phí ban đầu.
- Thiếu chương trình mục tiêu kế hoạch hóa công tác khảo sát thiết kế ( sự thiếu
kế hoạch dài hạn dẫn đến việc thiết kế kỹ thuật cho một số công trình chưa có dự án
khả thi dược duyệt: bản vẽ thi công của một số đối tượng riêng biệt lại được làm
trước khi xem thiết kế kỹ thuật.
- Chất lượng các tài liệu ban đầu khi thiết kế chưa tốt.
- Khi thiết kế thường không tính đến những tài liệu dự báo về quy chuẩn mới,
các loại thiết kế đến khi đưa công trình vào khai thác thường từ 1-7 năm hoặc hơn
nữa việc không tính đến các nhân tố trên dẫn đến việc phải sửa dổi, bổ sung lại thiết
kế trong quá trình xây dựng làm tăng dự toán công trình.
- Sự thiếu cơ sở công nghiệp hóa, hoặc có những lạc hậu dẫn đến sự giảm chỉ
tiêu cơ giới hóa, công nghiẹp hóa trong xây dựng làm tăng chi phí sản xuất, tăng chi
phí vận tải do vận chuyển các sản phẩm.
- Không có đủ số lượng các máy móc thiết bị thi công hiện đại, có năng suất cao
hoặc có thiết bị nhưng thiếu đồng bộ trong công nghệ thi công của các tổ chức xây
lắp.
-Sự cung cấp vật tư kỹ thuật không đầy đủ hoặc không theo kế hoạch yêu cầu
của các tổ chức xây lắp.
- Do kéo dài thời hạn xây dựng công trình theo định mức cũng làm tăng giá dự
toán.
3.4 Những nhân tố bên trong làm tăng, giảm không chính đáng và ngẫu
nhiên giá dự toán do chất lượng thông tin không đầy đủ
- Chất lượng công tác khảo sát không tốt, các luận cứ nhiệm vụ lập tài liệu

đấu thầu cũng góp phần quyết định để thắng thầu.
Tùy theo quy mô và tính chất của từng gói thầu mà người ta có từng tiêu
chuẩn đánh giá Hồ sơ dư thầu cho phù hợp bởi vậy các nhà thầu cũng cần phải có
những kỹ thuật đấu thầu sao cho Hồ sơ dự thầu phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của bên
mời thầu mà lại có mức giá thấp nhất. Để được trúng thầu các nhà thầu phải không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status