Luận văn: NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA TRỒNG XEN CÂY HỌ ĐẬU ĐẾN CHÈ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI PHÚ HỘ doc - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỘC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
*******



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn Người viết T.S Nguyễn Thị Ngọc Bình Vũ Thống Nhất


Phú Thọ, tháng 9 năm 2009
Tác giả
VŨ THỐNG NHẤT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
MỤC LỤC

TT
Nội dung
Trang

Lời cam đoan Lời cảm ơn Phần 1
1

Đặt vấn đề
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài.
1


Phần 3
31

Vật liệu , nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
31
3.1
Vật liệu nghiên cứu.
31
3.2
Nội dung nghiên cứu:
31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
3.3
Công thức thí nghiệm và sơ đồ thí nghiệm:
31
3.4
Phương pháp nghiên cứu:
32
3.5
Chất lượng đất :
35
3.6
Phương pháp xử lý số liệu:
35

Phần 4
36


Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến khối lượng búp chè
55
4.3.1.3
Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến chiều dài búp chè
56
4.3.1.4
Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến tỷ lệ mù xòe
57
4.3.2
Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến chất lượng nguyên liệu.
59
4.3.3
Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến sinh hóa búp chè
60
4.3.4
Ảnh hưởng của trồng xen cây họ đậu đến năng suất và sản lượng chè.
61
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6

Sinh trƣởng của cây họ đậu
63
4.4.1
Chiều cao cây
63
4.4. 2
Đường kính thân.
64
4.4.3
Số lượng nốt sần .

Kết luận :
82
2
Đề nghị :
83

Tài liệu tham khảo
84
A
Tiếng Việt
84
B
Tiếng nước ngoài
91

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Nội dung
Trang
Bảng 2.1
Tác động của các biện pháp khác nhau đến dòng chảy bề mặt
6
Bảng 2.2
Ảnh hưởng của biện pháp sinh học đến lượng đất mất đi
7

Bảng 4.5
Diễn biến mật độ rầy xanh ở các công thức
44
Bảng 4.6
Diễn biến mật độ bọ cánh tơ ở các công thức
46
Bảng 4.7
Diễn biến mật độ bọ xít muỗi ở các công thức
47
Bảng 4.8
Diễn biến mật độ nhện đỏ ở các công thức
49
Bảng 4.9
Ảnh hưởng trồng xen cây họ đậu đến yếu tố cấu thành năng suất
50
Bảng 4.10
Ảnh hưởng trồng xen cây họ đậu đến tỷ lệ mù xoè búp chè
54
Bảng 4.11
Ảnh hưởng trồng xen cây họ đậu đến chất lượng nguyên liệu
56
Bảng 4.12
Ảnh hưởng trồng xen cây họ đậu đến thành phần sinh hoá búp chè
56
Bảng 4.13
Ảnh hưởng trồng xen cây họ đậu đến năng suất chè
58
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Bảng 4.14

71
Bảng 4.24
Tổng chi của các công thức trồng cây họ đậu che phủ
73
Bảng 4.25
Tổng thu, chi và lãi thuần của các công thức
74

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Nội dung
Trang
Hình 4.3
Chiều rộng tán chè
41
Hình 4.4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
BVTV
Bảo vệ thực vật
CT
Công thức
CHT
Chất hoà tan
Đ/C
Đối chứng
FAO
Tổ chức nông lương thế giới
HQKT
Hiệu quả kinh tế
KTCB
Kiến thiết cơ bản
LN
Lần nhắc
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSTT
Năng suất thực thu

chè cho năng suất thấp, do kỹ thuật canh tác lạc hậu và do sâu bệnh phá hại
nặng nề, trong đó kỹ thuật canh tác là nguyên nhân cơ bản giảm năng suất và
sản lượng chè. Theo thống kê hàng năm chúng ta có thể mất 15 – 30% sản
lượng là do kỹ thuật canh tác lạc hậu và do sâu bệnh phá hoại
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu các loài cây che phủ đa dạng để bảo vệ, cải
tạo đất và phục vụ các mục tiêu khác như làm thức ăn chăn nuôi hoặc các sản
phẩm có thể sử dụng trực tiếp như đậu, lạc, v.v ở giai đoạn kiến thiết cơ
bản đất trồng chè (thường là đất dốc) có độ sói mòn cao, hàm lượng dinh
dưỡng nghèo đặc biệt là hàm lượng mùn,và độ ẩm thấp, do vậy phải bổ sung
chất hữu cơ cho đồi chè bằng phân chuồng. Tuy nhiên, biện pháp này còn gặp
nhiều hạn chế.
Hàng năm sự bào mòn rửa trôi đã cuốn ra sông, ra biển hàng trăm triệu
tấn đất với hàm lượng dinh dưỡng khá cao (Tôn Thất Chiểu, 1992). Sự thoái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
hoá đất là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng, đặc biệt là ở vùng đồi núi với
2/3 diện tích đất đai của cả nước. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất hay tăng
cường sức sản xuất bền vững trên những loại đất dốc, trước tiên phải chú
trọng đến những kỹ thuật sử dụng đất hiệu quả và bền vững, thâm canh nhưng
vẫn bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất dốc. ở nước ta, trong những năm
gần đây nhiều biện pháp tổng hợp (biện pháp sinh học kết hợp với biện pháp
công trình) đã được nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả trên đất dốc, nâng cao
năng suất, sản lượng cây trồng và ổn định độ phì nhiêu của đất. Nhiều biện
pháp đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất. Nhiều loại cây trồng đã được
nghiên cứu, chọn lọc nhằm đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội, sinh
thái. Trong đó cây phân xanh, cây cốt khí là những cây che phủ có tác dụng
lớn trong việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất, đặc biệt là khi kết hợp với việc
trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả,cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê,
nó không những giữ đất, nước mà còn hỗ trợ cho sự sinh trưởng phát triển của
cây trồng. Đối với cây công nghiệp lâu năm biện pháp tốt nhất là trồng cây

hiệu quả tiềm năng đất dốc, đặc biệt ở vùng trung du miền núi phía Bắc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Hướng tới một phương thức canh tác chè cải tiến trên đất dốc hiệu quả
hơn nhưng vẫn bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) và bảo
vệ môi trường.
Tăng năng suất, giảm chi phí đầu tư, cải thiện thu nhập cho người trồng chè.
Giảm nhẹ gánh nặng cho người lao động nhất là phụ nữ và trẻ em khỏi
những lao động nặng nhọc như làm cỏ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Phân bố diện tích chè ở Việt Nam
Chè là cây công nghiệp, có giá trị kinh tế cao, chính vì vậy trong những
năm gần đây cây chè được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương
diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất
và kim ngạch xuất khẩu của Nhà nước. Năm 1998 diện tích chè trên cả nước
đạt 80.000 ha, sản lượng đạt 50.000 tấn chè khô. Năm 1999 - 2001 trong tổng
diện tích chè cả nước phát triển đạt 70% diện tích chè kinh doanh, xuất khẩu
60 - 70 nghìn tấn (tương đương 50 - 80 triệu USD). (Đỗ Văn Ngọc, 2002).
Theo quyết định số 150/2005/QĐ-TTg của chính phủ ngày 20/6/2005 về việc
phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản
cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Đối với cây chè ổn định mức 120 –
140 nghìn ha, bố trí ở Trung Du Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Duyên Hải
Bắc Trung Bộ. Đưa nhanh các giống mới có năng suất cao vào sản xuất, áp
dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn bền vững đối với cây
chè, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, khống chế nghiêm ngặt việc sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật.

đoạn kiến thiết cơ bản thì
biện pháp che phủ đất (bằng các loại cây họ đậu) đã tác động tới sinh trưởng
và phát triển của chè. Ngoài tác dụng giữ ẩm, giữ nước bốc hơi trong những
ngày mặt đất nóng hạn còn có tác dụng ngăn ngừa cỏ dại, hạn chế sự bay hơi
của phân bón, tăng cường cung cấp chất hữu cơ cho đất sau khi vật liệu đã
phân huỷ, tránh hiện tượng kết vón mặt đất sau mưa, hạn chế hiện tượng rửa
trôi xói mòn trên đất dốc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
2.3. Cơ sở khoa học của việc sủ dụng cây họ đậu che phủ đất
2.3.1. Giữ đất, giữ nước
Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định vai trò to lớn của biện pháp sinh
học trong canh tác đất dốc bền vững là cắt dòng chảy, giảm xói mòn và rửa
trôi. Nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn rửa trôi trên đất dốc chính là
động năng của các hạt mưa rơi đã phá vỡ cấu trúc đất và dòng chảy bề mặt
cuốn đất đi. Nước ta nằm trên một đại địa hình mở với khoảng 4/5 diện tích
lãnh thổ bị bóc mòn do mưa, dòng chảy bề mặt và lũ bão. Sản phẩm của trượt
đất, xói mòn và rửa trôi phần lớn bị cuốn đi một chiều, ít được lắng đọng do
các thung lũng bồi tụ hẹp. Hàng năm, hàng tỷ mét khối phù sa bị cốn trôi ra
sông biển.
Bảng 2.1: Tác động của các biện pháp khác nhau đến dòng chảy bề mặt
Nƣớc
Lƣợng
mƣa
(mm)
Biện pháp canh tác
Dòng chảy bề mặt (mm)
1989
1990
1991

36

46
194
129

111
Việt
Nam
999

1143
Sắn không băng phân
xanh
Sắn có băng cốt khí
157

285
227

305
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 2000
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Thảm cây phủ đã giữ lại nước mưa, tích tụ lại thành nguồn và nhả dần ra
cung cấp cho đất quanh năm. Dưới tác dụng của tầng lá, sức công phá của các
hạt mưa rơi đã bị giảm đi rõ rệt. Dòng nước lọc qua tán cây, chạy theo cành,

6,9
Việt Nam
30,0
5,0
83,3
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 2002
2.3.2. Cải tạo đất và điều hòa dinh dưỡng
Nhiều thí nghiệm ở Việt Nam cho thấy, biện pháp sinh học cải thiện độ phì
nhiêu của đất là toàn diện và không gây ra bất cứ hệ quả tiêu cực nào. Về bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
chất, suy thoái đất là sự suy giảm mức năng lượng hàm chứa trong chất hữu
cơ đất và được chuyển hóa bởi quần thể vi sinh vật đất. Vì vậy, tốc độ phục
hồi độ phì nhiêu đất phụ thuộc rất lớn vào việc sản xuất liên tục sinh khối và
cung cấp cho đất lượng chất hữu cơ đủ lớn để bù lại lượng chất hữu cơ bị mất
do khoáng hóa và rửa trôi. Chỉ khi có sự cân bằng dương về mùn thì độ phì
nhiêu của đất mới có thể duy trì lâu bền và cải thiện thêm, khi đó các biện
pháp kỹ thuật canh tác nông học như giống, phân bón, tưới nước mới phát
huy tác dụng cho cây trồng.
Các quan trắc về cây phủ đất đều cho thấy, đất sau khi trồng cây che phủ
trở nên tơi xốp, khả năng thấm và giữ nước tốt hơn. Độ ẩm đất dưới lớp cây
phủ luôn cao hơn trên đất trống hoặc đất bỏ hóa.
Bảng 2.3: Sự thay đổi tính chất vật lý đất dưới tác động của cây phân xanh
Tính chất đất
Đất trống
Đất sau 3 năm trồng
và vùi cốt khí
Độ xốp (%)
46,4
55,7

25,8
69,0
115,2
83,0
Muồng sợi
295,3
19,0
338,8
62,3
47,2
Hồng đáo
199,0
20,0
80,6
44,0
28,0
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 2002
Một khả năng khác của cây che phủ là kiểm soát cỏ dại. Trong điều kiện
nhiệt đới ẩm, cỏ dại nhất là cỏ tranh có thân ngầm là mối đe dọa thường
xuyên đối với canh tác đất dốc. Việc diệt trừ chúng bằng thuốc hóa học chỉ là
biện pháp tình thế, khá tốn kém và gây ô nhiễm. Một số loại cây phủ đất thân
bò, lá rộng có thể kiểm soát cỏ dại hữu hiệu lại tránh được những vấn đề trên
như đậu mèo, đậu ván dại, cỏ stylo
Bảng 2.5: Khả năng kiểm soát cỏ dại của đậu mèo Thái Lan
Cỏ dại
Dƣới đậu mèo
Đất trống
Cỏ tranh (cây/m2)
Cỏ dại (kg/m2)
3

29,4
25,0
24,0
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, 2002
2.3.4. Góp phần xóa đói, giảm nghèo
Nhiều loại cây che phủ đất có thể cho thân, lá, củ, quả, hạt ăn được, bổ
sung đáng kể lương thực hiếu hụt, đặt biệt ở vùng núi. Sản phẩm của cây họ
đậu rất giàu protein là nguồn đạm quan trọng trong bữa ăn đạm bạc thiếu dinh
dưỡng của người dân nghèo. Vùng dân nghèo thường là nơi chăn nuôi kém
phát triển, ở MNPB khi hộ nghèo được vay vốn, họ đã sử dụng đến 75% số
tiền đó cho chăn nuôi. Khi đó, cây phủ đất vừa dùng để che phủ đất, vừa làm
thức ăn cho chăn nuôi (cỏ Ghinê, cỏ stylo, đậu mèo ).
Ngoài ra, củi đun và sưởi ấm cũng là vấn đề khó khăn đối với những vùng
đất trống. Việc trồng một số loại cây che phủ thân gỗ cho sinh khối cao và
nhanh như keo, muồng là vô cùng ý nghĩa và thiết thực.
2.3.5. Góp phần tôn tạo cảnh quan văn hóa
Môi trường xanh, sạch, đẹp luôn là chủ đề thời sự ở tất cả các quốc gia,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
cảnh quan đẹp cũng là nguồn lợi kinh tế rất đáng kể cho đất nước vốn có lợi
thế về du lịch sinh thái. Do vậy, việc phát triển cây phủ đất không chỉ nhằm
vào mục đích kinh tế trực tiếp mà còn phải tôn tạo cho cảnh quan đất nước to
đẹp hơn. Trồng cây phủ đất góp phần tạo ra thảm cây xanh với các loài hoa
trái muôn màu nơi đô thị, bản làng, trường học, công sở có một ý nghĩa
nhân văn sâu rộng hơn là so với mục đích đa dạng sinh học thuần túy
2.4. Tình trạng đất trồng chè trên thế giới và trong nƣớc
2.4.1. Tình trạng đất trồng chè trên thế giới
Theo Chen Zong Mao (1994) [76] thì trong suốt quá trình trồng, quản
lý chăm sóc chè, việc quản lý đất là quan trọng nhất trong tất cả các việc cần
làm, tác giả cho biết đất chè Trung Quốc có hàm lượng dinh dưỡng thấp, chủ

lân tổng số 0,12-0,22%, kali tổng số 1,0-1,2%, pHKCL 4,2 - 4,4 là rất thích
hợp cho việc trồng chè. Địa hình bằng phẳng, thoải, độ dốc thấp. 80% diện
tích trồng chè ở độ dốc dưới 80, 16,5 % diện tích chè trồng ở độ dốc 8-200.
Đất trồng chè của một số nước trên thế giới có diện tích chè tập trung
và lớn là rất đa dạng và phong phú. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong
mỗi loại đất của từng miền có địa hình khí hậu khác nhau là rất khác nhau. Do
đó nghiên cứu chế độ phân bón cho chè hoàn toàn phụ thuộc vào từng điều
kiện đất đai cụ thể của mỗi nước.
2.4.2. Tình trạng đất trồng chè ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây chè có thể trồng được ở hầu hết trên các loại đất với
điều kiện là ở độ cao so với mặt biển từ 20m trở lên, mực nước ngầm ở sâu
dưới 1m, có trị số pHKCL 4-6, lượng mưa trung bình từ 1200mm/năm trở lên,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
độ ẩm không khí khoảng 80%, độ dốc không quá 300, tầng dày trên 50cm
(Nguyễn Ngọc Kính, Đỗ Ngọc Quỹ, Hồ Quang Đức ) [22,42,81]
Đất trồng chè của các tỉnh miền núi phía Bắc
Đất đai vùng đồi núi các tỉnh phía Bắc chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên
(Nguyễn Vy, Đỗ Đình Thuận, Vũ Ngọc Tuyên ) [50,68] có độ cao so với
mặt biển từ 200m trở lên, phần lớn các loại đất được hình thành tại chỗ (đã
qua quá trình Feralit), có hàm lượng mùn cao, càng lên cao sự hình thành mùn
càng chậm, nhưng sự phân hủy mùn yếu hơn so với vùng thấp. Tầng đất có độ
dày mỏng hơn đất vùng đồi, do bị xói mòn mạnh. Đất được phát triển trên
phiến thạch, sa thạch và đá nai (ở vùng Đông Bắc), còn ở vùng Tây Bắc đất
được hình thành từ đá nai, Granit, phiến thạch là chính (Vũ Ngọc Tuyên,
Phạm Gia Tu ) [68]. Đất có mầu vàng, đỏ vàng và nâu. Đa số đất có độ dày
trung bình từ 0,6 đến 1m, đất khá tơi xốp, độ chua cao pHKCL từ 4 đến 4,5
thành phân cơ giới thuộc loại thịt nhẹ và trung bình, hàm lượng mùn biến
động mạnh, hàm lượng lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo (lân tổng số phổ biến
ở mức 0,03-0,05%) theo Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm 1979 [25].

thực nói chung, cũng như cây chè nói riêng.
Đất đai vùng chè Gia Lai-Kon Tum thuộc loại đất Feralít nâu vàng, nâu
đỏ, vàng đỏ và phát triển trên đá bazan, ở độ cao 700m so với mặt biển.
Đất có tỷ lệ sét cao, trên 50% đất có cấu trúc viên, tơi xốp, thoáng khí. Hàm
lượng lân tổng số trung bình (0,10-0,15%) kali tổng số ở mức nghèo (0,08-
0,10%), hàm lượng chất hữu cơ trong đất khá cao pHKCL 4,5-5,5.
Theo Nguyễn Vy-1978, Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm-1987, Vũ
Cao Thái-1989, )dẫn theo Nguyễn Khả Hòa 1994) [17] thì đất bazan giàu lân
tổng số, nhưng nghèo lân dễ tiêu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Đất trồng chè cao nguyên Lâm Đồng
Chè được trồng tập trung ở các huyện: Di Linh, Đơn Dương, Đức
Trọng, Bảo Lộc. Vùng chè Lâm Đồng ở độ cao >800m so với mặt biển, đây là
vùng rất thuận lợi về mặt chất lượng chè.
Đất tích lũy nhiều sắt, nhôm, là một trở ngại lớn cho việc cung cấp lân
cho cây chè nói riêng và cây công nghiệp nói chung. Hàm lượng chất hữu cơ,
hàm lượng đạm, lân, kali tổng số đều ở mức khá, đất chua, pHKCL biến động
từ 4,5-5,5 [4,50,68].
Nhìn chung, đa phần đất đai của các vùng trồng chè ở nước ta là nghèo
các chất dinh dưỡng (N, P, K) kể cả tổng số và dễ tiêu, đất chua, hàm lượng
hữu cơ thấp. Đồng thời do điều kiện khí hậu thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo
dài đã dẫn đến năng suất chè giảm sút.
2.5. Nghiên cứu trong ngoài nƣớc về che phủ đất
+ Ở Thái Lan, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các vườn cao su thời
kỳ kiến thiết cơ bản, người ta trồng xen lúa nương, ngô, lạc, đu đủ và việc này
đã đem lại hiệu quả cao (Nilnond C., Suthipradit S. et al, 1995) [90].
Luân canh sắn với đậu Tribu, lạc sau 5 năm sắn vẫn cho năng suất 20,9
tấn/ha. Trong đó sắn thuần chỉ đạt 16,8 tấn/ha. So với năm đầu thì năng suất
sắn đạt 87% ở công thức luân canh và 44% ở công thức trồng thuần. Dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status