SO SÁNH ĐỘNG TỪ “ĐI” TRONGTIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
HUỲNH VĂN TRẮNG
1. Giống nhau
1.1. Về mặt ngữ nghĩa
Động từ “Đi” và “go” (trong tiếng Việt và tiếng Anh) đều thể hiện phạm trù ngữ
nghĩa là hành động dời chuyển, thay đổi vị trí, trạng thái của người hoặc động vật.
* Động từ “đi” trong tiếng Việt“Đi” là một trong số động từ thuộc nhóm chỉ vận động
mang ý nghĩa hoạt động di chuyển, dời chỗ. Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc
trưng vận động của thực thể. Đó là ý nghĩa hành động. “Còn ý nghĩa trạng thái được
khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không
gian” (theo Diệp Quang Ban)
- Về quan hệ không gian: Bao gồm việc quy chiếu, xác định vị trí, sự vật cụ thể đích
thực và định vị nhận thức. Đối với động từ vận động di chuyển thì việc xác định vị trí
xuất phát hay đích của di chuyển, có liên quan tới vị trí gốc và giới hạn của vận động
di chuyển là rất quan trọng. Và “đi” thuộc nhóm động từ di chuyển có hướng.
- Về quan hệ thời gian: Các quan hệ thời gian trong câu được diễn đạt bằng phương
thức từ vựng và các từ phụ có ý nghĩa tình thái. Liên hệ động từ chỉ xuất hiện trong
phạm vi tình thái vị ngữ của câu. Liên hệ thời gian vì thế gắn rất chặt với đặt trưng
diễn tiến của các dạng vận động. Nó làm hình thành mối quan hệ thời – thể: trong đó
một vận động nhất định diễn ra trong thời gian luôn ứng với thời điểm phát ngôn và
đối với các vận động khác để xem nó xuất hiện, kết thúc hay chưa.
Ví dụ:
+ Con đã đi thư viện chưa?
+ Mai nhóm tụi mình sẽ đi karaoke nhé?
+ Tớ đang đi nhà ngoại thì trời mưa.
- Về quan hệ cách thức vận động: Đây là một loại quan hệ khác với các từ phụ như:
cũng, vẫn, cứ, đều,…thể hiện đặc trưng tình trạng và tiến trình của vận động, hình thái
của vận động thông qua người nói. Quan hệ này cũng tham gia xác lập ý nghĩa tình
thái trong câu.
Ví dụ:
+ Bạn cứ đi siêu thị trước nha, mình bận làm bài tập Ngữ pháp tiếng Việt rồi. + Hôm
- Nghĩa 13: Tiến đến một kết quả nào đó.Ví dụ: Đi đến kết luận; đi đến hồi kết thúc;
chẳng đi đến đâu,…
- Nghĩa 14: Chuyển sang bước vào một giai đoạn khác.Ví dụ: Nền kinh tế nước ta đã
đi vào phát triển; đi vào con đường trộm cấp; đi vào con đường nghiện ngập,…
- Nghĩa 15: Đem đến tặng nhân dịp lễ tết, hiếu hỉ.Ví dụ: Đi phong bì năm trăm nghìn
đồng; đi một chậu hoa nhân dịp tết,…
- Nghĩa 16: Mang vào chân hoặc tay để che giữ, bảo vệ.Ví dụ: Chân đi tất; đi găng
tay,…
- Nghĩa 17: Gắn với nhau, phù hợp với nhauVí dụ: Màu quần không đi với màu áo;
ghế không đi với bàn,…
- Nghĩa 18: Đi ngoài (nói tắt)Ví dụ: Đi kiết; đau bụng đi lỏng; đi ra máu,…
Trong các nghĩa trên thì nghĩa thứ nhất là nghĩa cơ bản, nghĩa gốc chỉ quá tình hoạt
động di chuyển.
* Động từ “đi” trong tiếng AnhTừ “đi” trong tiếng Anh có các nét nghĩa tương ứng là:
Go, walk, run, leave, come,…Tuy nhiên các từ này còn các lớp nghĩa khác, ta không
thể khảo sát từng từ một nên chỉ chọn một từ cơ bản nhất (Go) được dùng thông dụng
nhất với nghĩa là “đi” và động từ “go” có nghĩa khái quát là chỉ sự vận động, di
chuyển từ nơi này đến nơi khác. Ngoài ra “go” còn những nghĩa khác:
- Để di chuyển hoặc tiếp tục, hoặc từ một cái gì đó.
Ví dụ: They're going by bus.
- Tiếp tục ở trong trạng thái nhất định hoặc điều kiện, thói quento go barefoot- Hành
động để đi vào một trạng thái nhất định hoặc điều kiện .VD: to go into debt; to go to
sleep.
- Để đưa đến hoặc có xu hướng
This only goes to prove the point.
- Để di chuyển hoặc tiến hành với tốc độ đáng kể. VD: Look at that airplane go!
- Chết. VD:The old man went peacefully at 3 a.m Để di chuyển hoặc tiến hành hoặc
theoGoing my way?
- Rủi ro, trả tiền, đủ khả năng, đặt cược, hoặc giá thầu. VD: I'll go fifty dollars for a
ticket, but no more
Liêu để đọc nhiều sách)
- Kết hợp với tính từ
Ví dụ:
+ Go slow as cow (đi chậm như bò)
Động từ “đi” và “go” (trong tiếng Việt và tiếng Anh) cả hai đều có thể đảm nhiệm
được chức năng của thành phần câu, thành phần phụ cũng như thành phần chính đặc
biệt là chức năng làm vị ngữ là chủ yếu, kết hợp với chủ ngữ tạo thành câu hoàn
chỉnh.
* Động từ “đi” (trong tiếng Việt) làm vị ngữ trong câu (là chủ yếu)
Ví dụ: ● Nó /đi C V
● Lan /đi chợ. C V
● Sáng mai, tôi /đi Sài Gòn. C V
* Động từ “go”, ( trong tiếng Anh) đóng vai trò làm vị ngữ.
S + V (Go) + O…
Ví dụ: ● I /go to supermarket tonight C V
● I / go with my friends C V
Phạm trù dạng của “đi” và “go” trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh, chỉ thể
hiện ở dạng chủ động còn dạng bị động không có xảy ra nếu có thì thể hiện rất mờ
nhạt khó nhận biết.
Ví dụ: + Tôi đi học lúc 6 giờ 45 phút mỗi ngày.
+ Tôi đi dạo phố những lúc rãnh rổi.
+ I go everywhere whenever I want. (tôi đi bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào tôi muốn)
+ I go there and enjoy fresh air (tôi đi đến đó và tận hưởng bầu không khí trong lành)
2. Khác nhau
2.1. Về mặt ngữ nghĩa
Hầu như về ngữ nghĩa giữa động từ “đi” (trong tiếng Việt) và “go” (trong tiếng Anh)
không có gì khác biệt lớn cốt lõi cả hai đều thể hiện phạm trù ngữ nghĩa hành động
dời chuyển của người hoặc động vật.Tuy nhiên bên cạnh đó “go” (trong tiếng Anh)
ngữ nghĩa thay đổi theo ngữ cảnh nhiều hơn động từ “đi” (trong tiếng Việt) có khi
“go” biến đổi nghĩa khác hẳn không còn là nghĩa ban đầu nữa (nghĩa chỉ hoạt động, di
- Trường hợp “go” biến hình khi được dùng ở quá khứ đơn (go => went)
S + Went + O…
Ví dụ: I went out with my girlfriend last night
- Động từ “go” còn biến hình trong trường hợp dùng phụ tố (affix) trong cấu tạo nó.
Mỗi phụ tố biểu thị một ý nghĩa riêng và tồn tại khi đi kèm với chính tố (root).Ví dụ:
Go (V): đi => Going (N): sự đi
b. Khả năng kết hợp
Động từ “đi” trong tiếng Việt kết hợp được với các hư từ (Ví dụ: đi rồi, đi hết,…) còn
“go” trong tiếng anh thì không kết hợp được với hư từ. Nhưng ngược lại “go” thì kết
hợp được với giới từ (Ví dụ: go on, go out, go away, go with,…) còn “đi” trong tiếng
Việt thì không.“Đi” trong tiếng Việt kết hợp được trực tiếp với các động từ tạo thành
cụm động từ (Ví dụ: đi học, đi hát, đi ăn, đi làm lụng,…) còn “go” trong tiếng Anh thì
không kết hợp được với động từ. Nó chỉ kết hợp được với động từ khi có giới từ
nhưng giới từ đó không có nghĩa.Ví dụ: Go to swim
Trong tiếng Việt động từ “đi” khi kết hợp với động từ thì “đi” chuyển nghĩa trở thành
phụ (ví dụ: đi học - học là chính) còn trong tiếng Anh thì Go + N; Go + adv ==>
chuyển nghĩa “go” trở thành phụ (ví dụ: Go swimming - swimming là chính).“Đi”
trong tiếng Việt kết hợp với nhóm phụ từ (hãy, đừng, chớ, không,…) đứng trước nó
để chỉ mệnh lệnh hoặc phủ định. Hay nói khác đi động từ “đi” có khả năng làm thành
tố chính của cụm từ chính phụ mà các thành tố phụ tiêu biểu của nó là các phụ từ,
trong đó các phụ từ chỉ mệnh lệnh.Ví dụ: Phụ từ (Đã,vẫn, không,đừng, ) =>Động từ
“đi” Động từ VẫnKhôngĐừng ++++…
Còn “go” trong tiếng Anh để phủ định phải chia theo trợ động từ (does not, do not,
did not, should not,…)
c. Chức năng cú pháp trong câuỞ trong câu, ngoài chức năng chính là vị ngữ của câu
từ “đi” trong tiếng Việt còn đảm nhiệm chức vụ định ngữ, bỗ ngữ và cả chủ ngữ (cần
có từ “là”)
+ Làm định ngữ trong câu
Ví dụ: ● Nam mới đi chợ
● Cha tôi vừa đi Bạc Liêu cách đây 30 phút.
Còn động từ “go” trong tiếng Anh để biểu thị mối quan hệ giữa hành động với thời
điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói thì phải chia
theo thời, hay nói cách khác phạm trù thời của động từ “go” (là ngôn ngữ biến hình)
được biểu thị bằng phụ từ (như: I’am going,…), bằng trợ động từ,( như: I don’t go,…)
gồm có: thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai.
Ví dụ: (Thời quá khứ):
+ Yesterday, she went to school late. (ngày hôm qua cố ấy đi đến trường muộn)
+ He never went anywhere without her spectacles (anh ta chẳng bao giờ đi đâu mà
không mang kính)Ví dụ (Thời hiện tại):
+ I go to school by bus everyday (tôi đi đến trường bằng xe buýt mỗi ngày)
+ Today, I go to a my friend’s house to join a party (hôm nay tôi đi đến nhà bạn của
tôi để tham dự một buổi tiệc)
+ I often go to the library on Saturday morning (tôi thường đi thư viện vào sáng thứ
Bảy)Ví dụ (Thời tương lai):
+ He is going Can Tho tomorrow (anh ấy sẽ đi Cần Thơ vào ngày mai)
+ I will go to Da Lat next time (thời gian tới tôi sẽ đi Đà Lạt)
Động từ “đi” trong tiếng Việt cũng không có phạm trù thức như “go” trong tiếng Anh
nhưng những ý nghĩa trần thuật, giả định, mệnh lệnh… vẫn được thể hiện nhờ những
hư từ hoặc ngữ điệu của câu.
Ví dụ (động từ “đi” trong tiếng Việt):
+ Chờ mãi tới hôm nay mà lớp tôi vẫn chưa đi thực hành giao tiếp Anh văn ở cơ sở 1.
+ Tôi nghĩ cô ấy đã đi nước ngoài.
+ Không được đi!
Động từ “go” trong tiếng Anh phạm trù thức được thể hiện bằng phương thức phụ gia
– thay chính tố, phương thức trật tự từ,… .
Ví dụ (động từ “go” trong tiếng Anh):
+ She says that she will go there next time (cô ta bảo rằng cô ta sẽ đi đến đó vào thời
gian tới)
+ If you don’t go to school today, you may miss some important lessons (nếu bạn
không đi học hôm nay, bạn có thể mất một số bài học quan trọng)+ Go out! (đi ra
hiểu nhằm là động từ.
Ví dụ : Go to the devil! (Quỷ tha ma bắt mày đi!)
Kết luận
Từ việc đối chiếu giữa hai động từ “đi” và “go”(trong tiếng Việt và tiếng Anh) cho ta
thấy những đặc điểm tương đồng về khả năng kết hợp để thể hiện nội dung và ý nghĩa
của câu và cũng thấy được sự giống nhau về mặt chức vụ cú pháp cũng như ngữ nghĩa
nói đúng hơn là hai động từ này đều giữ chức vụ làm vị ngữ là chủ yếu. Đồng thời
qua sự so sánh đối chiếu còn cho ta thấy chúng có những điểm khác biệt, trong từ loại
động từ của tiếng Việt không có phạm trù ngữ pháp và tiếng Việt vẫn biểu đạt được
những ý nghĩa mà các ngôn ngữ biến hình đã có thông qua ngữ điệu, hư từ, từ vựng.
Để biểu đạt ý nghĩa phủ định, động từ trong tiếng Anh phải chia theo trợ động từ, còn
trong tiếng Việt thì kết hợp với các từ không, chưa, chẳng,…Qua đề tài này giúp ta đã
dần tiếp cận được với các phương pháp so sánh đối chiếu, đặc biệt là đối chiếu với các
ngôn ngữ khác nhau để hiểu rõ hơn các đặc điểm của tiếng Việt ta. Đặc biệt làm sáng
tỏ cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ nói chung, động từ “đi” nói riêng ở hai
ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thì bài tiểu
luận cũng đã hoàn thành khá đầy đủ những mục đích ban đầu. Tuy nhiên thời gian
nghiên cứu có giới hạn và tài liệu tham khảo còn ít cộng với khả năng còn hạn chế của
một sinh viên nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, người viết rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để tiểu luận ngày càng được hoàn
thiện hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Ngọc Ẩn (1995), Đại cương ngôn ngữ học, Trường ĐHBL
2. Diệp Quang Ban (2010), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo Dục
3. Lê Biên (1998) Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Tài Cẩn (1981), Ngữ Pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội.
5. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại, Nxb ĐHQG HN.
6. Nhiều tác giả (1996), English Grammar ( Ngữ pháp tiếng Anh căn bản), Nxb Đồng
Nai