Đề tài: XÂY DỰNG MỨC KHẤU TRỪ GIA CẢNH TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM doc - Pdf 15


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH HỌ VÀ TÊN : PHAN THỊ TỐ NHƢ
XÂY DỰNG MỨC KHẤU TRỪ GIA CẢNH
TRONG THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
MỤC LỤC
- MỤC LỤC
- MỤC LỤC HÌNH
- MỤC LỤC BẢNG
- PHẦN MỞ ĐẦU 1
- CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHẤU TRỪ TRONG THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN 5
1.1. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.1. Sự bất bình đẳng thu nhập và thuế thu nhập cá nhân 5
1.1.1.1. Sự bất bình đẳng thu nhập 5
1.1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân 8
1.1.1.3 Các nguyên tắc xây dựng thuế thu nhập cá nhân 9
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 13
1.1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân thƣờng mang tính lũy tiến 13
1.1.2.2 Thuế thu nhập cá nhân đánh theo nơi cƣ trú và nguồn thu nhập 19


Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

5

CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP XÁC ĐỊNH KHẤU TRỪ THUẾ TRONG THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 63
3.1. Định hƣớng phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 63
3.1.1. Đảm bảo tƣơng đồng giữa hệ thống thuế thu nhập cá nhân của Việt nam với
giữa hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia mà Việt nam ký kết tham
gia 64
3.1.2. Phát huy tính hiệu quả của Luật thuế thu nhập cá nhân 65
3.1.3. Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân trong tƣơng lai 66
3.2. Giải pháp chính 66
3.2.1. Phân nhóm đối tƣợng nộp thuế 66
3.2.2. Xây dựng quy trình xác định thuế theo tiêu chuẩn quốc tế 67
3.2.3. Xây dựng cơ chế điều chỉnh mức thuế và miễn giảm thuế theo thời gian 68
3.2.4. Hình thành khoản khấu trừ thuế 69
3.3. Giải pháp phụ trợ 74
3.3.1 Phát triển hạ tầng vật chất của ngành thuế 74
3.3.1.1 Hệ thống thông tin nội bộ 74
3.3.1.2 Phần mềm khai báo thuế thu nhập cá nhân 74
3.3.2 Kiểm tra thuế 75
3.3.2.1 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức tuân thủ của đối tƣợng nộp thuế
75
3.3.2.2 Kiểm tra thuế dựa theo rủi ro 76
3.3.2.3 Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan nhƣ thuế, ngân hàng, công
an… 76
Kết luận 77

1.3 Khấu trừ thuế tại Mỹ 39
CHƢƠNG 2
2.1 So sánh Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao giai đoạn 1991
– 2004 41-42
2.2 Biểu thuế suất đối với công dân Việt Nam và cá nhân là đối tƣợng cƣ trú tại
Việt Nam 43
2.3 Biểu thuế suất đối với ngƣời nƣớc ngoài, cƣ trú và lao động ở Việt Nam và
công dân Việt Nam cƣ trú và lao động ở nƣớc ngoài 44
2.4 Biểu thuế luỹ tiến từng phần 49
2.5 Các nhân tố tác động đến sự hình thành mức khấu trừ gia cảnh 52-53-54
2.6 Theo phƣơng pháp forward 55
2.7 Theo phƣơng pháp stepwise 56
2.8 Tóm tắt mô hình theo biến độc lập là mức lƣơng tối thiểu 57
2.9 Kết quả tổng hợp 58
2.10 Phƣơng án 2: Theo biến độc lập là mức chi tiêu bình quân đầu ngƣời 58
CHƢƠNG 3
3.1 So sánh mức khởi điểm chịu thuế trƣớc đây và thu nhập chịu thuế hiện
nay 69
3.2 Mức lƣơng tối thiểu vùng 70
3.3 Mức khấu trừ gia cảnh theo phƣơng án 1 dựa vào mức lƣơng tối thiểu 71
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 2007 đến năm 2010, bội chi ngân sách nhà nƣớc đã tăng từ 56.500
tỷ đồng lên đến 119.700 tỷ đồng, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nƣớc so với tổng sản

2
Tổng Cục Thống kê (2010), số liệu thống kê về Thu nhập bình quân đầu ngƣời.
3
Ban Chấp hành Đảng bộ TP.Hà Nội (2010), bài phát biểu tại Hội Nghị khóa 15 . Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

2

Nhƣ vậy, cần thiết phải xây dựng một chính sách khấu trừ thuế hợp lý phù
hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đây cũng là lý do
chính khiến Tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Xây dựng mức khấu trừ trong
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam ”.
2. Tình hình nghiên cứu
Về thuế thu nhập cá nhân nói chung đã có nhiều tác giả đã nghiên cứu. Tiêu
biểu là công trình nghiên cứu năm 2009 của TS Diệp Gia Luật với đề tài nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở “Đẩy mạnh triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt
Nam” mã số: CS 2008, và công trình dự thi giải thƣởng nghiên cứu khoa học sinh
viên năm 2009 của Võ Nguyễn Ái Mi với đề tài “ Luật thuế thu nhập cá nhân:
Thực thi và hoàn thiện”. Hai công trình này nghiên cứu hoàn thiện thuế thu nhập
cá nhân ở Việt Nam trên góc độ tổng thể, từ bậc thuế, thuế suất đến chính sách
quản lý nhà nƣớc đối với thuế thu nhập cá nhân mà chƣa nghiên cứu chuyên sâu
vào một cấu phần của thuế thu nhập cá nhân.
Luận văn này không nghiên cứu thuế thu nhập cá nhân trên diện rộng mà
tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào một cấu phần của thuế, đó là miễn thuế, giảm
thuế và khấu trừ thuế nhằm xác định mức thuế một cách hợp lý vừa hƣớng theo
thông lệ quốc tế vừa phù hợp bối cảnh hiện tại của Việt Nam.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

giảm thuế và khấu trừ thuế vừa hƣớng theo thông lệ quốc tế vừa phù hợp bối cảnh
hiện tại của Việt Nam theo thời gian.
6. Hƣớng phát triển của đề tài
Trong thuế thu nhập cá nhân còn nhiều vấn đề khác rất quan trọng, đó là:
thuế suất, bậc thuế và quản lý thuế. Một trong những hƣớng nghiên cứu tiếp theo
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

4

có liên quan đến đề tài là mối quan hệ giữa miễn thuế, khấu trừ thuế với độ giãn
cách giữa các bậc thuế và thuế suất.
Ngoài ra, còn một hƣớng phát triển nữa là nghiên cứu quan hệ giữa chính
sách thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản.
7. Nội dung của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
đƣợc trình bày thành 3 chƣơng:
Chương 1: Lý luận chung về khấu trừ trong thuế thu nhập cá nhân
Chương 2: Khấu trừ thuế trong thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai
đoạn 1991 – 2011 .
Chương 3: Giải pháp xác định khấu trừ thuế trong thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam.

Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

5

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHẤU TRỪ TRONG
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

6

nguồn lực cho mục tiêu này. Trong thời gian này, các quốc gia có thể chấp nhận
sự bất bình đẳng và chƣa thể phân phối lại, ngƣời nào sở hữu nhiều nguồn lực hơn
sẽ có thu nhập cao hơn. Vì vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập có thể ngày càng gia
tăng do mục tiêu tăng trƣởng kinh tế thƣờng đƣợc ƣu tiên đặt lên hàng đầu. Nhƣng
khi nền kinh tế đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định thì nền kinh tế càng
phát triển, cơ hội gia tăng thu nhập cao hơn cho mọi ngƣời dân và nhà nƣớc có
điều kiện phân phối lại nhiều hơn nên mức độ bất bình đẳng về thu nhập sẽ giảm
xuống.
Sự bất bình đẳng về thu nhập trong nền kinh tế thị trƣờng do nhiều nguyên
nhân:
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trƣờng thì mọi hoạt động phân phối đều thông
qua cơ chế tự điều tiết theo các quy luật kinh tế của thị trƣờng. Nói một cách cụ
thể, trong điều kiện cơ chế thị trƣờng, các yếu tố sản xuất thông qua thị trƣờng
(thuê, mua) để tham gia vào quá trình sản xuất, và rồi sau đó, các kết quả của quá
trình sản xuất lại đƣợc phân phối cho các yếu tố sản xuất theo mức độ mà chúng
tham gia (năng suất biên hay sản phẩm biên của mỗi yếu tố sản xuất) trong kết quả
đó. Điều này nghĩa là tổng sản phẩm xã hội sẽ đƣợc phân phối theo mỗi loại yếu tố
sản xuất nhƣ vốn, lao động, đất đai… tùy theo năng lực tham gia của chúng vào
kết quả cuối cùng. Phƣơng thức phân phối này là động lực thúc đẩy ngƣời sở hữu
cũng nhƣ sử dụng phải lựa chọn và phát huy hiệu quả tối ƣu của mỗi yếu tố sản
xuất - điều kiện bắt buộc để nền kinh tế thị trƣờng có thể phát triển hiệu quả. Song
do nhiều điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau mà các thành
viên trong xã hội không phải ai cũng có tình trạng nhƣ nhau về các yếu tố sản
xuất. Chẳng hạn, đối với yếu tố lao động, bản thân từng cá nhân có sự khác nhau
đáng kể về khả năng nhận thức, thể lực, trình độ giáo dục, đào tạo, hoàn cảnh,
năng lực, vị trí công tác… Thêm vào đó, mỗi cá nhân trong xã hội cũng rất khác

hội.
Tình hình nói trên khiến mỗi nhà nƣớc cần thiết phải can thiệp vào nền kinh
tế để giảm thiểu sự bình đẳng về thu nhập. Một công cụ rất quan trọng và mang lại
hiệu quả cao để giải quyết vấn đề này là thuế thu nhập cá nhân. Các chính phủ sử
dụng thuế thu nhập cá nhân để phân bổ gánh nặng thuế giữa các tầng lớp, nhóm
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

8

dân cƣ khác nhau trong xã hội theo khả năng chi trả của họ để thiết lập sự bình
đẳng về thu nhập và tạo nguồn để chính phủ thực hiện các chƣơng trình công cộng
khác.
1.1.1.2 Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá
nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.Thuế thu nhập cá nhân là
một trong những sắc thuế không thể thiếu và là công cụ để nhà nƣớc quản lý điều
tiết vĩ mô nền kinh tế -xã hội. Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò khuyến khích,
hạn chế hoặc ổn định kinh tế.
Thuế thu nhập cá nhân đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ
áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển
đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc
biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã
hội và góp phần điều tiết nền kinh tế.
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuế thu nhập cá nhân do 2 nguyên nhân
cơ bản:
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công
bằng trong phân phối thu nhập. Điều này là thật sự cần thiết trong nền kinh tế thị
trƣờng bởi sự tồn tại phổ biến của sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng

Nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch phát biểu rằng mỗi công dân phải
có nghĩa vụ đóng thuế cho đất nƣớc. Benjamin Franklin (17/1/1706-17/4/1790) có
một câu nói nổi tiếng: “Trên cỏi đời này không có gì chắc chắn ngoài cái chết và
thuế”
4
. Câu nói này toát lên một sự thật hiển nhiên và đơn giản: đã là dân thì phải
nộp thuế. Nguyên tắc này làm cơ sở cho quy định đánh thuế lên khoản thu nhập
phát sinh ngoài nƣớc của doanh nghiệp Việt Nam và của công dân Việt Nam.
Nguyên tắc quốc tịch không chỉ nêu rõ nghĩa vụ công dân mà còn bảo vệ công dân 4
Nguyễn Hồng Thắng ( 2009), Benjamin Franklin nghĩ về thuế,Tạp chí phát triển kinh tế số 02 .
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

10

của một nƣớc khỏi nghĩa vụ thuế của quốc gia khác, tức là “dân xứ nào phải và chỉ
nộp thuế cho xứ đó”, nếu nhƣ họ không có thu nhập phát sinh ở một xứ nào khác.
Nguyên tắc nguồn gốc (nguyên tắc lãnh thổ), bất luận thu nhập đƣợc tạo ra
bởi công dân mang quốc tịch nào, hễ phát sinh trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia
nào thì phải nộp thuế cho chính phủ nuớc chủ nhà bởi những bảo hộ, bảo đảm và
tiện ích công cộng mà nƣớc chủ nhà đã cung cấp.
Trƣờng hợp xuất hiện xung đột giữa nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc
nguồn gốc thì các quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần
bằng một hiệp định. Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc
nặng hơn so với luật thuế trong nƣớc.
Tiêu chuẩn cho một thuế thu nhập tốt, hiệu quả chi phí của những phản ứng
hành vi trƣớc thuế, tối thiểu hóa tổn thất xã hội (đánh đổi giữa lợi ích kinh tế và lợi

Nguyên tắc bình đẳng, đòi hỏi địa vị thế của mỗi chủ thể phải ngang nhau
hoặc mỗi đối tƣợng nộp thuế phải đƣợc đối xử không thiên vị. Đóng thuế là trách
nhiệm công dân, là nghĩa vụ của mọi ngƣời bất kể giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp
và địa vị xã hội.
Thực hiện tốt nguyên tắc công khai, minh bạch, minh bạch của hệ thống pháp
luật thuế yêu cầu các qui phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân phải rõ ràng, giảm
thiểu những qui định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật
khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những qui định chung.
Để đảm bảo sự minh bạch, các qui định trong đạo luật thuế liên quan đến
phạm vi áp dụng, đối tƣợng nộp thuế, đối tƣợng tính thuế, cách xác định mức thuế
phải nộp, thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế, các cơ quan thu, hành vi nào bị
coi là vi phạm, thẩm quyền phạt và mức phạt cần phải đƣợc qui định cụ thể, rõ
ràng, dễ hiểu để đa số dân chúng đều có thể hiểu đƣợc quyền và nghĩa vụ về thuế
của mình. Đây cũng chính là phƣơng án phòng ngừa tốt đối với những hành vi vi
phạm pháp luật thuế.
Ngoài ra, cần áp dụng những biện pháp có hiệu quả cả về tổ chức bộ máy
hành chính để đảm bảo sự độc lập ngày càng cao giữa các cơ quan lập pháp, hành
pháp và tƣ pháp.
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

12

Trong quá trình ban hành luật thuế, tính công khai đƣợc thể hiện ở việc công
bố văn bản pháp luật trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng trong thời gian luật
định, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, thu và nộp thuế.
Đảm bảo tính ổn định, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thực chất
cũng thể hiện sự công bằng, minh bạch của pháp luật. Tính ổn định của hệ thống
pháp luật thuế yêu cầu nhà hoạch định chính sách cũng nhƣ cơ quan lập pháp- ở
đây là Quốc Hội cần có dự báo về xu hƣớng phát triển và những vấn đề phát sinh,

qua do đó nó đƣơng nhiên là một đạo luật, kể cả cơ quan quản lý thuế lẫn đối
tƣợng nộp thuế và những bên có liên quan đều bị chi phối và buộc phải chấp hành.
Nguyên tắc này thể hiện trong một cụm từ nổi tiếng “Không đánh thuế mà không
có đại diện” do giáo sỹ Jonathan Mayhew đƣa ra trong một buổi thuyết pháp tại
Boston năm 1750. Đến năm 1765 cụm từ này đƣợc sử dụng phổ biến tại Boston và
đƣợc chính trị gia James Otis phát triển thành câu: " Thuế mà không có đại diện là
chuyên chế". Gọi là nguyên tắc hành chính vì không chứa đựng yếu tố kinh tế,
Chính phủ thƣờng có nhiều lý lẽ và đủ sức mạnh hành thu, nên nguyên tắc này
nhằm ngăn chặn chính phủ và chính quyền địa phƣơng tự đặt ra các khoản thu đối
với ngƣời dân và bảo vệ dân chúng trƣớc những nguy cơ lạm thu của cơ quan
hành pháp. Điều đó có nghĩa là, về mặt nguyên tắc, mọi sắc thuế không đƣợc ban
hành dƣới hình thức một đạo luật thì không có giá trị và không có khả năng ràng
buộc đối với ngƣời đóng thuế - cử tri. Và, ngay cả cơ quan quản lý thuế cũng có
khả năng bị kiện nếu làm trái luật.
Nguyên tắc mang tính kinh tế, khi một khoản thuế đƣợc ban hành nó không
chỉ điều chỉnh nghĩa vụ và hành vi công dân mà sẽ tác động đến phân phối và hoặc
tái phân phối thu nhập giữa chính phủ và khu vực tƣ, giữa các nhóm dân cƣ với
nhau.
1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính lũy tiến
Đặc điểm đầu tiên của thuế thu nhập cá nhân là mang tính lũy tiến: thu nhiều
phần trăm hơn vào thu nhập của ngƣời có thu nhập cao và ít phần trăm vào thu
nhập của ngƣời có thu nhập thấp.
Tính lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân dựa trên hai cơ sở:
- Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhập giảm dần
Xây dựng mức khấu trừ gia cảnh trong GVHD: PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam HV: Phan Thị Tố Như

14



15

Gọi:
U
A
1
là tổng thỏa dụng của ngƣời A với thu nhập trƣớc thuế
U
A
2
là tổng thỏa dụng của ngƣời A với thu nhập sau thuế
U
B
1
là tổng thỏa dụng của ngƣời B với thu nhập trƣớc thuế
U
B
2
là tổng thỏa dụng của ngƣời B với thu nhập sau thuế

Hình 1.3
Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lƣợng tuyệt đối về độ hữu dụng bằng nhau (Nguồn : Nguyễn Hồng Thắng)
Đánh thuế lũy tiến bằng cách lấy lƣợng tuyệt đối về độ hữu dụng bằng
nhau, ngƣời A có thu nhập cao hơn ngƣời B thì ngƣời A phải chịu thuế nhiều hơn. (Nguồn : Nguyễn Hồng Thắng)

Trích đoạn Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Những khuyết điểm cần khắc phục Phát huy tính hiệu quả của Luật thuế thu nhập cá nhân Hình thành khoản khấu trừ thuế Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức tuân thủ của đối tƣợng nộp thuế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status