Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI HOÀNG ĐẠT
ĐÁNH GIÁ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
HUYỆN YÊN SƠN - TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60-42-60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG CHUNG Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất thấp
vào 45 ngày cắt.
Bảng 1.2. Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hoà thảo (tấn/ha/năm)
Bảng 1.4. Giá trị dinh dưỡng của một số cây thức ăn chăn nuôi được phân
tích, đánh giá tại Việt Nam
Bảng 1.5. Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Việt Nam
4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
9
1.2. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
14
1.2.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới
14
1.2.2. Những nghiên cứu về khu hệ thực vật
15
1.2.3. Những nghiên cứu về dạng sống
17
1.2.4. Những nghiên cứu về năng suất
18
1.2.5. Giá trị chăn thả của tập đoàn cây cỏ trong đồng cỏ Bắc Việt
Nam
20
1.2.6. Vấn đề thoái hoá đồng cỏ do chăn thả
23
1.2.7. Những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ Việt Nam
25
1.3. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ trồng
26
1.3.1. Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới
26
1.3.2. Tình hình phát triển đồng cỏ ở Việt Nam
26
1.3.3. Đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức
50
Chƣơng 3: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
51
3.1. Đối tượng nghiên cứu
51
3.2. Phương pháp nghiên cứu
51
3.2.1. Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
51
3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
54
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
63
4.1. Tập đoàn cây cỏ tự nhiên là thức ăn gia súc huyện Yên Sơn
– Tuyên Quang
63
4.1.1. Thành phần loài cỏ tự nhiên
63
4.1.2. Năng suất, chất lượng của tập đoàn cây cỏ tự nhiên là
thức ăn gia súc huyện Yên Sơn – Tuyên Quang
71
4.2. Thành phần loài, năng suất cây và cỏ trồng làm thức ăn gia
súc
76
4.2.1. Thành phần loài, năng suất cỏ trồng
76
4.2.2. Thành phần loài, năng suất các loài cây trồng khác được
sử dụng làm thức ăn gia súc
81
4.2.3. Chất lượng của cỏ trồng làm thức ăn gia súc tại các điểm
109
4.5.3. Mô hình trồng cỏ, ngô thương phẩm
110
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
112
1. Kết luận
112
2. Đề nghị
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp lâu đời với hai ngành
truyền thống là trồng trọt và chăn nuôi. Sản lượng xuất khẩu các mặt hàng
nông sản của Việt Nam luôn đứng hàng đầu thế giới.
Ngành chăn nuôi của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ với số
lượng và chất lượng cao, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc. Xác định tầm quan
trọng của vấn đề này, Bộ NN&PTNT cùng với Cục chăn nuôi đã tổ chức
nhiều hội nghị về đẩy mạnh sản xuất, chế biến, bảo quản thức ăn thô xanh,
phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ, trong đó nêu rõ:
- Chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một trong những thế mạnh của Việt Nam,
góp phần quan trọng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, tạo việc
làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho nông dân.
- Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một trong những định hướng ưu
tiên của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn từ nay đến 2015 và tầm
nhìn 2020 để đữa chăn nuôi lên quy mô trang trại sản xuất hàng hoá cung cấp
Thống kê Tuyên Quang, tính đến thời điểm tháng 4/2009, toàn tỉnh
có đàn trâu 144.693 con, đàn bò 53.043 con. Đã có nhiều dự án lớn về chăn
nuôi đại gia súc được thực hiện tại Tuyên Quang, với trọng điểm là huyện
Yên Sơn. Trong đó có những mô hình thành công bước đầu, có mô hình gặp
phải thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là do nguồn thức ăn không
đáp ứng đủ số lượng và chất lượng so với nhu cầu thực tế.
Với truyền thống làm nghề nông nghiệp lâu đời, nên huyện Yên Sơn –
Tuyên Quang vẫn rất trú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, với mục tiêu cụ
thể đến năm 2009: Về trồng trọt: Sản lượng lương thực đạt trên 71.000 tấn,
năng suất lúa bình quân đạt trên 59 tạ/ha (năng suất lúa lai đạt trên 63 tạ/ha)
và trồng 2.468,3 ha ngô, năng suất bình quân đạt 45,9 tạ/ ha. Về chăn nuôi:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phấn đấu đạt kế hoạch
năm 2009; đàn trâu 29.691 con; đàn bò 15.440 con; đàn lợn 103.100 con; đàn
gia cầm 1.102.552 con. Tiếp tục thực hiện có hiệu quá chương trình cải tạo,
nâng cao thể trạng, chất lượng đàn bò vàng địa phương bằng phương pháp
truyền giống nhân tạo và phối giống trực tiếp cho bò cái bằng giống bò đực
lai Sind; chọn lọc những trâu đực giống đủ tiêu chuẩn đưa vào quản lý và luân
chuyển giữa các vùng để phục vụ tráng đàn trâu khu vực thượng huyện ATK.
Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện các dự án, mô hình chăn nuôi
trên địa bàn huyện, khai thác thế mạnh của vùng quy hoạch tập trung chăn
nuôi, xây dựng các mô hình chăn nuôi và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật cho người chăn nuôi. [42]
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chăn nuôi và đồng cỏ
thực hiện tại Tuyên Quang, nhưng chưa có một công trình nào đánh giá một
cách đầy đủ về thực trạng tập đoàn cây thức ăn gia súc bao gồm cả cỏ trồng,
cỏ tự nhiên và những cây trồng khác tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài:” Đánh giá về
được 16g protein tiêu hoá và 32g lipit, 8 kg loại cỏ này tương đương 1 đơn vị
thức ăn [38].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu
hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [52]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi thu
hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm
bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân huỷ từ dưới.
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân
tố sau để xét duyệt và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ ngon
miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu
gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được
trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu
cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và cỏ cắt đều phải
có năng suất cao để đạm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng;
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
1.1.1.1. Tình hình phát triển
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề
thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin, chăn
nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng
Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này.
- Ở Inđonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự
nhiên, 21% là rơm, 16% là cây khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp
để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ Voi và cây Đậu)
chua, ngập nước, sản xuất chất xanh và khả năng sản xuất hạt cao (Chaing
sang Phai Keow, 1999)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Ở Philippiin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các
trang trại nhỏ được trồng các giống Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum
atratum đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra, các
giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất
trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hằng năm sản xuất được trên 1
tấn hạt cỏ (E.F.Lating, F.Gagunada, 1995).
Một số nước khác như Malaysia, Lào, cũng đã chú trọng đầu tư phát
triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống
cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong
sản xuất. Hằng năm sản xuất được 2 -3 tấn hạt cỏ các loại. Như vậy, phong
trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan
tâm. Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển.
1.1.1.2. Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia
súc trên thế giới
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria
decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum
khoảng từ 15 – 20, 18 – 25, 9 – 15 và 6 – 10 tấn/ha (bảng 1.1).
B¶ng 1.1: S¶n l-îng VCK vµ chÊt l-îng nh÷ng loµi cá trªn vïng ®Êt
thÊp vµo 45 ngµy c¾t.
Tên khoa học
Tên Việt Nam
Năng suất (tấn/ha)
B¶ng 1.2. S¶n l-îng VCK cña cá Ghinª tÝa c¾t sau 30 ngµy
Thời gian cắt
Năng suất VCK (tấn/ha)
11/8/2000
8,9
11/9/2000
7,1
11/10/2000
6,9
11/11/2000
6,8
11/12/2000
4,6
11/01/2001
2,6
11/02/2001
4,1
11/03/2001
4,3
11/04/2001
5,8
11/05/2001
3,7
Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division (2001) [47]
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 19780 [48], giống Brachiaria
decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí
nghiệm không bón phân đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất
trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng
suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Năm 1998 chương trình “Phát triển thịt bò một cách hiệu quả ở Việt
Nam - ACIAR Projeet as 2/97/18”, nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây
họ đậu và 40 loại cây hoà thảo.
Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế với trường Đại học Hohenhein
(Đức), 20 loại Flemingia được nhập vào nước ta. Ngoài ra một số giống cây
thức ăn được nhập thông qua con đường các chuyên gia đi lại công tác.
Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết
quả tốt, ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng.
Tuy nhiên, do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số
giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc, mất đi hoặc chưa có điều kiện thử
nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng ra sản xuất.
1.1.2.2 Những kết quả nghiên cứu
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng
chưa nhiều. Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung
vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hoà thảo, họ đậu nhập nội ở một số
vùng như: Lê Hoà Bình và cộng sự (1992), khảo sát năng suất cây thức ăn
mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã có kết quả
như trình bày ở bảng 1.3 [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hoà thảo (tấn/ha/năm)
TT
Tên giống
Long Mỹ
Sơn Thành
Bà Vì
Thụy Phƣơng
Trichoglumen
40.89
8.21
62.4
12.6
44
10.1
68.2
15.7
4
Panicum maximum Makueni
59.96
11.92
77.1
15.1
60.8
12.4
108
19.4
5
Pennisetum King grass
119
19.02 170.1
22.3
207
23.6
6
Brachiaria decumbens
44.16
8.77
72.6
13.7
56.7
11.2
73.8
11.8
Nguồn: Lê Hoà Bình, Nguyễn Ngọc Hà và CTV,1992
Theo Nguyễn Thiện – Lê Hoà Bình (1994) trong năm 1990 chương trình
VIE/86/008 đã đưa vào nước ta 2 đợt cỏ giống với 25 giống cỏ hoà thảo gồm
11 loài khác nhau các cỏ trên được chuyển tới các vùng để đánh giá tuyển
chọn giống thích hợp. Một số kết quả trồng thử đã được ghi nhận như sau:
Các tác giả Lê Hoà Bình, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Mạnh Khải và Ngô
Đình Giảng (1994) cho biết:
Tại Long Mỹ giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt
56,9-59,9 tấn/ha tương ứng với 9,7 – 11,9 tấn VCK.
Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn
chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm.
Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa
các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Phan Thị Phần và CTV (1998) [28]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn
Đĩnh (2001) [34] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và
miền Bắc cho kết quả:
- Khu vực phía Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi
trong điều kiện trung tính, đất tốt, hoặc đất chua nghèo. Lân và Kali cỏ đều có
Vật
chất
khô
(%)
Protêin
thô
(%)
Lipid
thô
(%)
Xơ
thô
(%)
Dẫn suất
không
đạm (%)
Khoáng
tổng số
(%)
Can
xi
(%)
Phốt
pho
(%)
1
Bèo tấm
1.46
0.24
0.7
4.4
12.9
0.9
0.09
0.07
5
Keo dậu
23.9
6.27
1.19
5.22
9.55
1.67
0.42
0.07
6
Rơm lúa mùa
90.81
5.06
1.67
30.61
37.23
16.24
0.56
0.41
7
Thân lá ngô sau
thu hoạch
73.2
8.17
1.89
42.89
39.15
7.9
0.45
0.21
11
Rỉ mật mía
78
11
1.43
0
59.5
7.5
0.22
0.02
12
Ngọn, lá sắn đỏ
16.67
4.72
0.67
3.12
6.82
1.34
0.18
0.09
13
Ngọn, lá sắn trắng
15.48
0.04
16
Cây đậu Sơn Tây
(Flemingia
macrophilla)
28.5
17.3
1.76
37.9
5.76 17
Cây Mía (ngọn,lá tươi)
29.61
0.78
0.54
8.52
18.52
1.25
0.06
0.05
18
Cây lạc (thân,lá)
25.93
4.05
0.79
6.53
11.7
kiểu thảm cỏ, ông đã chia rừng nhiệt đới theo điều kiện của nới sống với sự
phân chia ra các kiểu ngoại mạo (kiểu nơi sống, kiểu đất rừng) và gọi các
thảm cỏ là "trảng", trảng cây bụi, trảng cỏ, theo ông “trảng” không phải là
savan cũng không phải đồng cỏ [39], [40].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Theo M. Numatta Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu gió mùa,
đông khô, hè ẩm. Trong điều kiện như vậy các kiểu quần xã cỏ thuộc kiểu
đồng cỏ, savan thuộc kiểu đồng cỏ, savan chỉ gặp ở các vùng có lượng mưa
thấp từ 200 - 800m, mùa khô kéo dài trên tháng 7 tháng [56]. Vì vậy Bắc Việt
Nam không có savan, Dương Hữu Thời (1981) cũng đưa ra kết luận tương tự.
Theo Hoàng Chung (1980) là: Trên thực tế Bắc Việt Nam tồn tại nhiều
kiểu savan, đồng cỏ và dạng trung gian. Trong đai nhiệt đới, trên những vùng
rừng bị phá, khi mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao thì sẽ hình thành ở đây
loại hình đồng cỏ. Trong quá trình tác động tiếp theo của con người sẽ làm
cho tỉ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đồng cỏ các loài cỏ, cây
bụi hạn sinh và cây đoản mệnh, hình thành savan cây bụi. Quá trình này trên
miền Bắc Việt Nam có thể tóm tắt như sau: rừng nguyên sinh → rừng thứ
sinh → đồng cỏ → savan cỏ → savan bụi → thảm cây bụi hạn sinh [10].
1.2.2. Những nghiên cứu về khu hệ thực vật
Nghiên cứu khu hệ thực vật có thể ở từng vùng hay trên từng thảm thực
vật khác nhau. Đối với loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, ở Liên Xô (cũ), có
nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật trong đồng cỏ, thảo
nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915), Graxits (1927),
Sennhicop (1938), Creepva (1978), [10]. Nói chung, theo các tác giá thì ở
mỗi một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc trưng, cơ
sở để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần loài và dạng sống, đó
là chỉ tiêu quan trọng của các công trình nghiên cứu thực vật.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ thực vật trong đồng cỏ, savan
ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn - Móng Cái đã thống kê
69 loài thuộc 35 họ có mặt ở thảm cỏ dưới tán rừng trồng và rừng
phục hồi tự nhiên [20].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
1.2.3. Những nghiên cứu về dạng sống
Dạng số là sự biểu hiện về thích nghi với môi trường sống của thực vật
nên đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm.
Theo E. warming (1884, 1908, 1909) khi nghiên cứu và phân chia dạng
sống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vật
học như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo đời sống, sự phát triển
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử
dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [11].
I.K.Patrotxki (1915) chia thảm thực vật thành 5 nhóm: Thực vật thường
xanh, thực vật rụng lá và điều kiện bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và
phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.
Đối với cây thuộc thảo có các bảng phân loại dạng sống đã được làm
do Cannon (1911), Markie (1917),… Ở Liên Xô (cũ) có G.N.Vưsoxki (1915),
Kadakêvich (1922), Laprenko (1935) Đặc biệt, trong phân loại dạng sống
thực vật của T.Isatrenko (1954), I.V.Brixôva (1960, 1961), đã sử dụng
những đặc điểm cấu trúc cả phần dưới đất của thực vật. Dôdulin (1969),
Xêbêbriacôp (1954, 1955, 1962, 1964) cũng đã đưa ra một số hệ thống dạng
sống tương tự. Như hệ thống dạng sống hoàn mỹ hơn cả cho hoà thảo có lẽ là
của Golubep (1957, 1962, 1968) [11].
Những công trình nghiên cứu về dạng sống thực vật thuộc thảo ở Việt
Nam cũng như ở Đông Dương hình như chưa có. Doãn Ngọc Chất (1969) đã
nghiên cứu dạng sống của một số loài thuộc họ hoà thảo. Hoàng Chung
vùng Tây Bắc
1
Cây gỗ
8.8
6.2
2
Cây bụi
9.3
9.3
3
Cây bụi thân bò
2.3
3.1
4
Cây bụi nhỏ
10.6
9.3
5
Cây bụi nhỏ thân bò
0.9
2
6
Cây nửa bụi
4.6
4.2
7
Cây thảo lâu năm có rễ cái
4.2
4.2
8
15
Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài và thân bò
5.1
7.3
16
Cây thảo một năm có rễ cái
6.5
5.2
17
Cây thảo một năm có hệ rễ cái, có thân bò
0.4
0
18
Cây thảo một năm có hệ rễ chùm
4.2
2
Tổng số - Cây thuộc thảo, sống nhiều năm
51.9
56.3
- Cây thuộc thảo, sống một năm
11
7.2
- Cây có hệ rễ cái
49.1
44.5
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành