Đề tài: Phân tích tài nguyên thiên và tài nguyên nhân văn của
vùng kinh tế trọng điểm miền Nam
I. Khái quát chung:
1. Về mặt địa lý:
Vị trí bản lề giữa Tây Nguyên và duyên Hải Nam Trung Bộ với đồng bằng Sông Cửu
Long.Vùng kinh tế trọng điểm miền nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Tây
Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang. Diện tích
tự nhiên toàn vùng trên 30 ngàn km
2
, chiếm 9,2% diện tích cả nước. Địa hình tương đối bằng
phẳng , rải rác có một vài ngọn núi trẻ.
Đây là vùng chuyển tiếp giữa vùng Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông
Cửu Long vì thế vùng có điều kiện hội tụ các nguồn tài nguyên để phát triển công nghệ và có cơ
sở lương thực, thực phẩm vững chắc để phát triển công nghiệp, đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Nằm ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai, tiếp cận với một vùng biển sâu, bờ biển đẹp, vùng có
nhiều tài nguyên nhiên liệu năng lượng và nguồn hải sản lớn. Một hệ thống đất đỏ bazan, đất xám
phân bố rộng lớn trên lãnh thổ của vùng là điều kiện để hình thành các vùng chuyên canh cây
công nghiệp nhiệt đới đặc trưng, đặc biệt sông Sài Gòn có mức nước sâu, hình thành Cảng Sài
Gòn, hải cảng lớn nhất của cả nước. Vùng tiếp giáp với đường biển quốc tế, hành lang giao thông
đường thuỷ sầm uất nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, gần các trung tâm thương mại
quốc tế lớn như Băng Cốc, Singapore đó là lợi thế rất quan trọng để vùng xây dựng nền kinh tế
mở.
2. Về mặt kinh tế xã hội:
Đây cũng là vùng có lịch sử hình thành những điểm đô thị cách đây vài ba thế kỷ như Sài Gòn,
Gia Định. Phần lớn các thành phố trong vùng trọng điểm ít bị tàn phá, các cơ sở công nghiệp đã
có được công nhân bảo vệ để làm bàn đạp cho phát triển công nghiệp hiện đại. Trong vùng đã có
nhiều tổ hợp sản xuất và chế biến cây công nghiệp như cao su, cà phê, đường, lạc, mía, quy mô
tương đối lớn, gắn tổ chức sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.
Lịch sử phát triển cũng đã thu hút dân cư vào lao động ngày càng đông từ nhiều địa phương đến
và đã hình thành được đội ngũ cán bộ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh
nghiệp nặng và hoá chất được đặt ở Gò Dầu gần các khu công nghiệp Mỹ Thuận, Phú Mỹ, 7 khu
công nghiệp là khu công nghiệp Biên Hoà 1, khu công nghiệp Biên Hoà 2, khu công nghiệp Long
Bình B, khu công nghiệp Amala, khu công nghiệp Nhơn Trạch, khu công nghiệp Sông Mây, khu
Trang 2
công nghiệp Gò Dầu, các khu công nghiệp này chủ yếu là khu công nghiệp chế xuất công nghiệp
nhẹ và công nghiệp nặng.
Bình Dương 4 khu công nghiệp được xác định ở huyện Thuận An và Phú Mỹ là khu công nghiệp
Sóng Thần, khu công nghiệp An Phú, khu công nghiệp Tân Định, khu công nghiệp Việt Nam -
Singapore, các khu công nghiệp này chủ yếu là công nghiệp nhẹ.
5. Tổ chức lãnh thổ nông, lâm, ngư nghiệp:
Nổi bật nhất của vùng là sản xuất và chế biến các cây công nghiệp nhiệt đới quan trọng như cao
su, điều, cà phê. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao thu nhập và giảm bớt sự nghèo khổ ở nông
thôn, Phát triển mạnh ngành khai thác hải sản xa bờ và chế biến hải sản, tổ chức chăn nuôi, chú ý
tăng đàn bò sữa, nuôi trồng thuỷ sản.
Tổ chức lãnh thổ dịch vụ
Là một trong những khu vực kinh tế đã tương đối phát triển ở trong vùng. Tuy nhiên, cần mở rộng
thương mại để cung cấp nguyên vật liệu, nâng cấp và phát triển mọi giao thông vận tải (cảng Thị
Vải, Phú Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất, Long Thành), mở thêm các đường bộ cao tốc và đường xe
lửa Sài Gòn đi Vũng Tàu, Tây Ninh, Mỹ Tho, phát triển thông tin - liên lạc, tài chính, Ngân hàng,
bảo hiểm, phát triển du lịch, văn hoá, giáo dục và y tế
II. Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn của VKTTĐ miền nam:
1. Tài nguyên thiên nhiên:
- Khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ nét, phân hóa theo mùa, độ ẩm cao,
lượng mưa dồi dào trung bình hàng năm khoảng 1500 - 2000 mm.
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng rất phong phú và đa dạng. Đất rất nhiều nhóm khác nhau
nhưng có ba nhóm đất quan trọng đó là đất đỏ,đất nâu vàng trên nền bazan, đất xám trên nền phù
sa cổ chiếm diện tích lớn và giàu chất dinh dưỡng. Rừng với diện tích khoảng 532.600 ha chiếm
6,8% diện tích rừng cả nước phân bổ không đều giữa các tỉnh. Khoáng sản phong phú nhiều
chủng loại với trữ lượng lớn như: Dầu khí, đá ốp lát, đá vôi Nguồn nước mặt đa dạng đáng kể
là hệ thống sông Đồng Nai là một trong ba con sông lớn ở Việt Nam ngoài ra còn có một số hồ
triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm
hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng;
nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
cao.
Vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng bộ, tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học,
trung tâm y tế; nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng khá nhất, do đó là địa bàn có môi trường
đầu tư hấp dẫn nổi trội. Đây là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc
Trang 4
tế, đặc biệt là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng…. Đã hình
thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các
tuyến trục và vành đai thông thoáng.
Vùng kinh tế trọng điểm miền nam là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã
hình thành và liên kết mạng lưới các khu công nghiệp tập trung và phát triển các ngành công
nghiệp mũi nhọn và cơ bản như: khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện,
công nghệ tin học, hóa chất cơ bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của
vùng và của cả nước.
Đã hình thành hệ thống đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế có trình độ cao,
đảm bảo đào tạo và cung cấp dịch vụ y tế cho cả vùng. Là một trong 2 vùng có khu công nghệ cao
và trung tâm tin học, đào tạo và sản xuất phần mềm của cả nước.
Đây là vùng duy nhất hiện nay của cả nước hội tủ đủ điều kiện và lợi thế cho phát triển công
nghiệp và dịch vụ để có tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững.
- Tài nguyên khoáng sản của vùng cho phép khai thác quy mô công nghiệp, nổi bật là tài
nguyên nước, dầu khí, đá vôi và đá xây dựng. Dầu khí phân bố rộng trên vùng thềm lục địa Bà
Rịa - Vùng Tàu với trữ lượng dầu mỏ dự báo 3 tỷ tấn và trữ lượng khí khoảng 300 tỷ m
3
. Nguồn
thuỷ năng của vùng tập trung ở Đồng Nai với tổng công suất lý thuyết ước tính lên tới 581,5
nghìn KW, trong đó sông Đồng Nai 580572 KW, sông Lá Buông 765 KW, sông La Ngà 144 KW,
sông Ray 40 KW. Đây là những cơ sở nguyên liệu năng lượng quan trọng cho phép phát triển
mạnh mẽ công nghiệp điện và khai khoáng, nhất là khai thác và chế biến dầu khí.
nhân lực dồi dào và có kỹ năng khá nhất, do đó là địa điểm có môi trường đầu tư hấp dẫn nổi trội.
(3) Vùng là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế, đặc biệt là
dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng Đã hình thành mạng lưới
đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các tuyến trục và vành
đai thông thoáng. Do đó vùng là địa bàn có sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, và thu hút lao động từ ngoài vùng vào.
(4) Là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã hình thành và liên kết mạng
lưới các khu công nghiệp tập trung và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và cơ bản như:
khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hoá chất cơ
bản, phân bón và vật liệu làm nền tảng công nghiệp hoá của vùng kinh tế phía Nam và của cả
nước và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong thời kỳ đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trang 6
(5) Đã hình thành hệ thống đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế có trình
độ cao, đảm bảo đào tạo và cung cấp dịch vụ y tế cho cả vùng. Là một trong 2 vùng có khu công
nghệ cao và trung tâm tin học, đào tạo và sản xuất phần mềm của cả nước.
(6) Vùng có dư địa để mở rộng, phát triển thêm các khu công nghiệp, khu đô thị mới, nhất là
sau khi có quyết định bổ sung thêm 3 tỉnh, tạo điều kiện giải toả mật độ tập trung cao tại khu vực
hạt nhân, đồng thời phát huy tác động đô thị hoá và công nghiệp hoá của hạt nhân sang các tỉnh
lân cận. Vùng cũng là thị trường tiêu thụ có quy mô lớn nhất cả nước.
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là vùng lãnh thổ có nhiều điều kiện thuận lợi, có tiềm lực
kinh tế lớn nhất, phát triển năng động nhất cả nước đang đóng góp tích cực cho phát triển của cả
khu vực phía Nam. Đồng thời có hệ thống đô thị, các khu công nghiệp đang trong quá trình phát
triển vượt bậc. Với những tiềm năng, thế mạnh kể trên, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam xứng
đáng “được tập trung đầu tư cao để trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển năng động
nhất, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh vượt trước, chuyển dịch cơ cấu nhanh so với các vùng
khác trong cả nước, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế”.
IV. Hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Miền
Nam :
Trong vùng hình thành các khu, cụm công nghiệp lớn tạo điều kiện mở rộng liên doanh, liên
kết với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã hình thành và liên kết mạng
lưới các khu công nghiệp tập trung và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và cơ bản như:
khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hóa chất cơ
bản, phân bón và vật liệu… làm nền tảng công nghiệp hóa của vùng và của cả nước.
Hiện công nghiệp đang chiếm từ 50-60% cơ cấu kinh tế cả vùng. Theo số liệu liệu của Báo kinh tế
Việt Nam tháng 2 năm 2011,Cơ cấu thành phần kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền nam
cũng có những chuyển biến mới. Khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng 45% GDP, nhưng
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng nhanh như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Ðồng Nai, Bình
Dương, TP.HCM… Hiện nay, vùng đã thu hút 3.033 dự án trong đó có 1.801 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng vốn đầu tư trên 15 tỷ USD và gần 66.200 tỷ đồng Việt Nam. Các khu - cụm công
nghiệp đã đi vào hoạt động có tỷ lệ lấp đầy bình quân 72,3% diện tích đất hữu dụng. Nhiều khu -
cụm công nghiệp lấp đầy 100% diện tích. Không chỉ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các khu -
cụm công nghiệp này còn đang đón một dòng chảy mạnh mẽ nguồn vốn của các doanh nhân trong
Trang 8
nước. Những khu công nghiệp tập trung nhiều dự án trong nước như: Khu công nghiệp (KCN)
Tân Tạo có 168 dự án với số vốn 5.157 tỷ đồng, khu công nghiệp Lê Minh Xuân có 135 dự án với
số vốn 1.725 tỷ đồng.
Vùng cũng đã hình thành 66 khu - cụm công nghiệp với diện tích 16.423ha chiếm 56,8%
diện tích KCN cả nước và 70,7% diện tích khu công nghiệp của các vùng kinh tế trọng điểm cả
nước. Trong số khu - cụm công nghiệp kể trên có 46khu công nghiệp đã đi vào hoạt động đang
phát huy lợi thế về thu hút vốn đầu tư trong ngoài nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho
trên 600.000 lao động với thu nhập ổn định.
Không chỉ thu hút vốn đầu tư, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy chuyển
dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế toàn vùng, các khu - cụm công nghiệp còn đóng góp 20% giá trị sản
xuất công nghiệp hàng năm của cả nước (khoảng 10 tỷ USD), xuất khẩu hàng năm chiếm 20%
kim ngạch xuất khẩu công nghiệp của cả nước (khoảng 4,5 tỷ USD). Đặc biệt, Vùng kinh tế trọng
điểm miền nam là khu vực có ngành công nghiệp dệt may phát triển nhất cả nước, tập trung chủ
yếu ở các địa phương: TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương…Khu vực này thu hút từ 35-40% nguồn
khẩu.
Nhược điểm:
- Các ngành công nghiệp của vùng phân bố chủ yếu ở các khu đô thị lớn
- Công nghiệp phát triển nhanh nhưng kém bền vững, không đồng bộ, cơ cấu công nghiệp thiếu
hợp lý; tiến trình công nghiệp hóa chưa đi đôi với hiện đại hóa. Trong khi lao động nông thôn
thiếu việc làm nhiều, nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, phải tuyển 70% số công nhân
từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung vào làm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế của vùng cao nhất nước, nhưng khoảng cách giàu, nghèo cũng tăng nhanh nhất
nước. Hơn nữa, mức sống giữa các địa phương trong vùng còn có sự chênh lệch khá cao. Các cụm
công nghiệp nhỏ ở nông thôn hình thành rất chậm. Ðó là biểu hiện rõ nét nhất tình trạng phát triển
thiếu bền vững ở Vùng kinh tế trọng điểm miền nam hiện nay.
- Tuy chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế cả nước, nhưng Vùng kinh tế trọng điểm miền nam vẫn
chưa phát triển đúng tầm. Phát triển còn nặng về số lượng hơn là phát triển theo chiều sâu. Công
nghiệp trong Vùng kinh tế trọng điểm miền nam chỉ là những nhà máy làm công đoạn cuối cùng
như cán thép, lắp ráp ôtô, điện tử, xe máy, may mặc, giày dép, còn công nghiệp phụ trợ (thượng
nguồn) hầu như không phát triển.
- Ngành chế biến lương thực và thực phẩm chủ yếu là sơ chế nên chất lượng và hiệu quả còn thấp,
các ngành sản xuất nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng… còn kém phát triển. Sức cạnh tranh của
các sản phẩm công nghiệp còn thấp, chi phí sản xuất còn cao.
Trang 10
- Song song với sự phát triển của ngành công nghiệp đó là tình trạng môi trường bị ô nhiễm nổi
bật như: Công ty Vedan Việt Nam xả thải ra sông Thị Vải; nước sông Đồng Nai, đoạn từ nhà máy
nước Thiện Tân đến Long Đại, đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, đáng chú ý đã
phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-1995. Tại đây, chất rắn lơ lửng thường vượt
tiêu chuẩn 3 - 9 lần, giá trị COD vượt 1,8 - 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn cho phép
- Mâu thuẫn giữa thiếu lao động có tay nghề và thừa lao động nhập cư vẫn chưa có hướng giải
quyết; đình công trong các khu công nghiệp trong 1 – 2 năm gần đây đang đặt ra nhiều vấn đề bức
xúc.
1.1.2. Nông - lâm - ngư nghiệp:
- Vùng có tiềm năng to lớn, đặc biệt về cây trồng, đánh bắt thủy, hải sản, chăn nuôi gia súc. Là
-Các tỉnh trong vùng đều coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề chiến lược của mình để thực
hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển vùng và đặc thù phát triển của các tỉnh trong vùng. Do đó
đều chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn trong quá trình thực hiện chính sách công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đã xuất hiện một số vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có
mối quan hệ liên kết với công nghiệp và xuất khẩu. Nông nghiệp trong vùng vẫn tăng trưởng khá,
bảo đảm cung cấp hàng nông sản cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
- Ngoài việc đã hình thành các vùng cây công nghiệp dài ngày ổn định và đạt mục tiêu quy hoạch
như: Cao su, chè, điều, thì cây hàng năm luôn được thay đổi phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Phương thức canh tác theo hướng thâm, phát triển mạnh cây ngô, kết hợp trồng sắn, đậu tương,
lạc. Phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và khai thác hải sản.
Nhược điểm:
- Sản xuất nông nghiệp: của vùng chưa dựa trên nền tảng công nghệ sinh học về giống và công
nghệ chế biến, bảo quản tiên tiến… nên năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm so với các
nước trong khu vực chưa cao (nhất là so với Thái Lan), sức cạnh tranh không cao; thất thoát sau
thu hoạch còn lớn.
- Do tốc độ phát triển công nghiệp, tốc độ phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng nhanh làm cho đất
nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể.
- Khí hậu thay đổi dẫn đến mực nước biển lấn chiếm làm cho đất bị nhiễm mặn.
- Cơ cấu ngành chăn nuôi còn chiếm tỷ lệ thấp.
- Do không khắc phục được nạn cháy rừng nên diện tích rừng bị giảm nhanh chóng trong những
năm gần đây.
1.1.3. Ngành dịch vụ:
Trang 12
Là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bởi vậy trong vùng đã hình thành các điểm du
lịch ý nghĩa như: hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau, du lịch trên đảo Phú Quốc, và hàng loạt
các điểm du lịch khác như bảo tàng Long An, Sông Vàm Cỏ, Từ các điểm du lich trên đã hình
thành các cụm du lịch: Cụm du lịch Cần Thơ, Cum du lịch Tiền Giang,
phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng.
Hệ thống giáo dục phát triển tốt, đa dạng các ngành học từ bậc giáo dục mầm non, phổ thông đến
cao đẳng, đại học.Là vùng tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nhất là các trường cao đẳng, đại học (có
Hệ thống đô thị:bao gồm 8 thành phố, 17 thị xã, 139 thị trấn trong đó có các thành phố lớn nổi bật
đó là thành phố Hồ Chí Minh, TP Biên Hòa, TP vũng Tàu và TP Cần Thơ là các trung tâm kinh
tế, văn hóa, chính trị trọng điểm của vùng ngoài ra còn có các thành phố và thị xã khác như: Đồng
Nai, Bình Dương, Bình Phước, An Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, đã và đang phát triển là các trung
tâm kinh tế của vùng.
Hệ thống giao thông vận tải:
Hệ thống giao thông vận tải của vùng khá thuận lợi so với các vùng khác, dễ dàng cho giao lưu
trong nội vùng, với vùng khác và quốc tế.
Các tuyến đường bộ bao gồm: Quốc lộ 1A, quốc lộ 22, QL 13, 14,20,30,50,51,53,54,60 Ngoài
ra còn có các tuyến đường tỉnh lộ, đường liên xã và đường đô thị.
Hệ thống đường sắt bao gồm tuyến Thống Nhất, Tuyến Hồ Chí Minh - Lộc Ninh
Đường sông - kênh - rạch tạo thành một mạng lưới liên kết các tỉnh với nhau với hệ thống kênh
rạch chặt chịt. Hệ thống đường sông với cảng sông ở thành phố Hồ Chí Minh, ở Biên Hòa và trải
khắp mạng lưới các tuyến đường thủy như cảng Mỹ Tho, Cao Lãnh, Trà Nóc, Long Xuyên,
Đường biển với các cảng Biển (cảng Sài Gòn) và các tuyến đường biển đi các vùng trong nước:
Bến Thủy, Cần Thơ, Rạch Giá, Hà Tiên , và quốc tế: Hồng Kong, Tokyo, Băng Cốc,
Hệ thống đường hàng không: Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, sân bay Vũng Tàu, sân bay Trà Nóc
(Cần Thơ), Rạch Giá và Phú Quốc đang được khai thác.
2 Định hướng phát triển:
Phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trên cơ sở khai thác nguồn lực và phát huy
những tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng của vùng
nhằm xây dựng vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ trở thành một trong những vùng phát triển kinh
tế năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, thực sự là vùng kinh tế động lực của
cả nước, giữ vai trò quyết định đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Đi đầu trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước và trong một số lĩnh vực quan trọng, góp
Trang 14
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạch tranh quốc tế, đi đầu trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế, tạo động lực cho quá trình phát triển của vùng Đông Nam bộ.
2.1 Một số mục tiêu phát triển chủ yếu:
2.1.1. Về kinh tế:
thế so sánh của nhau, tăng cường hợp tác bình đẳng lâu dài và cạnh tranh lành mạnh cùng có lợi,
tránh tình trạng mỗi địa phương làm theo một cách riêng của mình, dẫn tới lãng phí nguồn lực,
đầu tư chồng chéo, hiệu quả kém, nghiêm trọng hơn là chính các địa phương triệt tiêu nỗ lực của
nhau. Cần nâng cao chất lượng cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu từng ngành nói riêng, hướng
tới phát triển theo chiều sâu. Chỉ có như vậy mới bảo đảm tốc độ phát triển nhanh, bền vững.
- Sớm hình thành các cụm công nghiệp nông thôn thúc đẩy sự phân công lao động trên địa bàn.
- Ưu tiên phát triển những ngành mũi nhọn có hàm lượng công nghệ cao (công nghệ tin học, viễn
thông, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vi sinh) công nghiệp sạch và công nghiệp cơ bản làm
nền tảng cho sự phát triển chung và hội nhập quốc tế, làm hạt nhân thúc đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH của vùng và các vùng lân cận; Phát triển các ngành công nghiệp bổ trợ tăng tỷ lệ nội
địa hóa gắn với các ngành sản xuất linh kiện, phụ liệu, sửa chữa, bảo dưỡng…. Phát huy vai trò
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có hướng đi ngay vào công nghệ hiện đại đi đôi với bảo vệ môi
trường.
- Đẩy mạnh phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực như: khai thác dầu khí; điện tử và công
nghiệp sản xuất phần mềm; sản xuất điện, phân bón, hóa chất từ dầu khí, cơ khí chế tạo; chế biến
nông – lâm – thủy sản – thực phẩm; phát triển ngành công nghiệp dệt may – giày da – nhựa; công
nghiệp vật liệu xây dựng. Tăng tỷ trọng công nghiệp chế tác.
- Phát triển các ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật cao tại thành phố Hồ Chí Minh; hình thành
các khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương qua Biên Hòa, chạy dọc đường 51
tới Bà Rịa - Vũng Tàu, liên kết thành mạng lưới các khu công nghiệp.
- Ngành công nghiệp hướng vào sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao và trang thiết bị các
ngành kinh tế của vùng và của các nước. Một số ngành công nghiệp then chốt của vùng là: dầu
khí, công nghiệp điện tử, cơ khí, tin học, luyện thép, hóa chất, dêt. May, da giày, giấy, nhựa,
sành sứ, thủy tinh, chế biến thực phẩm.
- Công nghiệp phải là lĩnh vực trọng yếu, tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, phấn đấu tăng tốc độ phát triển để đạt tỷ trọng 50,4% GDP.
- Điều chỉnh lại hướng phân bố công nghiệp trên địa bàn, trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên và
dư địa của các tỉnh chưa phát triển như Long An, Tiền Giang, Bình Phước, Tây Ninh (có mật độ
Trang 16
sản xuất công nghiệp chưa tập trung cao), phù hợp với đặc điểm của từng lĩnh vực sản xuất công
Trang 17
2.2.3. Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp:
- Về nông nghiệp: từng bước khai thác diện tích đất hoang hóa để sản xuất nông nghiệp. Đẩy
mạnh thâm canh, mở rộng các vùng chuyên canh trên các vùng đất thích hợp để tăng khối lượng
sản phẩm hàng hóa. Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cùng với các chính sách, cơ
chế thích hợp để thúc đẩy sản xuất. Đồng thời có kế hoạch, biện pháp phòng chống thiên tai, bão
lụt.
- Phát triển lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc (tập trung ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng
Nai); tăng nhanh và sớm ổn định rừng phòng hộ ven biển, đặc biệt diện tích rừng ngập mặn của
huyện Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh và ven theo biển của Bà Rịa - Vũng Tàu, chú trọng rừng
nguyên liệu giấy, rừng quốc gia và rừng đầu nguồn Trị An.
- Phát triển thủy sản và hải sản trên các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ,
hậu cần tiêu thụ trong dân. Nâng cao năng lực khai thác biển, tăng cường đánh bắt thủy sản xa bờ,
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Đầu tư chiều sâu để nâng cấp các
cơ sở dịch vụ phục vụ nghề cá phát triển. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư thúc đẩy
ngành thủy hải sản phát triển.
2.2.4. Phát triển kết cấu hạ tầng:
- Hoàn thiện và bước đầu hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng là nhiệm vụ cần ưu tiên và đi
trước một bước. Xây dựng nhanh các tuyến giao thông huyết mạch trục quốc lộ 51, quốc lộ 13,
quốc lộ 22 tuyến đường xuyên Á, nhanh chóng cải thiện giao thông đô thị, nâng cấp sân bay Tân
Sơn Nhất, đồng thời chuẩn bị điều kiện xây dựng sân bay quốc tế mới cho toàn vùng sau khi sân
bay Tân Sơn Nhất đã quá tải.
- Nhanh chóng nâng cấp cụm cảng Sài Gòn, nâng cấp và xây dựng mới cụm cảng Thị Vải, cảng
Sao Mai - Bến Đình, các cảng sông hiện có.
- Cải tạo ga đường sắt thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng các tuyến đường sắt từ thành phố Hồ
Chí Minh đi Vũng Tàu, Phnông Pênh, Tây Nam bộ và đi Tây Nguyên.
- Nâng cấp, xây dựng mới mạng lưới điện tương ứng nguồn điện, đáp ứng yêu cầu sản xuất và
phục vụ đời sống nhân dân.
- Hiện đại hóa mạng lưới thông tin liên lạc, mở rộng thông tin di động, mạng lưới truyền số
liệu, bưu chính, thông tin duyên hải, phủ sóng phát thanh, truyền hình toàn địa bàn.
phù hợp với quy hoạch phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trang 19
Ba là, mở rộng hợp tác giữa các tỉnh ĐBSCL với vùng ĐNB, giữa thành phố Hồ Chí Minh với các
tỉnh khác trong vùng TĐPN để phát huy tối đa và có hiệu quả các tiềm năng của từng tỉnh trong
vùng.
Tăng cường hợp tác liên vùng thông qua các chương trình hợp tác và phối hợp phát triển liên
vùng. Có biện pháp khuyến khích thu hút vốn của các doanh nghiệp từ thành phố Hồ Chí Minh và
Đông nam bộ cũng như các vùng khác nhằm ưu tiên phát triển các sản phẩm chủ lực, du lịch có
lợi thế của từng vùng.
Tăng cường hợp tác trong xúc tiến đầu tư để thu hút FDI và các nguồn vốn thông qua các doanh
nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm miền nam phía Nam vào đầu tư phát triển nông nghiệp, thủy
sản, công nghiệp chế biến, công nghiệp khí – điện – đạm, sản xuất hàng tiêu dùng ở vùng đồng
bằng song cửu long. Mở rộng hợp tác trong phát triển công nghiệp, đào tạo, y tế, du lịch, nghiên
cứu khoa học – công nghệ và cung cấp lao động.
Bốn là, phối hợp trong xây dựng, thực hiện quy hoạch và kế hoạch phát triển; thực hiện cơ chế
chính sách tài chính, đầu tư.
Các tỉnh trong vùng cần phối hợp trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển; thông báo cho
nhau qua các mạng thông tin, hội nghị giao ban vùng; phối hợp thực hiện các cơ chế chính sách
ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và thông qua trao đổi, cung cấp thông tin để thống nhất trong quy chế phối
hợp trên các lĩnh vực như (1). Hỗ trợ và hợp tác đầu tư cơ sở hạ tầng, trong mức hỗ trợ vốn cho
doanh nghiệp, hỗ trợ dự án; (2). Hỗ trợ xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại; (3). Hỗ trợ kinh
phí triển lãm, hội chợ thương mại, quản lý du lịch; (4). Đơn giản hóa các thủ tục hành chính.
Năm là, Tiếp tục đầu tư có trọng điểm, ứng dụng khoa học và công nghệ cao, các công nghệ mới
trong các ngành sản xuất và dịch vụ.
Sáu là, đầu tư phát triển hài hòa kết giữa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Rà soát và có chế tài theo dõi việc thực hiện các quy hoạch đô thị, quy hoạch khu công nghiệp
trong vùng; chú trọng xã hội hóa, huy động các thành phần kinh tế tham gia xây dựng kết cấu hạ
tầng xã hội. Tiếp tục đồng bộ hóa kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt hạ tầng giao thông, giải quyết
căn bản tình trạng tắc nghẽn tại thành phố Hồ Chí Minh và ưu tiên giải quyết trước hết các điểm
nút chính, tiếp tục những giải pháp giải tỏa tập trung mật độ cao tại các đô thị trung tâm. Rà soát