Luận văn thạc sĩ kinh tế ĐÁNH GIÁ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN GIA SÚC HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG - Pdf 37

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI HOÀNG ĐẠT

MAI HOÀNG ĐẠT

ĐÁNH GIÁ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN GIA SÚC

ĐÁNH GIÁ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI, NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA TẬP ĐOÀN CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG

HUYỆN YÊN SƠN - TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60-42-60

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG CHUNG

Thái Nguyên – 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2009

tích, đánh giá tại Việt Nam
Bảng 1.5. Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Bảng 1.6. Thành Phần hoá học và giá trị dưỡng của một số loài cỏ chính
Bảng 1.7. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ voi
Bảng 1.8. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Ghinê
Bảng 1.9. Giá trị dinh dưỡng cỏ Stylo theo tháng tuổi
Bảng 1.10. Giá trị dinh dưỡng của ngô trong các giai đoạn khác nhau.
Bảng1.11. Giá trị dinh dưỡng một số cây thức ăn chăn nuôi cơ bản
Bảng 2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện

Bảng 4.1. Thành phần loài tại các điểm nghiên cứu
Bảng 4.2. Năng suất của các nhóm thực vật tại các điểm nghiên cứu
Bảng 4.3. Chất lượng của cỏ tại các điểm nghiên cứu
Bảng 4.4. Thành phần loài, năng suất, diện tích cỏ trồng trên địa bàn huyện
Bảng 4.5. Thống kê diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng khác
có thể làm thức ăn gia súc năm 2008 của toàn huyện.

1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

5

1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam

9

1.2. Tình hình nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên

14

1.2.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới

26

1.3.1. Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới

26

1.3.2. Tình hình phát triển đồng cỏ ở Việt Nam

26

1.3.3. Đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức
ăn gia súc

Bảng 4.6. Chất lượng cỏ Voi và cỏ VA 06 tại một số điểm nghiên cứu

1.4. Nhận xét chung

Bảng 4.7. Giá trị dinh dưỡng đất tại các điểm nghiên cứu

Chƣơng 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI

Bảng 4.8. Giá trị dinh dưỡng đất tại các điểm nghiên cứu cỏ trồng

4

VÙNG NGHIÊN CỨU

28
38
39

89

2.1.3. Khí hậu, thời tiết

40

4.3.2. Đánh giá chất lượng đất trồng cỏ

90

2.1.4. Thuỷ văn

42

4.4. Đánh giá một số mô hình kinh tế chăn nuôi trong địa bàn

2.2. Các nguồn tài nguyên

43

2.2.1. Tài nguyên đất

43

2.2.2. Các loại tài nguyên khác

45

2.3. Thực trạng môi trường


103

3.2. Phương pháp nghiên cứu

51

4.5. Đề xuất mô hình chăn nuôi

106

3.2.1. Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên

51

4.5.1. Mô hình chăn nuôi hộ gia đình

108

3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

54

4.5.2. Mô hình chăn nuôi trang trại nhỏ

109

4.5.3. Mô hình trồng cỏ, ngô thương phẩm

110



93

112

1. Kết luận

112

2. Đề nghị

113

TÀI LIỆU THAM KHẢO

114

76
76

4.2.2. Thành phần loài, năng suất các loài cây trồng khác được
sử dụng làm thức ăn gia súc

81

4.2.3. Chất lượng của cỏ trồng làm thức ăn gia súc tại các điểm
4.3. Đánh giá chất lượng đất tại các điểm nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

89

nhiều hội nghị về đẩy mạnh sản xuất, chế biến, bảo quản thức ăn thô xanh,

(trong đó có 6.405 trang trại chăn nuôi bò), trong đó miền Bắc là 6.313 trang

phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ, trong đó nêu rõ:

trại , chiếm 35,6%; miền Nam là 11.408 trang trại, chiếm 64,4%. Theo báo

- Chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một trong những thế mạnh của Việt Nam,

cáo của Tổng cục Thống kê năm 2001 toàn quốc có 1.761 trang trại chăn

góp phần quan trọng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, tạo việc

nuôi, như vậy, sau 5 năm số lượng trang trại chăn nuôi tăng hơn 15.960 trang

làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho nông dân.

trại, bình quân mỗi năm tăng 3.192 trang trại, tăng 58,7%/năm) [4].

- Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một trong những định hướng ưu
tiên của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn từ nay đến 2015 và tầm
nhìn 2020 để đữa chăn nuôi lên quy mô trang trại sản xuất hàng hoá cung cấp
các sản phẩm chăn nuôi giá trị cao và an toàn vệ sinh cho nhu cầu của xã hội

Tuy nhiên, trong hình thức nuôi nhốt đại gia súc, nguồn thức ăn là một
vấn đề thiết yếu, quyết định tính thành hay bại của một mô hình.
Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là nơi có ngành chăn nuôi đại gia
súc phát triển mạnh, trong đó có tỉnh Tuyên Quang. Theo số liệu của Cục


Tuyên Quang vẫn rất trú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, với mục tiêu cụ

chăn nuôi sẽ chiếm khoảng 32%, đến 2015 là 38% và đạt trên 42% vào năm

thể đến năm 2009: Về trồng trọt: Sản lượng lương thực đạt trên 71.000 tấn,

2020. Như vậy, trong giai đoạn 2008-2010, ngành Chăn nuôi phải tăng bình

năng suất lúa bình quân đạt trên 59 tạ/ha (năng suất lúa lai đạt trên 63 tạ/ha)
và trồng 2.468,3 ha ngô, năng suất bình quân đạt 45,9 tạ/ ha. Về chăn nuôi:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2




Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phấn đấu đạt kế hoạch

Chƣơng 1

năm 2009; đàn trâu 29.691 con; đàn bò 15.440 con; đàn lợn 103.100 con; đàn


nuôi, xây dựng các mô hình chăn nuôi và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ

dinh dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại

thuật cho người chăn nuôi. [42]

có khả năng sử dụng và hấp thụ tốt. Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ

Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chăn nuôi và đồng cỏ

không những rất cần thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của

thực hiện tại Tuyên Quang, nhưng chưa có một công trình nào đánh giá một

trâu bò. Ví dụ: nếu tỉ lệ đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn

cách đầy đủ về thực trạng tập đoàn cây thức ăn gia súc bao gồm cả cỏ trồng,

của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1.4:1 [2]. Cỏ còn

cỏ tự nhiên và những cây trồng khác tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là

Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn thực hiện đề tài:” Đánh giá về

nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa

thành phần loài, năng suất, chất lượng của tập đoàn cây thức ăn gia súc



trạng đa dạng các điều kiện canh tác nông hộ, 36 giống cây thức ăn từ úc
(CSIRO), Columbia (CIAT) và Philipin được đưa vào trồng ở vùng Cast

- Cỏ phải có khả năng tái sinh mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch.

Kalimantan (Ibrahim 1994): Nhiều giống thể hiện thích hợp ở khu vực trong

- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi thu

đó có 18 giống cây đậu và 9 giống cỏ hoà thảo.

hoạch ít bị ảnh hưởng tới.

- Ở Thái Lan: Với 70% dân liên quan đến sản phẩm nông nghiệp, sản

- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.

phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa dê chưa cung cấp được theo nhu

- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.

cầu tiêu dùng. Năm 1992 sản phẩm sữa nhập vào Thái Lan 114.012 tấn, chi

- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm

phí mất 2.222.81 triệu USD (nguồn: tài liệu thống kê nông nghiệp Thái Lan

bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân huỷ từ dưới.


1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

Andropogon, Brachiaria, Paspalum, Stylo, Leucoena. Ở Marathiwat với mục

1.1.1.1. Tình hình phát triển

đích chọn cây thức ăn chịu đất chua đã xác định được 8 giống cỏ triển vọng

Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề

trong số 26 giống nhập nội (Báo cáo dự án trồng cỏ Thái Lan-1994).

thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin,...chăn

Nghiên cứu 19 giống của chi Brachiria thuộc bốn loài (Brachiaria

nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng

decubens, Brachiaria brizontha, Brachiria humidicola, Brachiria fubata) đã

Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này.

xác định được bảy giống có năng suất hạt và năng suất chất xanh ở mùa khô

- Ở Inđonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự

khá. Những giống này được tiếp tục khảo nghiệm và nhân ra diện rộng.

nhiên, 21% là rơm, 16% là cây khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp



trang trại nhỏ được trồng các giống Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum

plicatulum là những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên

atratum...đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc. Ngoài ra, các

600kg/ha/ Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan.

giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất

Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái

trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả. Hằng năm sản xuất được trên 1

Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50x

tấn hạt cỏ (E.F.Lating, F.Gagunada, 1995).

50cm và được bón phân hỗn hợp (15–15–15) trước khi trồng ở mức 300kg/ha

Một số nước khác như Malaysia, Lào,...cũng đã chú trọng đầu tư phát

tương đương 18 tấn phân bón/1ha. Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở

triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống

lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 tấn đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày

cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong

Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống

11/11/2000

6,8

cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề

11/12/2000

4,6

năng suất, chất lượng cỏ.

11/01/2001

2,6

Tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria

11/02/2001

4,1

decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum

11/03/2001

4,3


Pangola

15 – 20

7 -11

Cỏ đắng

18 – 25

nghiệm không bón phân đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất

6 -7

Cỏ lông Para

Paspalum plicatulum
6 -10
Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [46]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

5-6



Theo Quilichao (Colombia CIAT, 19780 [48], giống Brachiaria

trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng

Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv Makueni đã
sản xuất được 60.000kg VCK/ha với điềukiện cung cấp 300kg đạm/ha.Tại
Samford, Queesland năng suất hàng năm giống Paspalum rinâttum là

Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết
quả tốt, ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng.
Tuy nhiên, do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số
giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc, mất đi hoặc chưa có điều kiện thử

15.000kg VCK/ha (Davies, 1970) [51].
Đối với giống cỏ Setaria Sphacelata các kết quả nghiên cứu của Riveros và

nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng ra sản xuất.

Wilsson (1970) [55] tại Redlanbay, Queensland, thông báo năng suất đạt từ

1.1.2.2 Những kết quả nghiên cứu

23.500 – 28.000kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới

Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng

nước và cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan mầu mỡ...

chưa nhiều. Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung

1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam

vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hoà thảo, họ đậu nhập nội ở một số


10




Bảng 1.3. Năng suất của các giống cỏ hoà thảo (tấn/ha/năm)
TT

Tên giống

Long Mỹ

Sơn Thành

VCK Xanh VCK Xanh VCK Xanh VCK

Panicum maximum hamil

56.91

9.73

2

Pancium maximum Liconi

40.57

8.11


Đĩnh (2001) [34] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và
miền Bắc cho kết quả:
- Khu vực phía Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi

86.3

16.5

90.5

17.3

trong điều kiện trung tính, đất tốt, hoặc đất chua nghèo. Lân và Kali cỏ đều có

99.96

18.9

97.5

17.5

tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ ngày). Năng suất đạt 90 – 100

12.6

44

10.1


21.8

- Ở khu vực phía Nam: Địa điểm tại vùng đất xám Bình Dương với liều

75.1

14.1

80.4

12.6

lượng phân bón 20 tấn phân chuồng, 80kg K2O và 500kg vôi /ha/ năm, lượng

dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sinh trưởng 100%, bò sữa

4

Panicum maximum Makueni

5

Pennisetum King grass

119

19.02

6


86.6

15.9

phân đạm bón từ 60 – 90 kg/ha. Năng suất chất xám cỏ TD 58 đạt 64,59 –

9

Brachiaria decumbens

44.16

8.77

72.6

13.7

56.7

11.2

73.8

11.8

83,33 tấn/ha/lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa/ Tỷ lệ tiêu hoá của dê đối với cỏ

176



56,9-59,9 tấn/ha tương ứng với 9,7 – 11,9 tấn VCK.
Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn

tự nhiên và cỏ trồng, rất nhiều loài cây trồng, cây mọc hoang dại hoặc các phụ
phẩm nông nghiệp khác cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc: Bèo, thân lá

chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm.
Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa

cây ngô, cây mía, rơm… Giá trị dinh dưỡng của một số loài và phụ phẩm

các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác.

được phân tích ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 1.4 [18].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11



12




Bảng 1.4. Giá trị dinh dưỡng của một số cây thức ăn chăn nuôi được

0.24

5.4

0.09

1.1

1.3

0.3

0.7

3.2

1.5

0.8

0.3

1.4

5.8

1.4

Qua quá trình nghiên cứu nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới có


3

Bèo lục bình

4

Cây ngô ngậm sữa
cả bắp và lá

21.4

2.5

0.7

4.4

12.9

0.9

0.09

0.07

5

Keo dậu

23.9


0.56

0.41

7

Thân lá ngô sau
thu hoạch

73.2

2.5

1.2

9.9

10.11

3.09

0.12

0.06

8

lõi Bắp ngô


18.52

1.25

0.06

0.06

trong đó tầng cỏ là liên tục và khép tán [58].

10

Ngọn,lá mía khô

85.49

8.17

1.89

42.89

39.15

7.9

0.45

0.21


4.72

0.67

3.12

6.82

1.34

0.18

0.09

13

Ngọn, lá sắn trắng 15.48

4.77

0.6

3.07

5.35

1.7

0.16



1.72

Cây đậu Sơn Tây
16 (Flemingia
macrophilla)

28.5

17.3

1.76

37.9

17 Cây Mía (ngọn,lá tươi) 29.61

0.78

0.54

8.52

18.52

1.25

0.06

0.05

Ghigantea)

15

1800m) với nhiệt độ trung bình là 200C, lượng mưa 2000mm thì có các kiểu

gọi các quần xã cỏ thứ sinh là savan; ông chia thành savan bụi và savan rừng

Cây Keo dậu
14

Tác giả J.Vidal (1958) khi phân chia thực bì ở Lào đã xếp các quần xã

6.07

3.21

0.86

0.04

phân chia các đơn vị nhỏ trong hệ thống phâm loại thảm thực vật và chia các
kiểu thảm cỏ, ông đã chia rừng nhiệt đới theo điều kiện của nới sống với sự
phân chia ra các kiểu ngoại mạo (kiểu nơi sống, kiểu đất rừng) và gọi các

25.93

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

Đặc biệt là Dương Hữu Thời (1981) đã công bố công trình tổng hợp

Nam không có savan, Dương Hữu Thời (1981) cũng đưa ra kết luận tương tự.

“Đồng cỏ Bắc Việt Nam”, tác giá đã đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ

Theo Hoàng Chung (1980) là: Trên thực tế Bắc Việt Nam tồn tại nhiều

của vùng này với sự phân chia 5 vùng đồng cỏ Bắc Việt Nam [36].

kiểu savan, đồng cỏ và dạng trung gian. Trong đai nhiệt đới, trên những vùng

Dương Hữu Thời, Nguyễn Ngọc Chất, Hoàng Chung, Phạm Quang

rừng bị phá, khi mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao thì sẽ hình thành ở đây

Anh (1969), khi nghiên cứu thành phần loại đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn) đã

loại hình đồng cỏ. Trong quá trình tác động tiếp theo của con người sẽ làm

gọi đây là đồng cỏ [35].

cho tỉ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đồng cỏ các loài cỏ, cây

Khi nghiên cứu về loại hình savan, các tác giả: Nguyễn Đình Ngỗi, Võ

bụi hạn sinh và cây đoản mệnh, hình thành savan cây bụi. Quá trình này trên

Văn Chi (1964), đã nghiên cứu thành phần loại của thảm thực vật ở Hữu Lũng


Phạm Thị Hương Lam, Hoàng Chung (2007), điều tra, đánh giá tập đoàn

mỗi một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc trưng, cơ

cây thức ăn gia súc hiện có ở xã Hà Hiệu huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn đã thống

sở để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần loài và dạng sống, đó

kê được 72 loài thuộc 40 họ khác nhau dưới tán rừng trồng keo và rừng phục

là chỉ tiêu quan trọng của các công trình nghiên cứu thực vật.

hồi tự nhiên, 56 loài thuộc 21 họ ở soi bãi hoang hóa [24].

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về khu hệ thực vật trong đồng cỏ, savan

Nguyễn Anh Hùng, Hoàng Chung (2007), điều tra tiềm năng thức

hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm 1950

ăn cho chăn nuôi đại gia súc của xã Bắc Sơn - Móng Cái đã thống kê

trở về đây. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu khu hệ thực vật trong đồng cỏ như:

69 loài thuộc 35 họ có mặt ở thảm cỏ dưới tán rừng trồng và rừng

Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loại và dạng sống của

phục hồi tự nhiên [20].



về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ cho chăn nuôi đã

học như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo đời sống, sự phát triển ...

được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên các kiểu đất khác nhau.

Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử

Cuối thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu tập chung chủ yếu và

dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn

nghiên cứu vào phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng

để phân chia [11].

thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục...

I.K.Patrotxki (1915) chia thảm thực vật thành 5 nhóm: Thực vật thường
xanh, thực vật rụng lá và điều kiện bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và

Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ miền núi Bắc Việt Nam được
thống kê ở bảng 1.5.

phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm.
Đối với cây thuộc thảo có các bảng phân loại dạng sống đã được làm

Bảng 1.5. Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc
Việt Nam


Cây bụi

9.3

9.3

của Golubep (1957, 1962, 1968) [11].

3

Cây bụi thân bò

2.3

3.1

Những công trình nghiên cứu về dạng sống thực vật thuộc thảo ở Việt

4

Cây bụi nhỏ

10.6

9.3

Nam cũng như ở Đông Dương hình như chưa có. Doãn Ngọc Chất (1969) đã

5


Cây có chồi mọc từ rễ

0.9

1

kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại nó được trình bày ở bảng 1.5 [11].

9

Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái, có thân rễ ngắn

0.9

0

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18





Iwaki và cộng sự (1964, 1966). Ở Thái Lan, Ấn Độ đã có một số nghiên cứu

14 Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài

4.2

5.2

về năng suất của các quần xã trong rừng thường xanh vùng ôn đới.

15 Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài và thân bò

5.1

7.3

Ở Việt Nam, đến 1955 hầu như không có công trình nào nghiên cứu về

16 Cây thảo một năm có rễ cái

6.5

5.2

năng suất đồng cỏ. Từ 1960 đến nay nhiều công trình nghiên cứu về năng suất

17 Cây thảo một năm có hệ rễ cái, có thân bò

0.4


49.1

44.5

nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ của vùng Việt Bắc và vùng Tây Bắc trên
hai đai (nhiệt đới, á nhiệt đới). Trong công trình nghiên cứu của ông đã đề cập

Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành

những chỉ tiêu về khí hậu, thổ nhưỡng, phần trên mặt đất, phần dưới mặt đất

cùng với phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó

và đi tới kết luận về sự biến đổi năng suất trên đồng cỏ vùng núi phía Bắc

của các kiểu thực bì khác nhau: Balôchina (1950), Gorskova (1954), Salưt

Việt Nam: “Trong các điều kiện thảm thực vật (savan - đồng cỏ) của Bắc Việt

(1950), Andreev, Lapverenko và Leonchiev (1955); Badilevich (1958)

Nam, năng suất sinh vật học giảm dần dần theo trình tự sau: Đồng cỏ á thảo

Xưrokomskaia và Ponhiatopkaia (1960), Igơnachenkôn (1965), Xemen-Nova-

nguyên - Đồng cỏ – Savan” [11].

Chiansianskaia (1966), Alekxenko (1967), Hoàng Chung (1974), Alekxeev

1.2.5. Giá trị chăn thả của tập đoàn cây cỏ trong đồng cỏ Bắc Việt Nam

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20




- Độ ăn được:

Thành phần hoá học có trong các giống cỏ tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu

Những loài trong đồng cỏ Bắc Việt Nam có giá trị chăn khá tốt, theo

đó là: vật chất khô, portein, đường, chất béo và xơ. Hoàng Chung và cộng sự (2004)

thành phần loài thì trên 95% Những loài trong đồng cỏ Bắc Việt Nam có giá

đã tiến hành nghiên cứu và theo dõi một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một

trị chăn khá tốt và thuộc nhóm hòa thảo. Ngoài ra, trong đồng cỏ tồn tại một

số loài chính trong đồng cỏ Bắc Việt Nam. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.6 [11].

số loại cây bụi và cây thuộc thảo khác, phần lớn những loại cây này cũng

Những giống cây tức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô,

được gia súc ăn. Tuy nhiên, giá trị chăn thả của đồng cỏ cũng thay đổi theo

protein, đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ


Cymbopogon

3

caesius

như cỏ tranh, Chè vè, ...
Thành Phần họ Đậu trong đồng cỏ Bắc Việt Nam rất ít, một số loài

4

trong đó giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng như: Desmodium

5

Imperata
cylinidrica
Setaria viridis

triquetum, một số loài khác thì năng suất lại rất thấp – sinh khối tập trung chủ
yếu ở phần thân như: Desmodium microphyllum. Trong thành phần cỏ của
một số quần xã có nhiều cây họ Cói, những loại này lá cứng và sắc như

Chrysopogon

6

aciculatus
Digitaria

21



Tên khoa học

Fimbrirtylis
annua

Tên việt nam %Nƣớc

%
%Đạm
%Đạm
%Protein
%lipit Chất
TS
amin


ĐVTA

Cỏ lông

76.7

1.954

7.86


9.61

1.686

1.9

9.3

0.25

Cỏ tranh

74

1.945

9.747

1.71

1.1

8.8

0.25

Cỏ sâu róm

67.5


0.21

Pangôla

2.295

8.88

1.558

Mộc Châu

2.6

10.48

1.839

Họ cói

0.979

4.288

0.747

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22



động lâu dài của con người, chủ yếu do khai thác bừa bãi, đốt phá rừng mà

nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hoá của các đồng cỏ chăn thả

hình thành. Đồng cỏ phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du, có độ dốc khá

cũng như các thảo nguyên ở các vùng khác nhau.

lớn; do đó vấn đề thoái hoá đồng cỏ trong quá trình sử dụng là một trong

Ở liên bang Nga đã tích luỹ nhiều tư liệu của đới thảo nguyên và bán

những vấn đề cần đề cập của các nhà nghiên cứu đồng cỏ Việt Nam. Những

hoang mạc. G.I.Vư xốt xki (1915), đã xác định 4 giai đoạn thoái hoá của thực

công trình nghiên cứu sự thoái hoá của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam cho

bì thảo nguyên dưới tác động chăn thả. Patrôtxki (1917) nghiên cứu đới nam

đến nay vẫn còn rất ít. Dương Hữu Thời (1981) trong cuốn "Đồng cỏ Bắc

của thảo nguyên Stipa longifolia, ông chia 5 giai đoạn thoái hoá trong đó có

Việt Nam" khi phân tích thành phần loài và điều kiện sinh thái của đồng cỏ,

cả giai đoạn không chăn thả, chăn thả và ngừng chăn thả. G.I.Popov (1931)

đã đề cập đến hai nguyên nhân gây thoái hoá của đồng cỏ miền Bắc Việt Nam


sau nữa còn lại chủ yếu là cây thuộc thảo và trên thảo nguyên phát triển mạnh

hiện savan cây bụi hay savan cỏ (hay một kiểu thảm thứ sinh nào đó của cây

tầng trên là cây Bromus ripparius, tầng thấp là Festuca đồng thời trong vùng

bụi rồi có thể tiến tới rừng).

đó biểu hiện hai tầng rõ rệt: Bromus-Poa; cuối cùng chỉ còn lại Festuca,
những sự chèn ép này của thảm cỏ qua hàng loạt những trạng thái nhỏ nhặt sẽ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24




1.2.7. Những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ Việt Nam

Vấn đề cải tạo đồng cỏ Bắc Việt Nam ông đã đề cập đến 2 vấn đề lớn:

Đồng cỏ phía Bắc Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốc thứ sinh do hoạt


Những công trình nghiên cứu dành cho việc sử dụng hợp lý đồng cỏ rải
rác ở một số công trình như: Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn Minh (1968), có
nghiên cứu về sử dụng luân phiên đồng cỏ ở Ba Vì và đề nghị chia thành 6 ô,
mùa hè sử dụng 5 ô. Trong một đàn gia súc số lượng nên là 100 – 150 con,
diện tích đồng cỏ là 50 – 80ha.

(1842) chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện hay tỷ số ấy
đã thay đổi: 12 triệu ha trồng cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc [21].
Ở Anh diện tích ngũ cốc giảm đi và diện tích trồng cỏ cùng các loại cây
thức ăn gia súc khác tăng lên và được thâm canh một cách đáng kể.
Ở Liên Xô, diện tích trồng cỏ năm 1913 là 2,1 triệu ha và đến năm

Võ Văn Trị (1983) đã chia đồng cỏ trồng ra thành những ô nhỏ, sự luân
phiên mùa hè theo ông có khoảng cách 40 -50 ngày, mùa đông là 60 ngày.
Dương Hữu Thời (1981) có đề cập đến một số vấn đề sử dụng hợp lý
như: luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi.

1961 diện tích này đã lên tới 51,9 triệu ha [15]. Không những diện tích trồng
cỏ tăng lên, việc nghiên cứu chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh
dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loại cỏ như cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ
Bermuda, cỏ Pangola, v.v… đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Ở

Hoàng Chung (1988) nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc

các nước nhiệt đới khả năng phát triển đồng cỏ rất lớn, nếu được sử dụng một

Việt Nam.Trên cơ sở tương đối đầy đủ những tư liệu về đồng cỏ vùng này đã

cách hợp lý có thể cung cấp Prôtêin động vật không những cho vùng nhiệt đới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

26




trồng có tới 5000–6000 ha, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ, Đồng Giao,

maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17 – 18 tấn VCK/ha/năm

Phú Mãn,… đã xây dựng được hàng nghìn ha đồng cỏ chăn nuôi tập thể, đã

với 7 – 8 lứa cắt [17].

tiến hành cải tạo bãi cỏ thiên nhiên, đồng cỏ cho trâu bò và lợn, nhiều HTX đã
sử dụng đất ven bờ sông nhỏ, ven đê trồng cỏ cung cấp cho gia súc.

Tháng 7/2004, viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp và phát triển nông
thôn đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ

Nông trường Mộc Châu với sự giúp đỡ tận tình, toàn diện của Chính

nhập nội nuôi bò” tại xã Cẩm Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu

ăn gia súc
1.3.3.1. Cỏ hoà thảo

giống cỏ tốt đã được đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm

Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta ảnh hưởng rất lớn đến khả năng

chăn nuôi trong cả nước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao, Tân Sơn Nhất,

sinh trưởng, phát triển của cỏ Hoà thảo. Hầu hết cỏ Hoà thảo đều sinh trưởng

Hưng Lộc, Thủ Đức, Khánh Dương, Nha Bố…

nhanh vào mùa hè, ra hoa kết quả vào vụ thu và hầu như ngừng sinh trưởng

Cỏ cao sản ngoại nhập ngày càng được quan tâm một cách toàn diện

vào mùa đông. Đến mùa xuân lại phát triển nhanh và cho nhiều lá. Cỏ Hoà

hơn. Trong những năm gần đây nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ đậu

thảo có ưu điểm là sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng nhược điểm cơ

và cỏ thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Ôxtrâylia và CuBa), đã tiến hành trồng khảo

bản là hàm lượng xơ cũng tăng nhanh khi cây cỏ già, do đó giá trị dinh dưỡng

nghiệm ở một số địa phương. Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ

theo đó cũng giảm nhanh.


28




N: 2,0 ± 0,1g; K: 19,5 ± 0,7g; Zn : 24 ± 1,8mg; Mn: 110 ± 9,9 mg;

Hiệu quả về chăn nuôi hơn hẳn các loại cỏ khác, chẳng hạn, cứ 14 kg
cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg trắm cỏ, 18 kg cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg

Cu: 8,3 ± 0,07 mg; Fe: 450mg [38].
Một số giống cỏ Hoà thảo chính:

thịt ngỗng. Không những vậy, giống cỏ này có hàm lượng đường cao, giàu

* Varisme số 6 (viết tắt là VA06)

dinh dưỡng được các loại vật nuôi như bò, dê, cừu, lợn, lợn rừng, gà tây, cá

Giống cỏ Varisme số 6 (VA06) là giống cỏ được lai tạo giữa giống cỏ voi

trắm cỏ rất thích ăn, vật nuôi chóng lớn, khoẻ mạnh.

(Pennisetum americanum X.P.purpureum) và cỏ đuôi sói của châu Mỹ, được

* Cỏ Voi (Pennisetum pupureum)

đánh giá là “Vua của các loại cỏ”, được Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa


lông tơ phủ, gân nổi rõ, bẹ lá tròn không có lông. Hoa tự hình bông, màu vàng

khô, lượng đường trung bình 70-80g/kg chất khô. Thường thì cỏ Voi thu

nâu, chiều dài 20 – 30 cm.

hoạch 28 – 30 ngày tuổi, trong trường hợp làm nguyên liệu ủ chua có thể cắt

Cỏ có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu
hoá cao, là thức ăn tốt cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ.

ở 50 ngày tuổi. Ở Việt Nam thường sử dụng các giống cỏ Voi thân mềm như
cỏ Voi Đài Loan, Solectioni, các giống Kinggrass.

Trong cỏ có 17 loại axit amin và nhiều loại vitamin. Trong cỏ tươi, hàm lượng
protein thô 4,6%, protein tinh 3%, đường 3,02%; Trong cỏ khô, hàm lượng
protein thô 18,46%, protein tinh 16,86%, đường tổng số 8,3%, năng suất
trung bình đạt 400-500 tấn/ha/năm. (Theo Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa
ngành nghề nông thôn Việt Nam (VARISME,2008)).
Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn
hong khô hoặc làm bột cỏ khô dùng để nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ, gà
tây, cá trắm cỏ, mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho thêm thức ăn
tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

29





Chất
khô

Protein



thô

thô

9,0

28,6

Tro

cỏ Pangola, vì giữ được năng suất đáng kể, mặc dù độ ngon miệng có kém hơn

Mỡ

Dẫn xuất

[37]. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cỏ được thể hiện ở bảng 1.8.

khô

không đạm



16,4

1,5

39,1

18,3

8,7

32,8

10,9

3,3

44,3

18,5

6,5

33,0

11,4

2,7

46,4

(Malaysia)

nhiều vùng nước ta, một số nơi còn gọi nó là cỏ Tây Nghệ An hay cỏ sữa.

Cỏ khô, mùa khô 6 tuần

Năng suất từ 50 – 100 tấn chất xanh/ha và có thể lên tới 30 – 180 tấn/ha

(Thailand)

(Nguyễn Danh Kỷ, 1970); ở miền Nam, theo Nguyễn Văn Tuyền (1973) cho

Cỏ khô, mùa khô 8 tuần,

năng suất chất xanh là 80-150 tấn/ha. Tại Khánh Dương năng suất chất xanh

70cm. (Thailand)

là 180 tấn/ha và khô là 43 tấn/ha/năm (Vũ Ngọc Bình, 1962). Tại Trung tâm

Ủ xilô (Tanzania)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

31



% Chất khô



25,0

8,8

32,8

12,9

1,5

44,0

28,0

5,3

39,6

10,6

1,4

43,0

23,0

11,7

30,9


88,6

11,9

31,7

12,0

3,2

41,2

89,7

6,6

35,5

13,2

1,8

42,9

20,0

6,3

39,7

năng suất cỏ khoảng 71 – 114 tấn/ha/năm. Ở miền Bắc nói chung Stylo cho năng

không cao. Trên đồng cỏ tự nhiên tỉ lệ đậu đỗ rất thấp chỉ chiếm 4 – 5% về số

suất từ 40 – 70 tấn/ha/năm.

lượng loài, có nơi còn ít hơn và hầu như không đáng kể về năng suất.

Bảng 1.9. Giá trị dinh dưỡng cỏ Stylo theo tháng tuổi

Đậu đỗ thức ăn gia súc ở nước ta thường giàu prôtêin, vitamin, khoáng Ca,

(Theo Nguyễn Anh Tường, 1974)

Mg, Mn, Zn, Cu, Fe, nhưng ít phốtpho, kali hơn cỏ hoà thảo. Tuy vậy, hàm lượng

Tháng tuổi

Prôtêin thô ở thân lá cây đậu đỗ trung bình 167g/kg chất khô, xấp xỉ giá trị trung

Thành phần

7

10

30

36


nước ta chưa có nhiều giống đậu đỗ thức ăn xanh, giống cỏ Stylo và keo dậu được
chú ý hơn cả.

1,9

18,67

2,22

19,39



26,13

26,37

28,34

27,72

Dẫn xuất không đạm

33,78

28,73

25,29

30,59

dụng ở nhiều nơi.
Cỏ Stylo có khả năng thích nghi lớn, với lượng mưa hàng năm từ 1500 –
2500 mm cây phát triển mạnh. Nguyễn Phan (1973) cho rằng Stylo ở Việt Nam

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Mỡ thô

33



hải miền trung, cây keo dậu chính thức nhập từ Úc vào nước ta năm 1990,
trong quá trình triển khai dự án nghiên cứu và phát triển bò thịt do Viện
nghiên cứu chăn nuôi quốc gia chủ trì. Đây là một trong những cây họ đậu
thân gỗ, dùng lá làm thức ăn gia súc, gia cầm rất có giá trị.
Keo dậu có thể trồng tập trung để thu cắt chất xanh hoặc trồng theo
hàng rào, đường lô, đường mương, bờ máng năng suất chất xanh khá biến
động tuỳ theo giống, đất đai, sự chăm sóc. Ở Việt Nam, năng suất đạt khoảng
40-45 tấn/ha/năm, nếu sản xuất từ lá có thể đạt 4-5 tấn/ha/năm. Một năm có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

34




thể cắt được 4-5 lứa. Ngoài cành lá non làm thức ăn cho gia súc, nó còn có

không có. Bởi vậy , rơm là nguồn thức ăn cần thiết cho trâu bò vào mùa cây


đích sử dụng và mật độ gieo trồng. Nếu thu hoạch làm thức ăn xanh sau 40 -

trọng lượng gia súc.

50 ngày cho năng suất chất xanh của ngô thường thay đổi tuỳ theo mục đích

Gần đây trung tâm nghiên cứu dê và cỏ Sơn Tây mới nhập về 3 giống

sử dụng và mật độ gieo trồng. Nếu thu hoạch làm thức ăn xanh sau 40 – 50

keo dậu có năng suất cao, chịu được đất chua hơn so với các giống cũ như

ngày cho năng suất 12,6 tấn/ha (Nguyễn Gia Huy, Nguyễn Thị Hợp, 1961).

giống: 636, 748 và keo dậu lai KX2 giữa 2 giống trên. Cây keo dậu lai có

Sau 4-5 tháng cho 25 – 40 tấn/ha và nếu đất tốt tới 100 – 200 tấn/ha hay hơn,

năng suất cao hơn các giống cũ tới 35-40%. Trung tâm đang nhân giống để

những nước nhiệt đới nằm trong khoảng 8 – 70 tấn/ha chất xanh hay 2 -20 tấn

từng bước mở rộng ra sản xuất [23].

chất khô/ha. Bogdan (1977), Pontailler (1971) cho rằng năng suất xanh tối đa

1.3.3.3. Cây trồng khác

thu được khi cây đã chín sinh lý, tức là 2 tháng sau khi phun râu, khi đến giai

NS khô
(kg/ha)
303

VCK
(%)
32.2

Protein
(%)
2.4

Mỡ
(%)
0.4


(%)
5.1

Dẫn xuất
Không đạm
14.4

Chín sáp

290

33.4





làm thức ăn gia súc. Bảng 1.11 trích dẫn giá trị dinh dưỡng của một số cây cơ

24

Cỏ voi 45 ngày

18.00

1.98

0.68

6.17

7.39

1.78

0.12

0.08

bản [37].

25

Cỏ voi 45 ngày - mùa khô


1.04

0.07

0.06

27

Cỏ voi 60 ngày - mùa khô

20.20

1.76

0.51

6.93

9.42

1.58

0.09

0.04

28

Cỏ voi 60 ngày - mùa ma


0.55

0.14

30

Rơm lúa tẻ

91.25

5.15

1.32 29.88

42.45

12.45

0.49

0.20

Cây mía - ngọn

22.20

0.75

0.56

Thành phần hoỏ học (%)
Tên thức ăn

TT

Vật
chất
khô

Protein Lipid
thô
thô


thô

Dẫn
xuất
không
đạm

Khoáng
tổng
số

Can Phốt
xi
pho

1


7.40

9.70

2.10

0.08

0.09

32

3

Cỏ dầy

28.40

2.80

0.70

7.20

14.60

3.10

0.11


24.40

2.60

0.40

7.10

11.90

2.40

0.25

0.07

6

Cỏ nhện

31.08

2.55

0.61

8.67

15.63


Cây ngô ngậm sữa - thân lá

21.40

2.50

0.70

4.40

12.90

0.90

0.09

0.07

tranh trên thị trường thế giới. Để tạo ra nhiều sản phẩm chăn nuôi đảm bảo về

9

Cây ngô non - thân lá

13.06

1.40

0.40

0.09

0.07

thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ, có chất dinh dưỡng cao và ổn định, sạch

11

Cỏ Ghi nê

23.30

2.47

0.51

7.30

10.62

2.40

0.13

0.03

bệch là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong chăn nuôi.

12



4.71

13.03

1.89

0.39

0.06

thả ngày càng bị thu hẹp lại nhường chỗ cho cây trồng khác, lượng cỏ tự

27.07

7.05

0.64

4.27

13.46

1.65

0.36

0.05

nhiên không đủ để đáp ứng nhu cầu của gia súc khi chăn nuôi với quy mô lớn


0.50

6.10

10.70

1.50

0.31

0.05

17

Cây sắn đỏ - ngọn lá (Tây
Nguyên)
Cây sắn trắng - ngọn lá
(Tây Nguyên)

16.67

4.72

0.67

3.12

6.82


19

Cỏ voi 28 ngày

15.80

2.00

0.40

5.20

6.20

2.00

0.08

0.04

20

Cỏ voi 30 ngày

15.80

3.23

0.66


22

Cỏ voi 30 ngày - mùa mƣa

14.60

2.09

0.39

4.82

6.06

1.24

0.06

0.04

vùng, vấn đề an toàn lương thực và phát triển bền vững về mặt sinh thái,

23

Cỏ voi 40 ngày

17.50

2.45


Trung Minh có độ cao 550 m, độ dốc trung bình từ 20 – 250. Căn cứ vào điều

Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

kiện địa hình, thuỷ văn … huyện Yên Sơn được chia thành 3 vùng sau:
- Vùng Thượng huyện: Gồm 6 xã: Quý Quân, Lực Hành, Xuân Vân,

2.1. Điều kiện tự nhiên

Trung Trực, Kiến Thiết và Phúc Ninh.

2.1.1. Vị trí địa lý
Yên Sơn là huyện miền núi, nằm về phía Nam của tỉnh Tuyên Quang
0

0

0

và có tọa độ địa lý như sau: Từ 21 40’ đến 22 10’ Vĩ độ Bắc, từ 105 10’ đến
1050 40 Kinh độ Đông.

- Vùng An toàn khu: Gồm các xã: Phú Thịnh, Đạo Viện, Trung Sơn,
Kim Quan, Trung Minh, Hùng Lợi và Công Đa.
- Vùng Trung và hạ huyện: Gồm các xã: Chiêu Yên, Tân Tiến, Tứ

Ranh giới của huyện được xác định như sau: Phía Bắc giáp huyện Hàm

Quận, Tân Long, Thắng Quân, Lang Quán, Trung Môn, Chân Sơn, Thái Bình,


- Địa mạo núi cao trên 500 mét (khu vực núi Là, núi Nghiêm) đất đai

lộ 2, quốc lộ 37 và các tuyến đường thuỷ: Sông Lô, sông Gâm, sông Đáy.

vùng này chủ yếu để phát triển rừng phòng hộ, bảo vệ đầu nguồn và động vật

Huyện nằm bao bọc lấy thị xã Tuyên Quang (là trung tâm kinh tế – văn hoá -

quý hiếm.

chính trị lớn nhất trong toàn tỉnh). Các tuyến giao thông chính đến thị xã

- Địa mạo vùng đồi thấp dưới 300 mét, phân bố ở phía Nam huyện. Đất

Tuyên Quang đều đi qua địa bàn huyện. Với những lợi thế như trên, huyện

đai vùng này có nhiều đồi núi, xen kẽ có dạng thung lũng hình lòng máng phù

Yên Sơn có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng về

hợp với nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lương thực. Đây là

kinh tế – xã hội trong những năm tới, khai thác có hiệu quả các nguồn tài

vùng kinh tế trọng điểm của huyện.

nguyên hiện có [43].

2.1.3. Khí hậu, thời tiết (Trạm Tuyên Quang)

- Mưa phùn: Hàng năm có khoảng từ 15 – 20 ngày có mưa phùn. Thời
0

- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 – 24 C. Nhiệt độ trung bình các
0

0

tháng mùa Đông là 16 C, nhiệt độ trung bình các tháng mùa Hè là 28 C .
Tổng tích ôn hàng năm khoảng 8.200 – 8.4000C.

gian xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Sương mù: Hàng năm trung bình có khoảng 25 – 55 ngày, thường
xảy ra vào các tháng đầu mùa Đông.

- Nhiệt độ tối cao trung bình hàng năm khoảng 260C

- Sương muối: Rất hiếm khi xảy ra (khoảng 2 năm mới có một ngày).
0

- Nhiệt độ tối thấp trung bình hàng năm khoảng 19,5 C.

Nếu có thường xảy ra vào tháng 1 hoặc tháng 11.

- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 60C.

2.1.4. Thuỷ văn

b. Lượng mưa:


lượng mưa của cả năm.

đường thuỷ quan trọng và duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang, các tỉnh

c. Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500 giờ. Các
tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 – 60 giờ / tháng. Các tháng
mùa Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140 – 160 giờ.

Trung du, miền núi và Đông Bắc Bộ.
- Sông Gâm: Sông Gâm là phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Lô, chiếm
khoảng 44% diện tích của toàn bộ lưu vực sông Lô . Sông có tổng chiều dài

d. Gió: Có 2 hướng gió chính:

297 km (đoạn chảy trên địa bàn huyện Yên Sơn dài 25km). Diện tích lưu vực

- Mùa Đông có hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc

của sông là 17.200 km2.

- Mùa Hè là hướng Đông Nam hoặc Nam

- Sông Đáy: Bắt nguồn từ núi Tam Tao huyện Chợ Đồn – tỉnh Bắc Kạn

Tốc độ của các hướng gió thấp. chỉ đạt 1 m/s.

chảy vào tỉnh Tuyên Quang qua địa phận huyện Yên Sơn, Sơn Dương sau đó

e. Các hiện tượng khí hậu, thời tiết khác.



chính. Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của người

- Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): Có 12.529 ha, chiếm 10,36% diện

dân trong huyện. Hệ thống sông suối này chứa đựng tiềm năng phát triển thuỷ

tích tự nhiên của huyện, phân bố ở phía Tây Nam của huyện (Chân Sơn, Mỹ

điện không nhỏ, song do độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh nên cũng thường gây

Bằng, Nhữ Hán, Nhữ Khê, Phú Lâm và thị trấn Tân Bình). Thành phần cơ giới

ra nguy hiểm bất ngờ cho thuyền bè qua lại, gây lũ lụt, sạt lở đất vào mùa

đất hoàn toàn là cát pha, độ dày tầng đất có sự biến động lớn từ < 50 cm đến >

mưa cho những vùng có địa hình thấp.

120 cm. Đất có địa hình đồi dốc lớn, chia cắt xen kẽ với các đồi đá cát và phiến
sét, khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế.

2.2. Các nguồn tài nguyên

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Có 35.148 ha, chiếm 29,07% diện

2.2.1. Tài nguyên đất
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, huyện Yên Sơn có 120.910ha

tích tự nhiên của huyện. Loại đất này phân bố ở nơi có độ dốc cao (Trung


trung bình đến sét, hàm lượng dinh dưỡng cao và cân đối, phù hợp với nhiều

yếu với quy mô diện tích và phân bố như sau:

nhiều loại cây trồng dài ngày.

- Đất phù sa ngòi suối (Py): Có 750 ha, chiếm 0,62 % diện tích tự

- Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs): Chiếm phần lớn diện tích

nhiên của huyện, phân bố rải rác ở các xã Trung Trực, Kiến Thiết, Thái Long,

với 47.862ha (bằng 39,58% diện tích tự nhiên của huyện), phân bố ở phần lớn

Kim Quan... Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa,

các xã trong huyện (các xã Mỹ Bằng, Nhữ Hán, Nhữ Khê và thị trấn Tân Bình

năng suất trung bình thấp.

không có loại đất này). Thành phần cơ giới đất chủ yếu là thịt trung bình, độ

- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Có 18.682 ha, chiếm

dày tầng đất có các mức <50 cm; 50–120 cm và >120cm. Đất này thích hợp

15,45% diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã ven sông Lô (An

với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày (chè) và các loại cây ăn quả. Vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status