tìm hiểu về các web server thông dụng - Pdf 13


. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
CHƯƠNG I
TÌM HIỂU VỀ CÁC WEB SERVER THÔNG DỤNG
I. GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS NT
1. Thế nào là một hệ điều hành mạng:
Mạng bao gồm các tài nguyên (máy trạm, máy in…) và các thiết bị
truyền thông (router, bridge). Với việc ghép nối các máy tính thành mạng
thì cần thiết phải có một hệ thống phần mềm có chức năng quản lý tài
nguyên, tính toán và xử lý truy cập một cách thống nhất trên mạng, hệ như
vậy được gọi là hệ điều hành mạng. Mỗi tài nguyên của mạng như file, đĩa,
thiết bị ngoại vi được quản lý bởi một tiến trình nhất định và hệ điều hành
mạng điều khiển sự tương tác giữa các tiến trình và truy cập đến các tiến
trình đó.
Quản lý các tài nguyên: tập tin ở xa, nạp và chạy các App dùng
chung, I/O với các thiết bị mạng dùng chung, chỉ cấp phát CPU trong tiến
trình NOS.
Căn cứ vào việc truy cập tài nguyên trên mạng mà người ta chia thực
thể trong mạng thành hai loại chủ và khách, trong đó máy khách (Client)
truy cập được vào tài nguyên của mình nhưng không chia xẻ tài nguyên của
nó với mạng, còn máy chủ (Server) là máy tính nằm trên mạng và chia xẻ
tài nguyên của nó với người dùng mạng.
Hiện nay các hệ điều hành mạng thường được chia làm hai loại là hệ
điều hành mạng ngang hàng và hệ điều hành mạng phân biệt (clent/server).
Với hệ điều hành mạng ngang hàng, mỗi máy tính trên mạng vừa có
thể đóng vai trò chủ lẫn khách tức là chúng có thể sử dụng tài nguyên của
mạng lẫn chia xẻ tài nguyên của nó cho mạng. Ví dụ: Lantastic của Artisoft,
Netware của Novell, Windows (for Workgroup, 95, NT client) của
Microsoft.
1
Với hệ điều hành mạng phân biệt các máy tính được phân biệt chủ và

hóc cao, những khả năng cung cấp dịch vụ mạng lớn và những lựa chọn kết
nối khác nhau, Windows NT server không hạn chế số người có thể thâm
nhập vào mạng.
Với Windows NT server ta cũng có những công cụ quản trị từ xa vào
mạng mà có thể thực hiện việc quản trị những máy tính ở xa. Nó tích hợp
với tất cả những sơ đồ mạng BUS, STAR, RING và hỗn hợp.
Windows NT là hệ điều hành có sức mạnh công nghiệp đầu tiên cho
số lượng khổng lồ các máy tính IBM compatible, Windows NT là một hệ
điều hành thực sự dành cho người dùng, các cơ quan, các công ty xí nghiệp.
Windows NT là một hệ điều hành đa nhiệm, đa xử lý với địa chỉ 32 bit bộ
nhớ. Nó yểm trợ các ứng dụng của DOS, Windows, Win 32 GUI và các ứng
dụng dựa trên ký tự. Windows NT server là hệ điều hành mạng, đáp ứng
cho mạng cục bộ (LAN) vừa đáp ứng cho mạng diện rộng (WAN) như
Intranet, Internet.
Windows NT server hơn hẳn các hệ điều hành khác bởi tính mềm
dẻo, đa dạng trong quản lý. Nó vừa cho phép quản lý mạng theo mô hình
mạng phân biệt (Client/Server) vừa quản lý theo mô hình mạng ngang hàng
(Peer to Peer).
Windows NT server đáp ứng tốt nhất các dịch vụ viễn thông, một
dịch vụ được sử dụng rộng rãi trong tương lai.
Windows NT server cài đặt đơn giản, nhẹ nhàng và điều quan trọng
nhất là nó tương thích với hầu như tất cả các hệ mạng, nó không đòi hỏi
người ta thay đổi những gì đã có.
Cho phép dùng các dịch vụ truy cập từ xa, có khả năng phục vụ đến
64 cổng truy nhập từ xa.
Đáp ứng cho các máy trạm Macintosh nối với Windows NT server.
Windows NT server yểm trợ mọi nghi thức mạng chuẩn như
NETBUEI, IPX/SPX, TCP/IP … và các nghi thức khác. Windows NT cũng
tương thích với những mạng thông dụng hiện nay như Novell netware,
Banyan VINES và Microsoft LAN Manager. Đối với mạng lớn và khả năng

Siêu văn bản cho phép người sử dụng xem một tài liệu khác lưu trữ ở
trên cùng một máy hoặc trong một máy khác đặt ở một nơi khác trên thế
giới. Nó cho phép thông tin tồn tại hầu như dưới dạng ba chiều. Người sử
dụng không những chỉ có thể đọc tài liệu mà còn có thể chuyển đến một chỗ
khác.
Tiến trình tìm và mang thông tin về hoàn toàn trong suốt đối với
người sử dụng. Nó là một ngôn ngữ uyển chuyển và dễ sử dụng. Sự điều
hướng thông tin qua nhiều thông tin theo một cách đặc biệt. Nó cho phép
ngwời sử dụng thu thập thông tin một cách dễ dàng và hiển thị chúng theo
cách mà người sử dụng dễ lựa chọn nhất.
Nếu bất ngờ người sử dụng hỏi bằng cách nào để tạo ra một trang
Web. Thì họ sẽ giáp mặt với hàng loạt các vấn đề có liên quan mà họ cần
phải tìm hiểu trước khi bắt đầu viết mã một trang HTML đầu tiên. Vấn đề
quan trọng nhất và là lý do cơ bản nhất là phải lựa chọn phần mềm server
nào để sử dụng, với những thông tin cơ bản nhất mà cuốn báo cáo này cung
cấp, sự lựa chọn có lẽ là không khó.
Các vấn đề mà cần phải quan tâm khi lựa chọn một Web server để
giao phó công việc cho nó.
- Phần mềm trả tiền hay đươc miễn phí.
- Dễ cài đặt.
- Dễ cấu hình.
- Dễ mở rộng hoặc tuỳbiến một vài diện mạo của server.
- Các đặc trưng cơ bản.
- Sự phát triển liên tục.
- Hỗ trợ bảo mật.
- Mã nguồn sẵn có.
- Hỗ trợ công nghệ.
- Hỗ trợ nền tảng.
- Hỗ trợ đối với các phần mềm thứ ba.
5

Option Pack hoặc tải từ Internet và chạy Setup.exe.
6
Windows NT Option Pack: IIS là một thành phần của Windows NT
Option Pack. Một bộ Windows NT Option Pack sau khi cài đặt đầy đủ phải
bao gồm các thành phần sau:
Microsoft Transaction Server. (MTC)
Microsoft Management Console. (MMC)
Microsoft Index Server.
Microsoft Certificate Server.
Microsoft Site Server Express. (SSE)
- MTS là một thành phần cơ bản giải quyết các tiến trình hệ thống
cho các quá trình phát triển, phá huỷ và quản lý sự thi hành ở mức cao và
các ứng dụng server mạnh.
- MMC là một ứng dụng xuyên suốt phân chia các công cụ quản lý
mà nó có thể đưa ra các cách để quản trị các chương trình mạng, thêm vào
đó MMC được kết hợp với các sản phẩm của Microsoft như: Windows NT
và tất cả các sản Office.phẩm thuộc MS Back
Trong khi MMC tự nó không đưa cho người sử dụng bất kỳ một chức
năng nào được thêm vào cả mà chỉ cung cấp một môi trường chung cho
snap-ins. Snap-ins cung cấp môi trường quản trị ảo cho mỗi sản phẩm
tương thích của nó. Snap-ins được trình bày trong IIS như là một dịch vụ
quản lý Internet (ISN). Khi IIS khởi động, MMC cũng sẽ được khởi động
và nạp vào snap-ins.
Trong tương lai tất cả các sản phẩm của MS Back Office bao gồm cả
Windows, Windows NT, các công cụ quản trị mạnh sẽ được chuyển sang
MMC.
Một bộ IIS phải bao gồm đầy đủ các thành phần sau:
Content Index (Index Server).
FTP Publishing Service.
IIS Admin Service (Internet Service Manager snap-in).

biệt từ một CGI bình thường có thể thi hành, mà nó là một tiến trình rời
8
rạc. Sử dụng các phần mở rộng này làm tăng khả năng thi hành của server
và làm giảm bộ nhớ yêu cầu.
+ Bộ lọc: Các API này có thể được sử dụng để viết các DLL mà nó
ngăn chặn tất cả khảng năng tải HTTP đang được nhận bởi server. Một
ứng dụng có thể được viết mà nó thực hiện nén, giải nén, mã hóa, giải mã
hoặc thêm vào các xác thực.
+ Internet Service Manager:
Công cụ này được sử dụng để cấu hình và theo dõi tất cả các IIS trên
một mạng. Nó sử dụng RPC để cấu hình IIS trên một máy khác.
+ Các ứng dụng client:
IIS hỗ trợ các giao thức HTTP, Gopher, FTP và các client những giao
thức này như là các trình duyệt : Internet Explorer, Netscape.
+ Internet Database Connector (IDC):
- Với IDC người sử dụng có thể:
- Truy cập ODBC tương thích với các cơ sở dữ liệu.
- Tạo trang Web quản lý cơ sở dữ liệu.
- Chèn, cập nhật và xóa thông tin cơ sở dữ liệu do người sử dụng
muốn nhập vào từ trang Web.
- Thực hiện các câu lệnh SQL khác.
3. IIS WWW Server:
WWW là một bộ tập hợp các thông tin của client và server. Dữ liệu
siêu văn bản (hyper text) được chia xẻ bởi các server đang chạy phần mềm
Web và được truy cập bởi các client đang chay một phần mềm ứng dụng
Web gọi là trình duyệt Web.
WWW server cung cấp các thông tin phân tán và phần mềm, nhưng
theo hướng site hơn là hướng thư mục. Tài liệu Web là một tài liệu siêu văn
bản được viết bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML), và với các
thẻ đặc biệt để liên kêt đến nội dung các tài liệu khác, chúng được gọi là

- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều kiểu dữ liệu. Một trình duyệt
WWW có thể tự động tải xuống và hiển thị các file văn bản, hình ảnh, chạy
video, sound clip và khởi chạy các ứng dụng trợ giúp cho tất cả các loại file
phổ biến. Người sử dụng không cần biết trình duyệt tải xuống hoặc sử dụng
các file dữ liệu ở xa như thế nào chỉ đơn giản là trình duyệt đã giúp ta trong
việc tải xuống và hiển thị các file.
10
Một ví dụ: Một WWW client đang mở một file ảnh BMP, người sử
dụng sẽ thấy nó hiển thị ngay lập tức nó trong cửa sổ ứng dụng của WWW
client. Nếu sử dụng một ứng dụng khác, chẳng hạn như FTP sẽ chỉ tải file
xuống và lưu trên đĩa, người sử dụng sẽ phải chạy một ứng dụng khác
chẳng hạn như Paint Bruh để xem nó.
- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều giao thức. Trình duyệt WWW
không có giới hạn để truy cập chỉ một kiểu server. Trình duyệt WWW hỗ
trợ nhiều giao thức để truy cập file trên một FTP server, các bảng chọn
trên Gopher server, Newgroups và tài nguyên WWW.
B) GIỚI THIỆU VỀ GIAO THỨC HTTP:
HTTP là một giao thức được sử dụng chủ yếu trên Internet ngày nay.
HTTP là một giao thức đi tiên phong trong sự phát triển Web. Nó có một
đặc điểm chung là tính không biên giới.
Giao thức hướng đối tượng này được sinh ra từ sự cần thiết cho một
giao thức toàn cầu để làm đơn giản việc truy cập vào Internet.
HTTP là một giao thức client/server nằm ở tầng ứng dụng của mô
hình phân tần Internet. Bằng việc mở rộng những phương thức hay dòng
lệnh, người sử dụng có thể sử dụng HTTP cho nhiều chức năng khác nhau,
kể cả chức năng quản lý hệ thống tên server và các đối tượng phân tán.
HTTP không ngừng được cải tiến, dẫn đến việc W3C được đưa ra vào năm
1994 đã phát triển thành một tiêu chuẩn chung cho Web.
C) HOẠT ĐỘNG CỦA HTTP:
Các tiến trình xảy ra khi Client mở một tài liệu HTNL trên một

dữ liệu trả về.
Dữ liệu trả lời: Đây là dữ liệu yêu cầu ở dạng bit.
4/ Đóng kết nối.
D) GIỚI THIỆU VỀ SECURE SOCKETS LAYER (SSL)
SSL cung cấp một kết nối bảm đảm bằng cách mã hóa và giải mã dữ
liệu. Một SSL-enable server giống như IIS có thể kết nối với một SSL-
enable client chẳng hạn như trình duyệt Internet Explorer.
12
Giao thức SSL nằm ở tầng trình diễn OSI và di chuyển dữ liệu từ
tầng ứng dụng HTTP đến tầng chuyển vận TCP. Nó chịu trách nhiệm cho
việc chứng nhận, mã hóa và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Chức năng
chứng nhận bảo đảm rằng dự liệu được gửi đến đúng một server cần gửi và
server thì bảo đảm. Việc mã hóa dữ liệu bảo đảm dữ liệu không thể bị đọc
bởi bất kỳ một người nào khác ngoài server nhận. Giải mã dữ liệu bảm
đảm dữ liệu không bị sửa đổi hoặc thay thế trong quá trình truyền đi.
Khi một client kết nối đến một WWW server sử dụng SSL sẽ xảy ra
các tiến trình sau:
Client dành lấy chứng nhận server: Client và Server tự giới thiệu về
chúng lẫn nhau bằng thông điệp HELLO và trao đổi thông tin (chứa các
phương thức mã hóa) để sử dụng, tại phiên trao đổi thông tin, chứng nhận
server (chứa một khoá công khai ủa server) và dữ liệu ngẫu nhiên sẽ được
truyền đi.
Client xác minh server: Client xác minh chứng nhận server từ một
chứng thực và sau đó sử dụng nó để gửi một thông điệp để xác thực server.
Nếu server không chuyển lại việc xác thực là đúng, client sẽ cảnh báo cho
người sử dụng “server is not who it claims to be “ hoặc có thể là một
“trojan” server.
Client/server xác nhận khóa chứng thực để sử dụng cho phiên này:
Nếu server trả lời lại thành công, client và server sẽ tạo ra một khóa
bí mật ngẫu nhiên (chỉ ra như một Master Key trong đặc tả SSL) từ việc

Sub Dir:
Sub Dir là một thư mục kế thừa một ánh xạ URL từ một cấu trúc hệ
thống file. Ví dụ, nếu thư mục này đã tồn tại:
C:\intetpub\wwwroot\sale3
Sau đó, URL này cũng đã tồn tại:
http://www.myserver.com/sales
14
Thư mục con không cần được định nghĩa đến Web server bởi người
quản trị hệ thống. Bởi vì chỉ cần tạo ra một thư mục cha bằng Explorer là
thư mục sẽ được tạo, không cần phải điều chỉnh trong cấu hình IIS.
Virtual Root:
Virtual Root là một thư mục con của một URL mà nó được ánh xạ
đến các thư mục trong hệ thống file mà không thừa kế sự tồn tại của các hệ
thống file này.
Ví dụ: Nếu người sử dụng muốn site của họ chứa trong một URL
đến:
C:\inetpub\maketing\website\extenal
Thư mục ảo sẽ tạo ra một Web site hiển thị như thể nó là một cấu
trúc thư mục khác hơn hiện tại nó có trong hệ thống file.
Khi nào thì cần sử dụng thư mục ảo:
Thư mục ảo được sử dụng khi thư mục con không được sử dụng. Bởi
vì thư mục con không giống như một Web server và chúng không có tất cả
chức năng của một thư mục ảo, chúng có thể được dùng ở mọi nơi. Thêm
vào đó, thư mụ con còn tổ chức tất cả các file chứa trong một nơi trung tâm
cho các Web site.
Các thư mục ảo dược dùng khi tất cả các file trong thư mục ảo không
thể chứa được trên cùng một ổ đĩa. Ví dụ: Nếu người sử dụng có một Web
site mà lớn hơn 2 Gb họ không thể chứa tất cả chúng trên cùng một ổ đĩa.
Trong trường hợp này họ sẽ cần đến các Web site phân tán trong nhiều
thư mục ảo trên các thư mục ở mỗi ổ đĩa. Để làm được người sử dụng phải

File:
Các file tạo ra trong thư mục ảo sẽ kế thừa các thiết lập của thư mục
ảo đó, ứng với các file được tạo ra trong các trang Web mặc định sẽ kế thừa
các bảng thuộc tính của Web site đó. Sau khi một file được tạo ra thì các
thuộc tính được cấu hình ở mức file.
16
6. Bảng thuộc tính WWW:
Dịch vụ WWW trên IIS có thể cấu hình 9 bảng thuộc tính sau:
Web Site: Sử dụng bảng thuộc tính Web Site để thiết lập sự nhận biết
Web site, chỉ rõ số kết nối cho phép và cho phép hoặc cấm truy cập vào
một Web site.
Operators: Sử dụng bảng thuộc tính Operators để điều khiển các tài
khoản người dùng nào có quyền quản trị các Web site của người sử dụng.
Performance: Sử dụng bảng thuộc tính Performance để điều chỉnh
cho thật tốt sự thi hành của các Web site.
ISAPI filter: Sử dụng bảng thuộc tính ISAPI filter chứa các bộ lọc
ISAPI. Người sử dụng có thể sử dụng ISAPI để chạy các ứng dụng từ xa.
Yêu cầu một URL mà nó ánh xạ đến một bộ lọc đang hoạt động tại các ứng
dụng đó. Có thể sử dụng các thông sô cài đặt của nó để ánh xạ một tên file
đến bộ lọc cho phép trên một Web server.
Home Direcory: Sử dụng bảng thuộc tính Home Direcory để thay đổi
thư mục chứa các Web site và điều chỉnh các thuộc tính của nó.
Document: Sử dụng bảng thuộc tính Document để chỉ định một tài
liệu mặc định và gán các chức năng mặc định cho Web site.
Directory Security: Sử dụng bảng thuộc tính Directory Security để
cấu hình các tính năng bảo mật cho Web server.
HTTP Header: Sử dụng bảng thuộc tính HTTP Header để thiết lập
các gia trị trả về của trình duyệt trong phần header của một trang HTML.
Custom Error: Sử dụng bảng thuộc tính Custom Error để liệt kê các
thông báo trả về trình duyệt dành cho các lỗi HTTP.

Windows NT và các chứng năng bảo mật của dịch vụ IIS. Thêm vào đó nếu
server kết nối với Internet, một bộ chọn kênh (rooter) hoặc bức tường lửa
có thể được thiết lập để cung cấp thêm độ an toàn.
8. Thư mục ảo:
18
Thư mục ảo là một thư mục phi vật lý chứa trong thư mục chủ của
dịch vụ IIS (WWW hoặc FTP) nhưng nó xuất hiện trong suốt đối với người
sử dụng vào các Web site này.
Thư mục ảo tăng khả năng linh hoạt cho việc người sử dụng quyết
định lưu trữ file ở đâu trên server của họ. Bằng cách sử dụng các thư mục
ảo để có thể cập nhật và truy cập dễ dàng nhất. Nó cũng cho phép tăng
thêm dung lượng lưu trữ cho Web site mà không cần phải tắt server.
Thư mục ảo có thế thiết lập cho cả dịch vụ WWW lẫn FTP chạy trên
IIS. Thư mục ảo có thể tạo ra các thư mục định vị ở:
- Trên cùng một đĩa: Như là các thư mục chủ WWWroot hoặc
FTProot.
- Một đĩa ở một máy khác trong mạng cục bộ.
- Ở một đĩa của máy khác trên mạng, mà máy này phải cùng tên miền
với máy có dịch vụ IIS.
a) Thư mục ảo cục bộ:
Người sử dụng có thể tạo ra các thư mục ảo cục bộ cho các thư mục
được lưu trữ trên bất kỳ đĩa nào trên một máy tính được cài đặt IIS.
Khi cấu hình mộït thư mục ảo cục bộ, người sử dụng phải cài đặt một
biệt danh cho thư mục. Biệt danh này có thể là tên thư mục hoặc một tên
bất kỳ nào khác mà nó nhận diện một Web site đến người sử dụng. Họ cũng
phải cung cấp một đường dẫn đầy đủ cho thư mục ảo.
b) Thư mục ảo từ xa:
Sử dụng thư mục ảo từ xa cho các thư mục đã được cài đặt trên các
máy khác với tên miền của máy đã cài đặt IIS.
Cũng như đối với các thư mục ảo cục bộ, khi người sử dụng cấu hình

Với nhiều server ảo người sử dụng có thể host nhiều site Web và site
FTP lên một máy đơn đang chạy IIS, điều này có nghĩa là không cần cấp
một máy và một phần mềm trọn gói cho mỗi site này. Người sử dụng đơn
giản chỉ cần một địa chỉ IP duy nhất cho mỗi tên miền được phân công đến
20
server và bằng cách sử dụng Host Header người sử dụng có thể sử dụng
một địa chỉ IP cho nhiều tên miền. Tuy nhiên chỉ site WWW mới có thể sử
dụng Host Header. Server ảo cũng tập trung hóa việc áp dụng và đơn giản
hóa việc nâng cấp các phần mềm server.
Việc host nhiều server ảo lên cùng một máy có thể giảm bớt sự thi
hành của phía server nói chung và server ảo sử dụng Host Header đòi hỏi
một giao thức HTTP phiên bản 1 tương hợp với trình duyệt Web.
Host Header:
Khả năng của các Host Header của HTTP phiên bản 1 cho phép
người sử dụng kết hợp nhiều tên của máy Host với chỉ một địa chỉ IP. IIS
sử dụng thông tin Host Header để đổi địa chỉ các tên khác nhau của server
ảo. Để sử dụng Host Header người sử dụng phải chuyển đổi từ Host name
thành địa chỉ IP sử dụng cả hệ thống tên miền (DNS) server hoặc các file
của các Host. Chức năng của file host là hỗ trợ sự chuyển đổi từ các tên
Host thành các địa chỉ IP.
Chú ý:
IIS cung cấp các trình duyệt Web không tương thích với một danh
sách các server tương thích với địa chỉ IP cho trước. Khi người sử dụng
chọn một server, một cookie mới sẽ được thay thế trên ổ đĩa của người sử
dụng và cookie này sẽ được sử dụng cho những lần truy cập sau đến server
ảo.
10. IIS FTP Server:
FTP là một giao thức được dùng để truyền nhận file giữa hai máy
trên mạng Internet.
FTP là một giao thức ra đời sớm nhất được sử dụng trên mạng

đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu. Nếu dữ liệu bị thất lạc ở một nơi nào đó
trong suốt quá trình truyền, checksum sẽ chỉ ra rằng dữ liệu nhận được
không giống với dữ liệu gửi.
a) Các thuộc tính của FTP trên IIS:
22
Mỗi site FTP mà người sử dụng tạo ra đều có một bảng thuộc tính
riêng của nó. Những cài đặt chung hoặc các thuộc tính cho mỗi site được
hiển thị trong các bảng thuộc tính này.
Dịch vụ FTP sử dụng 5 bảng thuộc tính để cấu hình cho các dịch vụ
FTP, cụ thể như sau:
FTP Site. (Site FTP)
Security Account. (Bảo mật tài khoản)
Messages. (Thông báo)
Home Directory. (Thư mục gốc)
Directory Secuity. (Bảo mật thư mục)
Trong suốt quá trình cài đặt, IIS gán các giá trị mặc định cho việc
thiết lập trên các bảng thuộc tính khác nhau. Người sử dụng có thể dùng
chung các tài liệu trên site FTP của họ mà không phải thay đổi các thiết lập
mặc định này nhưng cũng dễ dàng trong việc thay đổi các thuộc tính được
thiết lập theo ý thích.
Mỗi site FTP được tạo ra và mỗi file ứng với mỗi site FTP đều có một
thuộc tính riêng mà người sử dụng có thể điều chỉnh để tuỳ biến những cấu
hình thiết lập tên từng site một hoặc từng file một. Họ cũng có thể điều
chỉnh việc thiết lập các thuộc tính mặc định các site và các file con đã thiết
lập tuỳ biến trước đó.
Có 3 kiểu (hoặc các lớp) của các bảng thuộc tính FTP với IIS và
chúng tương tự như 3 lớp của bảng thuộc dùng trên các site WWW. Các
lớp thuộc tính FTP gồm: Master, Dedault và File. Người sử dụng có thể tuỳ
biến cấu hình của 3 kiểu thuộc tính này của bảng thuộc tính nhưng khi
thay đổi cấu hình ở một nơi nào đó thì nó cũng ảnh hưởng đến các site và

V. APACHE WEB SERVER:
1. Giới thiệu về Apache Web Server:
24
Apache là một phần mềm Web server được cung cấp bởi tập đoàn
Apache Group. Đây là một Web server được hỗ trợ để chạy chủ yếu trên
UNIX va LINUX và rất được phổ biến bởi tính chặt chẽ, uyển chuyển và
linh hoạt. Hiện nay Apache là một Web server đang quản lý hơn 50% số
Web site đang có trên thế giới.
2. Tổ chức Web site:
Trước khi bắt đầu xây dựng một Web site, người sử dụng có thể
muốn tìm hiểu tổ chức của nó. Khi có nhiều hơn các khả năng suy nghĩ về
các cách tổ chức cấu trúc một Web site, người sử dụng có thể suy nghĩ về nó
như một viễn cảnh đi lại. Trong những suy nghĩ thêm của nó về khía cạnh
này, sẽ nảy sinh ra những câu hỏi: Người sử dụng có thể làm gì để dễ dàng
giữ gìn Web site của mình? Các quy ước nào sẽ làm đơn giản Web site của
họ?
3. Cài đặt Apache trên Windows:
Chạy file Apache.msi đã tải Apache về, người sử dụng sẽ phải nhập
các thông tin sau:
- Có hay không việc chạy Apache cho tất cả mọi người sử dụng (như
một dịch vụ) hoặc cài đặt Apache để chạy trên một cửa sổ giao tiếp khi
chọn shortcut khởi động Apache.
- Tên Server, tên miền và tài khoản email của người quản trị.
- Tên thư mục để cài Apache vào (mặc định là C:\Program
Files\Apache Group\Apache mặc dù người sử dụng có thể thay đổi sang
một thư mục bất kỳ mà họ muốn)
- Kiểu cài đặt. Chức năng “Complete” sẽ cài đặt mọi thứ, bao gồm cả
mã nguồn nếu người sử dụng đã tải về gói –srm.msi. Chọn cài đặt
“Custom” nếu không muốn chọn cài đặt tài liệu hoặc mã nguồn từ gói cài
đặt này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status