đồ án tìm hiểu về các web server thông dụng - Pdf 15

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Đồ án:
" Tìm hiểu về các web
server thông dụng"
trang 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Mục Lục
M c L cụ ụ 2
A. YÊU C U C A TÀI:Ầ Ủ ĐỀ 4
B. C S LÝ THUY T:Ơ Ở Ế 5
CH NG IƯƠ 5
TÌM HI U V CÁC WEB SERVER THÔNG D NGỂ Ề Ụ 5
I. GI I THI U V H I U HÀNH WINDOWS NTỚ Ệ Ề Ệ Đ Ề 5
1. Th nào là m t h đi u hành m ng:ế ộ ệ ề ạ 5
III. T NG QUAN V WEB SERVER :Ổ Ề 6
IV. INTERNET INFORMATION SERVER (IIS): 7
V. APACHE WEB SERVER: 19
Apache –n “service name” 20
LoadModule status_module modules/mod_status.so 25
LoadModule foo_module libexec/mod_foo.so 29
Creating [FILE] foo/Makefile 29
"C:\Program Files\DevStudio\VC\Bin\VCVARS32.BAT" 30
CH NG IIƯƠ 33
CÁC NGHI TH C TRUY N NH NỨ Ề Ậ
χ 33
Công vi c phát tri n các h th ng Mail (Mail System) đòi h i hình thành các ệ ể ệ ố ỏ
chu n v Mail. i u này giúp cho vi c g i nh n các message đ c đ m b o, ẩ ề Đ ề ệ ở ậ ượ ả ả
làm cho nh ng ng i các n i khác nhau có th trao đ i thông tin cho nhau.ữ ườ ở ơ ể ổ 33
Có 2 chu n v Mail quan tr ng nh t và đ c s d ng nhi u nh t t ẩ ề ọ ấ ượ ử ụ ề ấ ừ
tr c đ n nay là X.400 và SMTP (Simple Mail Transfer Protocol). SMTP ướ ế
th ng đi kèm v i chu n POP3 và do h n ch c a SMTP mà ngày nay ng i ườ ớ ẩ ạ ế ủ ườ

70
M ng dùng giao th c TCP/IP d li u đ c chia thành nh ng gói nh g i là ạ ứ ữ ệ ượ ữ ỏ ọ
nh ng packet. Khi ta g i đi m t thông đi p, TCP s chia thông đi p này thành ữ ở ộ ệ ẽ ệ
các packet, m i packet đ c đánh d u b i m t s th t và đ a ch c a ng i ỗ ượ ấ ở ộ ố ứ ự ị ỉ ủ ườ
nh n, thêm vào đó là m t s thông tin ki m soát l i. Các packet này đ c g i lên ậ ộ ố ể ỗ ượ ở
m ng và công vi c c a IP là truy n t i chúng t i host t xa kia. T i n i ạ ệ ủ ề ả ớ ừ ạ ơ
nh n, TCP nh n các packet và ki m tra l i, g i tr l i n u gói không đúng, ậ ậ ể ỗ ở ả ạ ế
v i nh ng gói dúng, TCP s d ng s th t đ t o l i thông đi p ban đ u. ớ ữ ử ụ ố ứ ự ể ạ ạ ệ ầ
Tóm l i công vi c c a IP là chuy n d li u thô - các packet t n i này đ n ạ ệ ủ ể ữ ệ ừ ơ ế
n i khác. Công vi c c a TCP là qu n lý dòng ch y và đ m b o r ng d li u là ơ ệ ủ ả ả ả ả ằ ữ ệ
đúng 70
TCP/IP có nh ng đ c đi m sau :ữ ặ ể 70
- c l p v i cách n i m ngĐộ ậ ớ ố ạ 70
- c l p v i ph n c ng c a m ngĐộ ậ ớ ầ ứ ủ ạ 70
- Các nghi th c theo tiêu chu n c a h mứ ẩ ủ ệ ở 70
- Cách đánh đ a ch ph d ng (Universal Addressing)ị ỉ ổ ụ 70
- Cung c p m t s d ch v m ng đ c s d ng r ng rãi nh Email, FTP, ấ ộ ố ị ụ ạ ượ ử ụ ộ ư
Telnet… 70
- Là c s đ xây d ng các ng d ng theo mô hình Client / Serverơ ở ể ự ứ ụ 70
C U TRÚC C A M T B C MAILẤ Ủ Ộ Ứ 70
CH NG IVƯƠ 73
TÌM HI U V CÁC H TH NG MAIL TRÊN H I U HÀNH LINUXỂ Ề Ệ Ố Ệ Đ Ề 73
I. CÀI T VÀ C U HÌNH CHO SENDMAILĐẶ Ấ 75
trang 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
1. File sendmail.cf 76
2. i u ch nh UUCP:Đ ề ỉ 77
3. C u hình các b ng đ nh vấ ả ị ị 78
4. C u hình mailertableấ 78
5. File c u hình uucprelaysấ 78

B. C S LÝ THUY T:Ơ Ở Ế
CH NG IƯƠ
TÌM HIỂU VỀ CÁC WEB SERVER THÔNG DỤNG
I. GI I THI U V H I U HÀNH WINDOWS NTỚ Ệ Ề Ệ Đ Ề
1. Thế nào là một hệ điều hành mạng:
Mạng bao gồm các tài nguyên (máy trạm, máy in…) và các thiết bị truyền
thông (router, bridge). Với việc ghép nối các máy tính thành mạng thì cần thiết phải
có một hệ thống phần mềm có chức năng quản lý tài nguyên, tính toán và xử lý truy
cập một cách thống nhất trên mạng, hệ như vậy được gọi là hệ điều hành mạng. Mỗi
tài nguyên của mạng như file, đĩa, thiết bị ngoại vi được quản lý bởi một tiến trình
nhất định và hệ điều hành mạng điều khiển sự tương tác giữa các tiến trình và truy
cập đến các tiến trình đó.
Quản lý các tài nguyên: tập tin ở xa, nạp và chạy các App dùng chung, I/O
với các thiết bị mạng dùng chung, chỉ cấp phát CPU trong tiến trình NOS.
Căn cứ vào việc truy cập tài nguyên trên mạng mà người ta chia thực thể
trong mạng thành hai loại chủ và khách, trong đó máy khách (Client) truy cập được
vào tài nguyên của mình nhưng không chia xẻ tài nguyên của nó với mạng, còn máy
chủ (Server) là máy tính nằm trên mạng và chia xẻ tài nguyên của nó với người
dùng mạng.
Hiện nay các hệ điều hành mạng thường được chia làm hai loại là hệ điều
hành mạng ngang hàng và hệ điều hành mạng phân biệt (clent/server).
Với hệ điều hành mạng ngang hàng, mỗi máy tính trên mạng vừa có thể đóng
vai trò chủ lẫn khách tức là chúng có thể sử dụng tài nguyên của mạng lẫn chia xẻ
tài nguyên của nó cho mạng. Ví dụ: Lantastic của Artisoft, Netware của Novell,
Windows (for Workgroup, 95, NT client) của Microsoft.
Với hệ điều hành mạng phân biệt các máy tính được phân biệt chủ và khách,
trong đó máy chủ mạng (Server) giữ vai trò chủ và các máy người dùng giữ vai trò
khách (các trạm). Khi có nhu cầu truy cập tài nguyên trên mạng các trạm tạo ra yêu
cầu và gửi chúng tới server và sau đó server thực hiện và gửi trả lời.
2. Hệ điều hành mạng Windows NT

dành cho người dùng, các cơ quan, các công ty xí nghiệp. Windows NT là một hệ
điều hành đa nhiệm, đa xử lý với địa chỉ 32 bit bộ nhớ. Nó yểm trợ các ứng dụng
của DOS, Windows, Win 32 GUI và các ứng dụng dựa trên ký tự. Windows NT
server là hệ điều hành mạng, đáp ứng cho mạng cục bộ (LAN) vừa đáp ứng cho
mạng diện rộng (WAN) như Intranet, Internet.
Windows NT server hơn hẳn các hệ điều hành khác bởi tính mềm dẻo, đa
dạng trong quản lý. Nó vừa cho phép quản lý mạng theo mô hình mạng phân biệt
(Client/Server) vừa quản lý theo mô hình mạng ngang hàng (Peer to Peer).
Windows NT server đáp ứng tốt nhất các dịch vụ viễn thông, một dịch vụ
được sử dụng rộng rãi trong tương lai.
Windows NT server cài đặt đơn giản, nhẹ nhàng và điều quan trọng nhất là nó
tương thích với hầu như tất cả các hệ mạng, nó không đòi hỏi người ta thay đổi
những gì đã có.
Cho phép dùng các dịch vụ truy cập từ xa, có khả năng phục vụ đến 64 cổng
truy nhập từ xa.
Đáp ứng cho các máy trạm Macintosh nối với Windows NT server.
Windows NT server yểm trợ mọi nghi thức mạng chuẩn như NETBUEI,
IPX/SPX, TCP/IP … và các nghi thức khác. Windows NT cũng tương thích với
những mạng thông dụng hiện nay như Novell netware, Banyan VINES và Microsoft
LAN Manager. Đối với mạng lớn và khả năng thâm nhập từ xa, sản phẩm Windows
NT server cũng cung cấp các chức năng bổ sung nhu cầu , khả năng kết nối với máy
tính lớn và máy Macintosh.
III. T NG QUAN V WEB SERVER :Ổ Ề
Web Server:
Web server là một phần mềm server đằng sau WWW. Nó lắng nghe những
yêu cầu từ phía client, chẳng hạn như một trình duyệt như Netscape hoặc Microsoft
Internet Explorer. Khi nhận được một yêu cầu từ phía client, nó sẽ xử lý những yêu
cầu đó và trả về một vài dữ liệu dưới dạng một fom chứa các trang được định dạng
dưới dạng văn bản hoặc hình ảnh. Trình duyệt Web trả lại dữ liệu này với khả năng
tốt nhất có thể và trình đến người sử dụng.

cơ bản nhất mà cuốn báo cáo này cung cấp, sự lựa chọn có lẽ là không khó.
Các vấn đề mà cần phải quan tâm khi lựa chọn một Web server để giao phó
công việc cho nó.
- Phần mềm trả tiền hay đươc miễn phí.
- Dễ cài đặt.
- Dễ cấu hình.
- Dễ mở rộng hoặc tuỳbiến một vài diện mạo của server.
- Các đặc trưng cơ bản.
- Sự phát triển liên tục.
- Hỗ trợ bảo mật.
- Mã nguồn sẵn có.
- Hỗ trợ công nghệ.
- Hỗ trợ nền tảng.
- Hỗ trợ đối với các phần mềm thứ ba.
IV. INTERNET INFORMATION SERVER (IIS):
IIS là một dịch vụ tuỳ chọn của Windows NT server cung cấp các tính năng
về Web site. Giải pháp phổ biến nhất của Microsoft cho một Web site là chạy IIS
trên nền Windows NT server.
IIS là một thành phần cơ bản để xây dựng một Internet hoặc Intranet server
trền nền Windows NT 4.0, Workstation và Win 95. IIS được tích hợp đầy đủ trong
trang 7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Windows NT 4.0. Với một bộ đầy đủ IIS và Windows NT 4.0 người sử dụng sẽ
nhận được sự thuận tiện khi xây dựng một cơ chế bảo mật trên Windows NT server
và Windows NT File System (NTFS).
Người sử dụng có thể sử dụng các kỷ thuật Internet thêm vào được cung cấp
bởi IIS để nâng cao các tính năng Microsoft Back Office, bao gồm các thành phần
sau:
- Hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SOL Server Client/Server.
- Hệ thống thông báo Microsoft Exchange Server Client/Server.

Office.phẩm thuộc MS Back
Trong khi MMC tự nó không đưa cho người sử dụng bất kỳ một chức năng
nào được thêm vào cả mà chỉ cung cấp một môi trường chung cho snap-ins. Snap-
ins cung cấp môi trường quản trị ảo cho mỗi sản phẩm tương thích của nó. Snap-ins
được trình bày trong IIS như là một dịch vụ quản lý Internet (ISN). Khi IIS khởi
động, MMC cũng sẽ được khởi động và nạp vào snap-ins.
Trong tương lai tất cả các sản phẩm của MS Back Office bao gồm cả
Windows, Windows NT, các công cụ quản trị mạnh sẽ được chuyển sang MMC.
Một bộ IIS phải bao gồm đầy đủ các thành phần sau:
trang 8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Content Index (Index Server).
FTP Publishing Service.
IIS Admin Service (Internet Service Manager snap-in).
Microsoft Network News Transfer Protocol (NNTP) Service.
Microsoft Simple Mail Transfer Protocol (SMTP) Service.
MSDTC (Microsoft Distributed Transaction Coordinator).
World Wide Web Publishing Service.
2. Quản lý IIS Web server:
+ HTTP server: Dịch vụ này tạo một WWW server công cộng. Server này tạo
nhiều trang HTML cho phép người sử dụng có thể chạy các ứng dụng CGI để thi
hành các công việc thêm vào ở server dựa trên các yêu cầu của client. Văn bản, hình
ảnh, âm thanh và các tài nguyên khác có thể được tải xuống WWW client.
+ Gopher Server: Dịch vụ này cung cấp các tài nguyên cho các Gopher client.
Server gửi các file, các danh sách thư mục và các mục chọn trình đơn khác đến
Gopher client.
+ FTP server: Dịch vụ này là một cập nhật đến server được cài đặt sẵn trên
Windows NT (TM), nó chuyển các file có sẵn đến FTP client.
Mặc dù WWW đã thay thế hầu hết các chức năng của FTP, tuy nhiên chỉ FTP
mới có thể được sử dụng để sao chép các file từ một máy client đến một máy server.

- Thực hiện các câu lệnh SQL khác.
3. IIS WWW Server:
WWW là một bộ tập hợp các thông tin của client và server. Dữ liệu siêu văn
bản (hyper text) được chia xẻ bởi các server đang chạy phần mềm Web và được
truy cập bởi các client đang chay một phần mềm ứng dụng Web gọi là trình duyệt
Web.
WWW server cung cấp các thông tin phân tán và phần mềm, nhưng theo
hướng site hơn là hướng thư mục. Tài liệu Web là một tài liệu siêu văn bản được
viết bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML), và với các thẻ đặc biệt để liên
kêt đến nội dung các tài liệu khác, chúng được gọi là siêu liên kết (hypelink). Với
siêu liên kết, xuất phát từ một trang tài liệu người sử dụng có thể đi đến mọi nơi trên
thế giới để xem những trang tài liệu khác chỉ bằng bước kích chuột vào liên kết mà
trình duyệt thể hiện.
WWW đi kèm với mô hình mạng client/server và sử dụng giao thức HTTP
giữa client và server. Tài liệu được chứa trên nhiều các server tự trị trên Internet và
được truy cập bởi HTTP client gọi là trình duyệt Web.
Để truy cập vào tài nguyên WWW, client phải:
+ Chạy một trình duyệt WWW chẳng hạn như Internet Explorer
(TM)
Masaic
(TM)
hoặc Netscape
(TM)
… Có vài WWW client có sẵn và chúng có thể được tải
xuống trực tiếp từ Internet.
+ Kết nối đến một WWW server bằng cách cung cấp một địa chỉ URL và gửi
yêu cầu HTTP. Điển hình như client yêu cầu một file (trang HTML, hình ảnh…)
hoặc thư mục đang hiển thị từ server, client cũng có thể gửi một ứng dụng đến
server.
Server sẽ đáp ứng với trạng thái hoạt động hoặc thành công hoặc bị lỗi và dữ

HTTP là một giao thức client/server nằm ở tầng ứng dụng của mô hình phân
tần Internet. Bằng việc mở rộng những phương thức hay dòng lệnh, người sử dụng
có thể sử dụng HTTP cho nhiều chức năng khác nhau, kể cả chức năng quản lý hệ
thống tên server và các đối tượng phân tán. HTTP không ngừng được cải tiến, dẫn
đến việc W3C được đưa ra vào năm 1994 đã phát triển thành một tiêu chuẩn chung
cho Web.
C) HOẠT ĐỘNG CỦA HTTP:
Các tiến trình xảy ra khi Client mở một tài liệu HTNL trên một WWW
server:
1/ Kết nối TCP: Mặc định HTTP server sẽ lắng nghe ở cổng 80. Trình duyệt
lựa chọn một cổng cục bộ (>1024) và thực hiện một kết nối TCP đến cổng một
server trước khi dữ liệu được gửi. Một HTTP server có thể lắng nghe ở một cổng
khác, tuy nhiên client cần phải cung cấp sô thứ tự cổng chính xác ở URL để có thể
kết nối.
2/ Yêu cầu phía Client:
Dòng yêu cầu: Chứa một câu lệnh yêu cầu gọi là phương thức và địa chỉ URL
của đối tượng được giải quyết yêu cầu bởi phương thức.
+ Phương thức: Được sử dụng để chỉ thị cho server thi hành một công việc
đặc biệt. Hầu hết các server bao gồm cả IIS chỉ hỗ trợ 3 phương thức bởi vì các
phương thức không được thi hành bởi hầu hết các trình duyệt.
GET: Phương thức này chỉ thị cho HTTP server gửi đến một đối tượng (các
Web site, file, hình ảnh…) bằng địa chỉ URL. Phương thức này chỉ dùng trên
HTTP client.
HEAD: Phương thức này cũng giống như GET, tuy nhiên nó chỉ trả về thông
tin header của đối tượng chứ không phải toàn bộ dữ liệu.
POST: Phương thức này được sử dụng bởi HTTP client để gửi một đối tượng
lên server.
Ví dụ: GET www.microsoft.com/HTTP
+ Trường tiêu đề của gói tin: Đây là một tập các trường mô tả client và kiểu
dữ liệu được gửi.

thực và sau đó sử dụng nó để gửi một thông điệp để xác thực server. Nếu server
không chuyển lại việc xác thực là đúng, client sẽ cảnh báo cho người sử dụng
“server is not who it claims to be “ hoặc có thể là một “trojan” server.
Client/server xác nhận khóa chứng thực để sử dụng cho phiên này:
Nếu server trả lời lại thành công, client và server sẽ tạo ra một khóa bí mật ngẫu
nhiên (chỉ ra như một Master Key trong đặc tả SSL) từ việc trao đổi dữ liệu ngẫu
nhiên và phương thức mã hóa điển hình (chẳng hạn như RSA)
Giải mã dữ liệu với một khóa: Tất cả các dữ liệu gửi ngoài kênh SSL thì được
mã hóa với một khóa bí mật.
4. Tổ chức Web site:
Các Web site phải tự nhập một mình có nghĩa là nó tự hỗ trợ chính nó. Mỗi
Web site có thể di chuyển dến một máy khác để cân bằng việc tải xuống hoặc chỉ là
cho mục đích lưu thông trên mạng. Để làm được việc này, chúng phải tự hỗ trợ
mình, tự có các bảo mật riêng và các phạm vi ứng dụng riêng. Nếu người sử dụng là
một nhà cung cấp Internet, họ sẽ muốn thiết kế, di chuyển và có người sử dụng cập
nhật các Web site mà không quấy rầy đến các site khác trên cùng một máy.
Giao thức HTTP sử dụng các URL để yêu cầu các file từ Web server. Từ khi
hầu hết các file đều chứa trong hệ thống file, IIS cần chuyển một URL sang một tên
đầy đủ của file, IIS làm công việc này cho mỗi yêu cầu. Tuy nhiên, nó sẽ đưa lên
người quản trị để cấu hình server mà URL ánh xạ đến thư mục đó.
Để thiết kế cấu trúc hệ thống file trên một máy mà nó host nhiều Web site,
người sử dụng cần biết sự khác nhau giữa thư mục gốc (Home Dir), thư mục gốc ảo
(Virtual Root) và thư mục con (Sub Dir). Người sử dụng cũng cần biết khi nào thì
phải sử dụng chúng.
trang 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Home Dir:
Một URL chứa một tên miền đang yêu cầu thư mục chủ. Ví dụ, URL dưới đây
yêu cầu một file mặc định trong thư mục chủ:
http://www.myserver.com

mặt lý thuyết, các truy cập ngẫu nhiên ngang qua nhiều ổ đĩa sẽ nhanh hơn các truy
cập trên cùng một đĩa.
Nếu người sử dụng có nhiều Web site và đang chia xẻ thông tin, các thư mục
ảo có thể sử dụng để hoàn thành công việc này. Ví dụ, nếu phải chia xẻ hình ảnh, cả
hai Web site cùng có một thư mục ảo gọi là Graphic mà nó ánh xạ tới cùng một vị
trí trên ổ đĩa. Điều này sẽ không làm được với thư mục con. Sự cập nhật các file
trong thư mục Graphic sẽ ảnh hưởng đến cả hai site.
5. Các kiểu của bảng thuộc tính của dịch vụ WWW
trang 13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Có 3 kiểu (hoặc còn gọi là lớp) khác nhau của bảng thuộc tính: Master,
Default và File. Người sử dụng có thể định cấu hình riêng cho từng site của mình
một trong 3 kiểu trên. Nhưng mọi sự thay đổi đều có ràng buộc với nhau, nó sẽ ảnh
hưởng đến các site con và các file.
Các loại bảng khác nhau của bảng thuộc tính sẽ có ích về khía cạnh phân cấp.
Với bảng thuộc tính Master nằm ở phân cấp cao nhất và bảng thuộc tính File nằm ở
cấp thấp nhất.
Master:
Các bảng thuộc tính Master quyết định các thuộc tính mặc định của các Web
site ảo đã tạo với sự thiết lập của IIS, mà các Web site này quyết định các thuộc tính
của các file đã được tạo ra trong mỗi Web site. Trong suốt quá trình cài đặt, IIS sẽ
nạp các thuộc tính mặc định cho các bảng thuộc tính Master. Mỗi site ảo mà người
sử dụng tạo ra sẽ kế thừa việc thiết lập này. Nếu họ thay đổi thiết lập ban đầu của
bảng thuộc tính Master, các Web site ảo con sẽ kế thừa các thiết lập mới này nhưng
các Web site ảo tạo trước đó sẽ giữ nguyên.
Default:
Quá trình cài đặt sẽ tạo ra các Web site với các thuộc tính mặc định của nó.
Những các file nào mà được tạo ra với Web site mặc định sẽ kế thừa các thiết lập
này.
File:

- Chia xẻ thư mục, file:
Bảng thuộc tính của thư mục WWW trong Internet Service Manager (ISM)
cho phép người quản trị chia xẻ các thư mục và file cho WWW client. Những thư
mục này là những thư mục cụ bộ từ phân vùng FAT/NTFS hoặc là các thư mục từ
những server khác mà IIS có thể truy cập được.
WWW chia xẻ kết nối mặc định: Khi mà một client chỉ cung tên server ngay
tại địa chỉ URL gọi là thư mục chủ. Ví dụ, nếu một client mở một địa chỉ:
http://www.microsofts.com dịch vụ IIS trả về một tài liệu mặc định trong thư mục
chủ trên www.microsofts server. Các thư mục chia xẻ khác vơi thư mục chủ được
tham chiếu đến thư mục ảo.
- Sử dụng ISM để chia xẻ thư mục:
Có hai hộp thoại hiện ra cùng với ISM khi ta cấu hình việc chia xe thư mục
WWW. Thẻ Directory, WWW hiện thị danh sách tất cả các cấu hình thư mục ảo
WWW. Nó cũng cho phép người sử dụng thiết lập các thuộc tính kềm theo cho tất
cả các thư mục chia xẻ.
+ Tài liệu mặc định:
File này được trả về khi người sử dụng mở một thư mục và không chỉ định
tên file. Điển hình cho file này là các file tên default.htm hoặc index.htm.
+ Thư mục đang duyệt:
Nếu người sử dụng mở một thư mục mà không chứa một tài liệu mặc định,
server sẽ trả về một danh sách các file trong thư mục.
+ Bảo mật:
IIS có nhiều chức năng bảo mật để giữ gìn server và dữ liệu của người sử
dụng khỏi những cuộc xâm nhập bất hợp pháp và hacker. IIS dựa vào sự thiết lập
của Windows NT (TM) và một hệ thống chứng nhận C2. Giữ an toàn cho IIS server
là một sự kết hợp của việc thiết lập bảo mật cho Windows NT và các chứng năng
bảo mật của dịch vụ IIS. Thêm vào đó nếu server kết nối với Internet, một bộ chọn
kênh (rooter) hoặc bức tường lửa có thể được thiết lập để cung cấp thêm độ an toàn.
8. Thư mục ảo:
Thư mục ảo là một thư mục phi vật lý chứa trong thư mục chủ của dịch vụ

Chú y:
Chắc chắn rằng tài khoản của người sử dụng mà đã thiết lập sẽ cho phép truy
cập Internet đến một thư mục ảo từ xa mà chỉ cung cấp một quyền tối thiểu cho việc
sử dụng site này. Đừng nên dùng tài khoản của nhà quản trị để truy cập các thư mục
ảo.
c) Thư mục ảo từ xa và FrontPage:
Công cụ quản lý và soạn thảo FrontPage tự động quản lý việc sử dụng các
thư mục ảo. Khi được cài đặt, FrontPage sẽ khởi tạo các thư mục ảo cho các thư
mục chứa các phần mở rộng có thể thực thi. Thêm vào đó, ban có thể cho phép các
phần mở rộng của file chuyển thành các đối tượng có thể thực thi được bằng cách
đánh dấu vào các thư mục chứa chúng, chẳng hạn như các đối tượng mở rộng sau:
Active Server Pages (.ASP)
Các file Internet database connector (.idc)
CGI
Phần mở rộng ISAPI (.dll)
Perl Script (.pl)
Chú ý: bởi vì FrontPage không hỗ trợ đối với các vùng có nội dung không
liền nhau vì vậy không thể dùng thư mục ảo để trộn các vùng có nội dung không
liền nhau trong FrontPage.
9. Server ảo:
Nhiều tên miền có thể được host lên một máy đơn đang chạy IIS bằng chách
sử dụng server ảo.
Với nhiều server ảo người sử dụng có thể host nhiều site Web và site FTP lên
một máy đơn đang chạy IIS, điều này có nghĩa là không cần cấp một máy và một
phần mềm trọn gói cho mỗi site này. Người sử dụng đơn giản chỉ cần một địa chỉ IP
duy nhất cho mỗi tên miền được phân công đến server và bằng cách sử dụng Host
Header người sử dụng có thể sử dụng một địa chỉ IP cho nhiều tên miền. Tuy nhiên
trang 16
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
chỉ site WWW mới có thể sử dụng Host Header. Server ảo cũng tập trung hóa việc

liệu được truyền đi. Sự kết nối còn lại này hoạt động trong toàn bộ phiên hoạt động
của FTP. Giao thức có định hướng này rất nổi tiếng về độ tin cậy và sự phục hồi lỗi
ứng với các đặc điểm sau:
- Điều khiển luồng: Bởi vì các client và server đều tham gia trong việc truyền
các gói tin vì vậy các vấn đề về việc truyền tin như là các gói tin làm tràn bộ nhớ và
lạc mất các gói tin là không thể xảy ra.
- Sự chứng nhận: Máy tính gửi các gói dữ liệu và mong chờ một tín hiệu
chứng nhận từ các máy tính nhận. Sự chứng nhận này kiểm tra xem máy đó đã nhận
được gói tin hay chưa.
- Sự truyền lại: Nếu việc truyền đi của máy tính không nhận được một tín
hiệu ACK ứng với một khoảng thời gian đã định trước, nó sẽ giả định rằng gói tin
đó đã bị mất hoặc bị thất lạc thì sau đó nó sẽ truyền lại gói tin đó.
Tính tuần tự: Tất cả các gói tin sẽ được đánh số và gửi cùng lúc, vì thế máy
nhận sẽ biết cách tổ chức dữ liệu nhận được.
trang 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
- Checksum: Tất cả các gói tin được chứa trong một checksum để đảm bảo
tính toàn vẹn của dữ liệu. Nếu dữ liệu bị thất lạc ở một nơi nào đó trong suốt quá
trình truyền, checksum sẽ chỉ ra rằng dữ liệu nhận được không giống với dữ liệu
gửi.
a) Các thuộc tính của FTP trên IIS:
Mỗi site FTP mà người sử dụng tạo ra đều có một bảng thuộc tính riêng của
nó. Những cài đặt chung hoặc các thuộc tính cho mỗi site được hiển thị trong các
bảng thuộc tính này.
Dịch vụ FTP sử dụng 5 bảng thuộc tính để cấu hình cho các dịch vụ FTP, cụ
thể như sau:
FTP Site. (Site FTP)
Security Account. (Bảo mật tài khoản)
Messages. (Thông báo)
Home Directory. (Thư mục gốc)

Security Directory để cho phép Client chỉ có thể đọc hoặc ghi lên file trong một
thư mục được chia xẻ.
trang 18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
- Truy cập File: Nếu các yêu cầu đã qua các kiểm tra bảo mật trước đó, dịch
vụ FTP sẽ đưa các yêu cầu này đến hê thống file để đạt được tài nguyên. Dịch vụ
FTP đóng vai trò của người sử dụng FTP Client khi tạo ra các yêu cầu. Nếu hệ
thống file từ chối truy cập đến tài nguyên, FTP server sẽ trả về khoảng 550 tên file
“Access Denied” (từ chối truy cập). Các truy cập file được cấu hình bằng cách sử
dụng File Manager hoặc các thuộc tính file trong Explorer.
V. APACHE WEB SERVER:
1. Giới thiệu về Apache Web Server:
Apache là một phần mềm Web server được cung cấp bởi tập đoàn Apache
Group. Đây là một Web server được hỗ trợ để chạy chủ yếu trên UNIX va LINUX
và rất được phổ biến bởi tính chặt chẽ, uyển chuyển và linh hoạt. Hiện nay Apache
là một Web server đang quản lý hơn 50% số Web site đang có trên thế giới.
2. Tổ chức Web site:
Trước khi bắt đầu xây dựng một Web site, người sử dụng có thể muốn tìm
hiểu tổ chức của nó. Khi có nhiều hơn các khả năng suy nghĩ về các cách tổ chức
cấu trúc một Web site, người sử dụng có thể suy nghĩ về nó như một viễn cảnh đi
lại. Trong những suy nghĩ thêm của nó về khía cạnh này, sẽ nảy sinh ra những câu
hỏi: Người sử dụng có thể làm gì để dễ dàng giữ gìn Web site của mình? Các quy
ước nào sẽ làm đơn giản Web site của họ?
3. Cài đặt Apache trên Windows:
Chạy file Apache.msi đã tải Apache về, người sử dụng sẽ phải nhập các thông
tin sau:
- Có hay không việc chạy Apache cho tất cả mọi người sử dụng (như một
dịch vụ) hoặc cài đặt Apache để chạy trên một cửa sổ giao tiếp khi chọn shortcut
khởi động Apache.
- Tên Server, tên miền và tài khoản email của người quản trị.

khởi động dịch vụ Apache bằng cách mở cửa sổ Service, chọn Apache, nhắp chuột
vào Start, Apache sẽ bắt đầu chạy, ẩn trên màn hình. Sau đó có thể ngừng Apache
bằng cách nhắp chuột vào Stop. Có một lựa chọn khác để sử dụng dịch vụ Apache
từ các dòng lệnh sau tại cửa sổ giao tiếp:
Net start Apache
Net Stop Apache
Sau khi khởi động Apache, người sử dụng có thể kiểm tra nó bằng cách sử
dụng thủ tục như sau để chạy trên cửa sổ giao tiếp:
Apache –n “service name”
Để chắc chắn việc đang sử dụng các dịch vụ được cấu hình mặc định của
Apache.
Có nhiều dịch vụ khác của Apache được cài đặt và chạy như một dịch vụ.
Các dòng lệnh sau sẽ khởi động, khởi động lại, Tắt và Ngừng các dịch vụ:
- Apache –n “service name” –k start.
- Apache –n “service name” –k restart.
- Apache –n “service name” –k shutdown.
- Apache –n “service name” –k stop.
Ký hiệu chuyển đảo –n để chỉ các dịch vụ Apache mặc định, còn khi không
có –n mà chỉ có –k dòng lệnh sẽ chỉ định rằng Apache đang chạy trên một cửa sổ
giao tiếp, trường hợp này chỉ yêu cầu đối với các tên dịch vụ của Apache có chứa
khoảng trắng.
Ngoài ra để Stop Apache trên cửa sổ giao tiếp còn có thể ấn tổ hợp phím Ctrl
+ C hoặc Ctrl + Break.
b) Chạy Apache trên cửa sổ giao tiếp:
Một khi đóng cửa sổ giao tiếp sẽ kết thúc việc chạy Apache.
Tại biểu tượng Start menu và trình Windows NT Service Manager có thể cung
cấp một giao diện đơn giản để quản trị Apache. Nhưng dễ dàng nhất để làm việc là
từ dòng lệnh.
Khi làm việc với Apache điều quan trọng nhất là việc tìm các file cấu hình.
Người sử dụng có thể chỉ ra file cấu hình bằng hai cách (dùng các dòng lệnh):

Apache khởi động, nó sẽ đọc file httpd.conf từ thư mục này. Nếu thư mục này chứa
chỉ thị ServerRoot mà nó khác với thư mục đang tồn tại trong khóa registry, Apache
sẽ quên khóa registry và sử dụng thư mục được thiết lập trong file cấu hình. Nếu
người sử dụng chép một thư mục Apache hay các file cấu hình đến một nơi khác,
nó sẽ vẫn còn cho đến khi cập nhật lại thư mục ServerRoot trong file httpd.conf đến
một nơi khác.
Để chạy Apache từ dòng lệnh như một ứng dụng giao tiếp, sử dụng dòng
lệnh: apache
Apache sẽ được bắt đầu và sẽ vẫn chạy cho đến khi người sử dụng nhấn tổ
hợp phím Ctrl – C.
Để kiểm tra việc thiết lập các thông số cho file cấu hình dùng lệnh:
apache –t
Lệnh này được sử dụng để thay đổi các file cấu hình khi Apache vẫn còn
đang chạy. Người sử dụng có thể tạo ra các thay đổi, xác nhận việc thay đổi là tốt
bằng lệnh “apache –t”, sau đó khởi động lại Apache với “apache –k restart”.
Apache sẽ đọc lại các file cấu hình cho phép thực hiện bất kỳ một tiến trình nào để
hoàn thành mà không xảy ra gián đoạn. Bất kỳ một yêu cầu nào cũng sẽ được phục
vụ với việc sử dụng cấu hình mới.
5. Kiểm tra Apache trên Windows:
trang 21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Chạy Command Prompt danh sách Program của trình đơn Start.
Chọn thư mục đã cài đặt Apache vào và gõ lệnh apache và đọc các thông
báo lỗi (nếu có). Sau đó xem lại file error.log cho các cấu hình bị thiết lập sai. Nếu
người sử dụng chấp nhận mặc định khi cài đặt Apache, các dòng lệnh sẽ là:
c:
cd "\program files\apache group\apache"
apache
Wait for Apache to exit, or press Ctrl+C
more <logs\error.log

cho thuê. Từ khi người thuê server có thể sử dụng tên miền của chính mình, các địa
chỉ có khuynh hướng ngắn đi. Điều này đã giúp đỡ việc đưa ra tính chuyên nghiệp
đồng nhất trên thế giới. Những người sử dụng thích nhớ những địa chỉ ngắn hơn từ
khi tên miền có một vài sự thích hợp với tên của các tập đoàn công ty.
- Rút gọn tối đa các máy tính và phần cứng mạng, nhiều site tốc độ chậm có
thể nằm ở tại một máy đơn, điều này làm giảm bớt giá thành của việc đưa một site
lên mạng.
- Giảm bớt giá thành về con người kết hợp với các hệ thống quản trị. Thay
cho việc quản lý và cấu hình một server chuyên dụng cho các tên miền. Một Web
server chỉ cần duy trì vài file cấu hình và một số các box. Điều này sẽ dẫn đến việc
giảm một số hệ thống cần để duy tu nó, như vậy việc duy trì một mảng sẽ đơn giản
hơn và ít tốn kém hơn.
Bởi vì hầu hết các Web site khi tạo ra đều không đủ đường truyền lưu thông
để sử dụng hết các tài nguyên trên một máy đơn, điều đó là sự khát khao từ một
người quản trị cá nhân cho phép một server đơn giản trên mạng và chạy như nhiều
máy khác nhau thay vì dành cho phần cứng và tiền bạc để mỗi site được đưa lên,
một vài server cấu hình các lệnh để đưa ra các kết quả như nhau: một virtual site.
Bởi vì phí tổn để cài đặt một server có thể chia xẻ cho nhiều site, thời gian để cấu
hình và quản lý Web site được giảm đi rất nhiều.
Virtual host đã đem lại một khía cạnh chắc chắn của việc tạo ra một trang
Web di động. Khi một site là ảo, nó dễ dàng di chuyển đến một Web server khác
trong cùng một mạng hoặc ở một nơi nào khác. Đây chính là vấn đề của việc
chuyển chỗ các trang HTML của các site đến một máy mới và điều chỉnh các thông
tin DNS (Domain Name Server) của site đưa lên một server mới. Để việc thích
nghi với DNS được cập nhật, đơn giản chỉ cần tạo ra sự đổi hướng trên server cũ .
Điều này cho phép sự lưu thông được trôi chảy mà không có sự sai sót, đó là một
vấn đề quan trọng với các site đang lớn mạnh đang được lưu thông để tạo ra kinh
doanh.
Về mặt lịch sử, khi người sử dụng muốn một site đang host sử dụng tên miền
của họ, sự lựa chọn có thể được là mua hoặc thuê một máy tính và dùng nó để cấu

nguyên nơi các tài nguyên đó sử dụng tên truyền thống (chẳng hạn www.aple.com,
www.mailhost.com hoặc ftp.aple.com ) Một máy Multihomed cần nhiều hơn thế, nó
phải trả lời cho cùng lúc hai hoặc nhiều địa chỉ IP chẳng hạn địa chỉ IP 1.2.3.4 là
địa chỉ được ấn định bởi mạng làm việc Internet của người sử dụng cung cấp khi họ
sign up với chúng.
7 .Virtual site:
Virtual site là một Web site mà nó cùng nằm trên một server với các Web
site khác. Mỗi Web site thì được truy cập bằng tên của chúng và chia xẻ tất cả tài
nguyên phần cứng với các virtual site khác. Mặc dù tất các yêu cầu đều được trả lời
bằng các xử lý như nhau trên HTTP server, nhưng các trang chủ khác nhau được trả
về cho mỗi site phụ thuộc vào tên hoặc địa chỉ IP sử dụng khi truy cập các thông
tin.
Một vấn đề về mạng khác là việc phải đánh địa chỉ trước khi có thể
multihome là DNS. DNS cung cấp một tên máy đến dịch vụ chuyển sang IP. Khi tên
máy được đánh số, con người thích sử dụng tên máy hơn. DNS chuyển các tên
sang số và các số sang tên. Sự thay đổi này có ý nghĩa là nếu người sử dụng kết nối
với Internet, và đang chạy với một tên server . Nếu không thì ngược lại không một
ai khác chạy nó. Nếu người sử dụng không phải đang chạy với DNS của chính
mình, họ sẽ cần phải ngang hàng với quyền quản trị mạng của chính mình để thi
hành bất kỳ sự thêm vào hoặc thay đổi DNS.
8. Cấu hình Apache trên Windows:
a) Các file cấu hình của Apache server:
Web server sẽ đọc 3 file chứa các chỉ thị cấu hình. Bất kỳ một chỉ nào nào
được hiển thị trong các file này đều sẽ được thực hiện.
trang 24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Conf/httpd.conf: Chứa các chỉ thị mà nó điều khiển sự thi hành của
server. Tên file có thể được lướt qua với ký hiệu khả chuyển –f.
Conf/srm.conf: Chứa các chỉ thị mà nó điều khiển sự chỉ định các tài
liệu mà server cung cấp cho các client. Tên file có thể được lướt qua với chỉ thị

sử dụng lệnh sau đây:
LoadModule status_module modules/mod_status.so
+ Apache cũng có thể nạp các phần mở rộng ISAPI (các dịch vụ ứng dụng
Internet) chẳng hạn các ứng dụng được sử dụng bởi Microsoft IIS và các server
Windows khác. (Chú ý: Apache không nạp các bộ lọc ISAPI).
+ Khi đang chạy CGI script, các phương thức Apache tìm kiếm các giải thích
cho script được cấu hình đang sử dụng chỉ thị ScriptInterpreterSource.
9. Apache và các dịch vụ hỗ trợ:
a) HTTPD:
Tên dòng lệnh:
httpd [ -X ] [ -R libexecdir ] [ -d serverroot ] [ -f config]
[ -C directive ] [ -c directive ] [ -D parameter ]
trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status