I. Khái quát về xuất xứ hàng hoá và công tác kiểm tra xuất xứ
hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
1. Khái niệm và đặc điểm của xuất xứ hàng hoá:
Cùng với sự phát triển của phân công lao động và giao lưu buôn bán quốc
tế, một hàng hoá được sản xuất ra có thể có sự đóng góp của nhiều quốc gia,
vùng lãnh thổ khác nhau. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, hàng hoá sản
xuất ra không chỉ để sử dụng trong một nước mà có sự trao đổi buôn bán giữa
các nước trên toàn thế giới. Khi phân công lao động ngày càng mạnh thì nhu
cầu thương mại cũng phát triển theo. Và cũng xuất phát từ quan hệ trao đổi
hàng hoá này giữa các nước, nảy sinh các tranh chấp thương mại. Do đó, vấn
đề cần thiết để đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan là cần
phải làm rõ địa điểm( hay quốc gia) mà hàng hoá được nuôi trồng, sản xuất,
chế biến hay gia công. Hay nói cách khác, khái niệm xuất xứ hàng hoá ra đời
là yếu tố quan trọng tất yếu của quá trình thuận lợi hoá thương mại quốc tế.
Theo Điều 1 Hiệp định GATT 1994( đoạn 1, phụ lục II), “ Xuất xứ
hàng hoá là “ quốc tịch” của một hàng hoá”…” hàng hoá hoàn toàn được khai
thác, nuôi trồng, chế biến, tại một nước mà không có sự tham gia của hàng
hoá nhập khẩu từ nước khác thì được coi là có xuất xứ từ nước đó”.
Theo phụ lục chuyên đề K Công ước Kyoto sửa đổi định nghĩa: “ Nước
xuất xứ của hàng hoá là nước tại đó hàng hoá được chế biến hoặc sản xuất,
phù hợp với tiêu chuẩn được đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong biểu thuế
hải quan, những hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp liên quan đến thương
mại”.
Trong khoản 14, Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam làm rõ: “ Xuất xứ
hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi
thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường
hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng
hoá đó”.
Trên thực tế, việc xác định xuất xứ hàng hoá khá phức tạp và không phải
lúc nào cũng thống nhất, vì mỗi nước phải đưa ra các tiêu chí cụ thể xác định
xuất xứ hàng hoá đảm bảo mục tiêu kinh tế thương mại của chính quốc gia
+ Các loại cây trồng được thu hoạch như cây lương thực, cây làm cảnh và
cây cho hoa.
+ Các hàng hoá được sản xuất từ chỉ những hàng hoá xuất xứ thuần tuý
hoặc các mảnh rời hoặc các phế liệu của quá trình sản xuất hoặc có thể có
được sau quá trình tiêu dùng.
- Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý:
Hàng hoá xuất xứ không thuần tuý là các hàng hoá mà quá trình tạo ra và
hoàn thiện nó có sự tham gia của hai hay nhiều nước.
Trong thương mại quốc tế, hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý được xác
định là có xuất xứ của nước thực hiện gia công hoặc chế biến cuối cùng.
Ngoại trừ các công đoạn, thao tác sau đây:
+ Các công việc bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển và lưu
kho.
+ Các công việc đơn giản như lựa chọn, phân loại, lau bụi, sang lọc, chia
cắt ra từng phần.
+ Dán nhãn mác hoặc các dấu hiệu phân biệt, bao gói sản phẩm.
+ Tháo dỡ lắp ghép các lô hàng và thay đổi bao bì đóng gói.
+ Đóng gói, bao, hộp, chai, lọ…
+ Lắp ráp đơn giản các bộ phận của các sản phẩm để tạo nên một sản
phẩm hoàn chỉnh.
+ Trộn đơn giản các sản phẩm, nếu một hay nhiều thành phần của hỗn hợp
không đáp ứng điều kiện đã quy định để có thể được coi như có xuất xứ tại
nơi thực hiện việc này.
+ Kết hợp các công việc trên.
+ Giết mổ động vật.
Cần lưu ý là khái niệm gia công chế biến đầy đủ tuỳ thuộc vào quy định
của mỗi nước và mỗi khu vực trong quan hệ với các đối tác thương mại.
- Các tiêu chí chuyển đổi căn bản:
+ Tiêu chí về thay đổi mã số phân loại ( HS).
Theo tiêu chí này, hàng hoá được phân loạivào nhóm hoặc phân nhóm
phải đáp ứng các yêu cầu về chuyển đổi mã số HS hoặc gia công chế biến.
Đối với cộng gộp xuất xứ trong Asian, hàng hoá được coi là có xuất xứ Asian
khi các yêu cầu về sản xuất hay chế biến đã được đáp ứng tại tất cả các nước
ASEAN liên quan trong quá trình sản xuất hàng hoá đó.
+ Quy tắc vận chuyển thẳng:
Hàng hoá được vận chuyển thẳng từ nước được hưởng ưu đãi đến nước
cho hưởng ưu đãi mà không đi qua lãnh thổ của quốc gia nào khác hoặc nếu
có quá cảnh lãnh thổ một quốc gia khác thì không đưa vào buôn bán hoặc tiêu
thụ tại nước đó hoặc không trải qua bất kỳ một công đoạn gia công chế biến
nào trừ việc xếp, bốc dỡ hoặc các hoạt động nhằm đảm bảo cho hàng hoá vận
chuyển tốt.
Hàng hoá xuất khẩu từ nước được hưởng, để lưu kho tạm thời hay trưng
bày triển lãm được vận chuyển thẳng từ nơi tổ chức triển lãm tới nước cho
hưởng và triển lãm được tổ chức dưới sự giám sát của cơ quan hải quan.
Ngoại trừ các quốc gia không có biển, hàng hoá nhập khẩu được gửi trực tiếp
từ quốc gia hưởng lợi đến quốc gia cho ưu đãi.
Các quy tắc xuất xứ ưu đãi được quy định trong các thoả thuận thương
mại ưu đãi bao gồm:
- Cơ chế thương mại tự định của các nước phát triển dành cho các
nước đang phát triển hay là ưu đãi đơn phương do 1 nước hoặc nhóm nước
quy định dành cho 1 nước hoặc nhóm nước khác thoả mãn yêu cầu xuất xứ do
Hiệp định quy định. Ví dụ, Hệ thống ưu đãi phổ cập GSP.
- Cơ chế thương mại thoả thuận là ưu đãi giữa các nhóm nước thoả
thuận dành cho nhau trên nguyên tắc có qua có lại. Ví dụ, AFTA hay
NAFTA.
b.Quy tắc xuất xứ không ưu đãi:
Khác với quy tắc xuất xứ ưu đãi đã thống nhất trong khuôn khổ các Hiệp
định song phương hoặc đa phương, các quy tắc xuất xứ không ưu đãi đòi hỏi
phải có định chế xây dựng quản lý và thúc đẩy chương trình hài hoà quy tắc
xuất xứ không ưu đãi. Theo đó, cần phải dựa vào các nguyên tắc nhất định
cũng sẽ điều chỉnh quá trình phân loại mã HS để xây dựng quy tắc xuất xứ
cho sản phẩm cụ thể.
- Quy tắc 3: Xác định xuất xứ
Xuất xứ của một hàng hoá sẽ được xác định theo các điều khoản của Phụ
lục 1 và Phụ lục 2 của Hiệp định quy tắc xuất xứ khi áp dụng các quy định
sau đây một cách tuần tự:
+ Các quy tắc chính:
Quốc gia xuất xứ hàng hoá là quốc gia mà tại đó hàng hoá có được tính
chất cơ bản tự nhiên, không qua chế biến hoặc là quốc gia mà tại đó hàng hoá
có được theo điều kiện trên hoặc là quốc gia mà tại đó giai đoạn sản xuất cơ
bản đó diễn ra.
+ Các quy tắc phần dư:
Nếu hàng hoá trải qua một hoặc hơn một hoạt động mà không thay đổi về
phân loại thì xuất xứ hàng hoá là quốc gia mà hàng hoá ra đời trước khi trải
qua các hoạt động đó với điều kiện là bất kể vật liệu nào đã được bổ sung
thêm vào phải thoả mãn sự thay đổi quy tắc phân loại áp dụng cho hàng hoá.
Quốc gia xuất xứ hàng hoá là quốc gia mà tại đó phần lớn nguyên vật liệu
xuất xứ trên cơ sở quy định trong quy tắc phần dư áp dụng tại các Chương.
Nếu các nguyên liệu có tỷ lệ đa số bằng nhau của các quốc gia tham gia, thì
hàng hoá đó là hàng hoá đa quốc gia.
- Quy tắc 4: Yếu tố trung lập
Xuất xứ hàng hoá không tính đến xuất xứ của năng lượng, chất đốt, nhà
xưởng và thiết bị, hoặc máy móc và công cụ được sử dụng sản xuất hàng hoá
hoặc các nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất hàng hoá mà không còn tồn tại
trong hàng hoá hoặc tạo nên 1 phần hàng hoá.
- Quy tắc 5: Đóng gói, vật liệu đóng gói và bao bì
Nếu nguyên liệu đóng gói và bao bì không được phân loại cùng với nội
dung bên trong là hàng hoá tách rời, thì xuất xứ của nguyên vật liệu đóng gói
và bao bì được xác định theo các quy tắc tương ứng quy định trong Phụ lục 1
và 2.
khác để tăng lượng bán hàng của họ.
e. Các nguyên nhân môi trường:
Các yêu cầu về ký hiệu, bản thân chúng là kết quả của việc áp dụng quy
tắc xuất xứ, được sử dụng vì những lý do môi trường. Một số trong số đó tăng
cường các mục tiêu môi trường. Số khác hiện theo đuổi việc sử dụng và lạm
dụng quy tắc xuất xứ nhằm mục đích chôn phế thải độc hại hoặc khai thác
kiệt quệ và bằng cách đó làm tuyệt chủng các loài thực vật và động vật.
f. Lẩn tránh:
Mặc dù là không hợp pháp và là một thực tiễn thương mại không công
bằng, một số nước, khi cố tránh bị áp dụng hạn ngạch, đã sử dụng và lạm
dụng quy tắc xuất xứ để đưa ồ ạt và bán phá giá hàng hóa tại thị trường các
nước khác.
3. những quy tắc chung trong xác định xuuất xứ hàng hóa
a. Quy tắc xuất xứ phổ biến
+ Xuất xứ thuần túy ( Whollyobtained – WO)
Các hàng hóa sau được coi là có xuất xứ thuần túy, bao gồm;
- Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được thu hoạch tại quốc gia
hoặc vùng lãnh thổ đó.
- Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại quốc gia hoặc vùng lãnh
thổ đó.
- Các sảnt phẩm từ động vật sống tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó
- Các sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt,nuôi trồng thu
lượm hoặc săn bắt tại các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó.
- Các khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên, được chiết xuất hoặc lấy
ra từ đất,nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của quốc gia học vùng lãnh thổ
đó.
- Các sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh
hải của quốc gia,vùng lãnh thổ,với điều kiện gia,vùng lãnh thổ đó có quyền
khai thác đối với vùng nước,đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế.
- Các sản phẩm đánh bắt và các hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả
quá cảnh lãnh thổ một quốc gia khác, có hoặc không chuyển tải hoặc lưu kho
tạm thời với điều kiện:
+ Quá cảnh là cần thiết vì lí do địa lý hoặc yêu cầu vận tải.
+ Không được mua bán hoặc tiêu thụ tại đó
+ Không xử lý gì trừ việc bốc dỡ, tái xếp hàng nhằm đảm bảo giữ hàng
trong tình trạng tốt
b. Quy tắc xuất xứ sản phẩm cụ thể:
- Quy tắc chuyển đổi mã số HS
Chuyển đổi mã số hàng háo hay chuyển đổi mã số HS( trong Biểu thuế
xuất nhập khẩu) của hàng hóa được tạo ra ở một quốc gai hoặc vùng lãnh thổ
trong quá trình sản xuất từ nguyên liệu không có xuất xứ của quốc gia hoặc
vùng lãnh thổ này
Quy tác này được xây dựng phù hợp với hệ thống danh mục hài hòa và mô
tả mã hóa hàng hóa HS(Hảmonized System) của tổ chức hải quan thế giới và
thường được dùng làm phụ lục của các quốc FTA. Quy tắc này đòi hỏi
nguyên vật liệu tham gia trong quá trình sản xuất phải đạt được chuyển đổi cơ
bản để hàng hóa được công nhận là có xuất xứ tại nước chuyển đổi cơ bản đó.
Ví dụ: Thịt bò đông lạnh(0202) nhập khẩu từ úc; gia vị quế, hồi(0906 –
0909) nhập khẩu từ Trung Quốc; để sử dụng để sản xuất xúc xích bò( 1601)
tại Indonesia.
Ví dụ:Máy bán đồ ăn uống tự động(8476.21) sản xuất tại Singapore từ
các nguyên vật liệu, bộ phận nhập khẩu. Nguyên vật liệu nhập khẩu được
phân loại theo các bộ phận phụ tùng tương ứng mã số HS ( trừ phân nhóm
8476.21 – 8476.89). Bộ phận chỉ được thiết kế sử dụng cho các loại máy bán
hàng tự động được phân loại vào nhóm 8476.90. Nhà xuất khẩu có thể sử
dụng nguyên vật liệu không có xuất xứ và các bộ phận cảu máyb án hàng
chuyên dụng(8476.90) để sản xuất máy bán đồ uống tự động(8476.21) để đủ
điều kiện hưởng ưu đãi.
Quá trình sản xuất máy bán đồ uống tự động bao gồm nguyên vật liệu
nhập khẩu của một số nước, được gia công chế biến tại Singapore, đạt được
40% giá xuất xưởng của sản phẩm được gửi sang Canada.
Theo quy định của Việt Nam thì tỉ lệ phần trăm của giá trị là phần của
giá trị là phần giá trị gia tăng có được sau khi một quốc gia hoặc vùng lãnh
thổ sản xuất, gia công, chế biến các nguyên liệu không có xuất xứ từ quốc gia
hoặc vùng lãnh thổ này so với tổng giá trị của hàng hóa được sản xuất ra.
Phần giá trị tăng nói trên phải đạt ít nhất 30 % của giá trị hàng hóa được sản
xuất ra và được thể hiện theo công thức sau:
Giá FOB – Giá nguyên liệu không có xuất xứ từ
quốc gia hoặc vùng lãnh thổ sản xuất
X 100% >/ 30%
Giá FOB
Trong đó:
“ Nguyên liệu không có xuất xứ từ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ”
bao gômg nguyên liệu có xuất xứ từ một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác
và nguyên liêu không rõ xuất xứ;
“ Giá nguyên liệu không có xuất xứ từ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ sản
xuất” là giá CIF
của nguyên liệu nhập khẩu từ trực tiếp (đối với nguyên liệu có xuất xứ từ
một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác) hoặc giá tại thời điểm mau vào ghi
trên hóa đơn giá trị gia tăng( đối với nguyên liệu không rõ xuất xứ) dùng để
sản xuất, gia công, chế biến ra sản phẩm cuối cùng;
“ Giá FOB” là giá ghi trên hợp đồng xuất khẩu và được tính như sau’
Giá FOB= Giá xuất xưởng + các chi phí khác
Với “ Giá xuất xưởng” = Chi phí sản xuất + Lợi nhuận;
“ Chi phí sản xuất” = Chi phí nguyên vật liệu + Chi phí nhân công + Chi
phí phân bổ;
“ Chi phí phân bổ” như bảo hiểm nhà xưởng, sửa chữa, bảo trì, thuế, lãi
cầm cố; Các khoản thuê mua và trả lãi của nhà máy và thiết bị, an ninh nhà
máy; Nghiên cứu, phát triển, thiết kế và chế tạo; Khuôn dập, khuôn đúc, việc
trang bị dụng cụ và khấu hao, bảo trì và sửa chửa của nhà máy và thiết bị;
cho mọi thành viên, áp dụng cho hàng hóa xuất xứ từ các nước thành viên
AFTA. Lộ trình cắt giảm thuế, các nước có quyền lựa chọn loại trừ một số sản
phẩm ra khỏi CEPT:
+ Loại trừ tạm thòi gồm xe tải, hóa chất , chất dẻo( chiếm khoảng 15 %)
+ Sản phẩm công nghiệp nhạy cảm( sẽ được mở rộng đến 2010)
+ Loại trừ hoàn toàn: Gồm những sản phẩm cần thiết bảo vệ an ninh, đạo
đức, sức khỏe, các giá trị mỹ thuật, lịch sử và chiếm khoảng 1% số dòng thuế.
• Quy tắc 1. Xác định xuất xứ sản phẩm
Hàng hóa CEPT được nhập khẩu vào một nước thành viên từ nước thành
viên khác, sẽ đủ điều kiện để hưởng ưu đãi nếu:
- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy.
- Xuất xứ không thuần túy
- Được vận tải trực tiêp
• Quy tắc 2: Xuất xứ thuần túy
Các hàng hóa sau được coi là xuất xứ thuần túy:
(a) Các khoáng sản được khai thác từ lòng đất, mặt nước hay đáy biển của
nước đó;
(b)Các hàng hóa nông sản được thu hoạch ở nước đó;
(c) Các động vật được sinh ra và chăn nuôi ở nước đó;
(d)Các sản phẩm từ động vật nêu ở mục (c) trên đây;
(e) Các sản phẩmt thu được do săn bắn hoặc đánh bắt ở nước đó;
(f) Các sản phẩm thu được do đánh cá trên biển và các đồ hải sản do các
tàu của nước đó lấy được từ biển;
(g)Các sản phẩm được chế biến hay sản xuất trên boong tàu của nước đó
từ các sản phẩm nêu ở mục (f) trên đây;
(h) Các nguyên liệu đã qua sử dụng được thu nhặt ở nước đó, chỉ dùng để
tái chế nguyên liệu;
(i) Đồ phế thải từ các hoạt động công nghiệp tại nước đó
(j) Các hàng hóa được sản xuất từ các sản phẩm từ mục(a) đến (i)
• Quy tắc 3. Xuất xứ không thuần túy
ASEAN nào;
- Nếu hàng hóa được vận chuyển không qua lãnh thổ của bất kì một nước
không phải là thành viên ASEAN nào khác.
+ Quy tắc xuất xứ giữa ASEAN – Trung Quốc
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc,
với chương trình thu hoạch sớm( EHP) được các bộ trưởng kinh tế ký tại
Indonexia ngày 06/10/2003, các bên cam kết thành lập Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN Trung Quốc( ACFTA)
Về thương mại hàng háo vào 2010 với ASEAN – 6 và Trung Quốc; 2015
đối với CLMV.
Lộ trình cắt giảm thông thường: 90% dòng thuế NT cắt giảm còn 0% từ
2005 – 2010( CLMV 2015) trong đó< dòng được bảo lưu kéo đài thời gian
duy trì mức thuế đến 5% thêm 2 năm (CLMV) là 3 năm).
Danh mục nhạy cảm SEL: không vượt quá 400 dòng thuế và 10 % kim
ngạch nhập khẩu của từng nước ASEAN – Trung Quốc, gồm nhạy cảm cao
và thông thường. Số lượng HSEL không quá 40% SEL và không vượt qua
100 mặt hàng.
ASEAN – 6 và Trung Quốc áp dụng thuế suất SEL duy trì đến 2012 còn
20%, giảm còn 0 – 5% vào 2015; HSEL cắt giảm còn 50 % vào 2015
CLMV danh mục SEL còn 20% vào 2015, 0 – 5% vào 2020; HSEL giảm
còn 50% vào 2018
Bộ quy tắc xuất xứ ACFTA được ban hành theo Quyết định
1727/22003/ QĐ – BTM ngày 12/12/2003.
- Các quy chế xuất xứ áp dụng riêng cho một số mặt hàng
+Quy chế xuất xứ CEPT áp dụng cho hàng dệt và các sản phẩm dệt
Quy tắc 1.
Nước xuất xứ là nước mà tại đó diễn ra việc chuyển đổi cơ bản cuối
cùng hoặc thực hiện quá trình để tạo nên một sản phẩm mới. Do vậy, nguyên
vật liệu trải qua một chuyển đổi cơ bản ở nước nào sễ là ssản phẩm của nước
đó.
- Các chất hóa dầu trải qua quá trình polyme hóa hay đa tụ hay bất kỳ
một quá trình hóa học hoặc vật lý nào để tạo nên một cao phân tử;
- Polyme(Cao phân tử) trải qua quá trình kéo sợi chỷ hay phun để tạo
nên một xơ tổng hợp;
- Kéo xơ thành sợi;
- Dệt,dệt kim hay phương pháp tạo thành vải khác;
- Cắt vải thành các phần và lắp ráp các phần này thành một sản phẩm
hoàn chỉnh;
- Nếu quy trình nhuộm vải được kèm thêm bất kỳ công đoạn hoàn tất
nào thì có tác động tới việc hoàn chỉnh sản phẩm in trực tiếp.
- Nếu quy trình in vải được kèm thêm bâtts kỳ công đoạn hoàn tất nào thì
có tác động tới việc hoàn chỉnh sản phẩm in trực tiếp.
- Quá trình sản xuất một sản phẩm mới có các xử lý như ngấm hay phủ
một sản phẩm dẫn đến việc tạo thành một sản phẩm mới thuộc vào nhóm
hàng tính thuế khác( 4 số – heading of customs tariff) so với ban đầu.
- Các điểm thêu chiếm ít nhất 5% tổng số diện tích của sản phẩm được
thêu.
Quy tắc 7.
Một sản phẩm hay vật liệu sẽ không được coi là một sản phẩm có xuất
xứ ASEAN nếu nó chỉ trải qua bất cứ một quá trình nào như sau
- Cắt theo chiều dài hay khổvải và viền, móc hay may đè vải nhằm mục
đích sử dụng cho một hình thức thương mại đặc biệt;
- Cắt nhẹ và/ hay ghép với nhau bằng cách may, tạo vòng, ghép nối, đán
các phụ kiện như nẹp áo,dải, thắt lưng, dây vòng hay khuyết.
- Một hay nhiều các công đoạn hoàn tất cho sợi, vải hay các sản phẩm
khác như tẩy trắng, chống thấm,có kết, làm bóng hay các công đoạn tương tự;
hay
- Nhuộm hoặc in hoa vải hoặc sợi.
Lưu ý: Các sản phẩm( được liệt kê sau đây) được tạo ra từ vật liệu dệt do
các nước người ASEAN sản xuất sẽ được coi có xuất xứ ASEAN nếu nó trải
phẩm thương mại mới.
Một sản phẩm thương mại mới khi trải qua quá trình sản xuất hoặc gia
công nếu có sự thay đổi sau;
- Đặc tính hay kiểu dáng thương mại
- Đặc điểm cơ bản
- Mục đích sử dụng về thương mại
Trong trường hợp hai hoặc nhiều nước tham gia vào quy trình sản xuất
để tạo ra các sản phẩm nêu trên thì nước diễn ra quy trình chuyển đổi cơ bản
hoặc chế biến cuối cùng là nước cấp giâyý chứng nhận xuất xứ.
4. Nguyên tắc kiểm tra xuất xứ hàng hóa
Việc kiểm tra xuất xứ hàng hóa phải căn cứ vào thực tế hàng hóa và hồ
sơ hải quan. Trường hợp có khác biệt nhỏ giữa việc khai thác trên C/O và
chứng từ thuộc hồ sơ hải quan nhưng cơ quan hải quan không nghi ngờ về
tính xác thực của xuất xứ hàng háo và việc khai đó vẫn phù hợp với hàng háo
thực tế nhập khẩu thì C/O đó vẫn được coi là hợp lệ.
C/O đã nộp cho cơ quan hải quan thì không được thay thế hoặc sửa đổi
nội dung, trừ trường hợp có nội dung chính đáng và do cơ quan hay tổ chức
có thẩm quyền cấp C/O sửa đổi, thay thế trong thời hạn quy định của pháp
luật
+ Nội dung kiểm tra xuất xứ hàng hóa
Khi kiểm tra giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ( C/O) cơ quamn hải
quan kiểm tra các nội dung sau:
- Các tiêu chí cơ bản trên C/O, sự phù hợp về nội dung trên C/O và các
chứng từ thuộc hồ sơ hải quan;
- Mẫu dấu, tên và mẫu chữ ký, tên cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền
cấp C/O thuộc chính phủ của nước hoặc vùng lãnh thổ đã có thỏa thuận ưu
đãi đặc biệt trong quan hệ thương mại với Việt Nam:
- Thời hạn hiệu lực của C/ O.
Trong trường hợp có nghi ngờ tính xác thực của chứng từ hoặc mức độ
chính xác của thông tin liên quan đến xuất xứ của hàng hóa, cơ quan hải quan
QĐ- BTM, Quyết định 12/ 2007/ QĐ- BTM, Quyết định 02/ 2007/ QĐ-
BTM, Quyết định 19/ 2008/ QĐ- BTC, Quyết định 2006/ QĐ- BTC...