Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá của nhân loại, hoạt động
kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan trọng đặc
biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta. Từ khi gia nhập
WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do tiếp cận thị
trường quốc tế rộng lớn với 148 thành viên, và vị thế thị trường ngang nhau với
tất cả các quốc gia đó. Với tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thương
mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và
phát triển. Song, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa
người mua và người bán càng trở nên đa dạng và phức tạp. Việc thực hiện đẩy
mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt đã đạt được nhiều kết quả khả
quan.Tuy nhiên đây là nghiệp vụ đa dạng, phức tạp, nhất là trong thời đại kinh tế
thông tin và kinh tế tri thức đang dần chiếm ưu thế nên nó còn có nhiều tồn tại
cần phải sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm mang lại hiệu quả ngày càng cao hơn.
Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung (Seaprodex Đà Nẵng) là công ty
cổ phần hóa, là đơn vị xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm thuỷ sản ở dạng đông lạnh.
Thị trường của công ty khá đa dạng với thị trường chính là Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU.
Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang có những chuyển biến với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của các khoa học công nghệ và sự hội
nhập của nền kinh tế thế giới, công ty cần phải có những bước đi mới để tận dụng
cơ hội kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Trong
quá trình học tập và nghiên cứu trên thực tế tại Seaprodex Đà Nẵng, nhận thức
được tầm quan trọng của việc thanh toán quốc tế, em đã chọn đề tài :
“Một số biện pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán xuất khẩu theo
phương thức tín dụng chứng từ tại Seaprodex Đà Nẵng ”.
Nội dung chuyên đề gồm có 3 phần :
Phần I : Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán theo phương thức tín dụng
chứng từ.
Phần II : Tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng rủi ro trong thanh
toán theo phương thức tín dụng chứng từ tại Seaprodex.
1.1. Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phương thức Tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức thanh toán, trong đó
theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là
thư tín dụng- letter of credit) cam kết trả một số tiền nhất định cho người thụ
hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó
nếu người này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng.
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp
dụng trong nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của
nhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng.
Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ
trả tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy định
trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để thanh toán.
Thuật ngữ “tín dụng- credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là “tín
nhiệm”, chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường.
Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100%
giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng
nào, mà chỉ cho người nhập khẩu “vay” sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong
trường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ, thì một khoản tín dụng thực sự chỉ
có thể xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu
và ghi nợ nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức
TDCT chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của ngân
hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn
nhà nhập khẩu.
Như vậy, trong phương thức TDCT, ngân hàng không chỉ là người trung gian
thu hộ, chi hộ, mà còn là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
cho nhà xuất khẩu, bảo đảm cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng
với hàng hoá mà họ đã cung ứng. Đồng thời, ngân hàng còn là người đảm bảo cho
Ngân hàng thông báo
(Advising bank)
Người yêu cầu
(Applicant)
Người hưởng lợi
(Beneficiary)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
(4) Người hưởng lợi sau khi kiểm tra nội dung L/C, nếu cần thiết có thể đề
nghị đối tác tiến hành thủ tục tu chỉnh L/C, cho đến khi chấp nhận toàn bộ nội
dung của L/C thì mới thực hiện L/C (giao hàng hoặc thực hiện một nghĩa vụ nào
đó theo L/C)
(5) Sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ theo L/C (chẳng hạn sau khi hoàn
thành việc giao hàng), người hưởng lợi sẽ lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu
cầu của L/C và xuất trình lên ngân hàng chỉ định thường là ngân hàng đã thông
báo L/C)
(6) Ngân hàng chỉ định chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phát hành L/C
(trường hợp này L/C không được thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu tại ngân
hàng chỉ định).
(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán được xuất trình,
nếu chấp nhận sự phù hợp của chứng từ thì sẽ tiến hành thanh toán cho người
xuất trình (trường hợp trả ngay) hoặc cam kết trả chậm, hoặc chấp nhận hối
phiếu và trả tiền khi đáo hạn. Nếu chứng từ không phù hợp có thể từ chối không
thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo L/C.
(8) Ngân hàng thông báo chuyển tiền hoặc hối phiếu được chấp nhận hoặc
thông báo về tình trạng chứng từ cho người hưởng lợi.
(9) Ngân hàng phát hành yêu cầu người đề nghị mở L/C thanh toán hoặc nhận
nợ để được nhận bộ chứng từ gốc.
(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu đồng ý sẽ thực hiện đề nghị
của ngân hàng phát hành để được nhận bộ chứng từ gốc.
Quy trình trên chỉ có tính tổng quát, tùy thuộc vào nội dung của L/C, tình
nhận loại thư tín dụng cần mở.
(5) Tên và địa chỉ các bên liên quan đến L/C gồm : người yêu cầu mở L/C,
ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận và người hưởng
lợi L/C.
(6) Đồng tiền và giá trị thanh toán của L/C : Số tiền của L/C vừa ghi
bằng số, vừa ghi bằng chữ và thống nhất với nhau họăc có thể chỉ cần số tiền
bằng số. Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng. Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi
một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được. Những từ “khoảng
chừng, độ khoảng hoặc những từ ngữ tương tự được dùng để chỉ biên độ số
tiền của L/C cho phép xê dịch hơn kém không quá 10% của tổng số tiền đó.
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
(7) Thời hạn hiệu lực(Expiry date) : là thời hạn mà ngân hàng mở L/C
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuất trình bộ
chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với L/C.
(8) Thời hạn trả tiền của L/C (Latest payment date) : là thời hạn trả
tiền ngay hay trả tiền về sau. Điều này có thể nhận dạng ở hối phiếu của
người xuất khẩu ký phát. Thời hạn về giao hàng cũng được ghi trong L/C và
do hợp đồng mua bán quy định như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng
có thể có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
(9) Thời hạn giao hàng (shipment date) : là thời hạn quy định bên bán
phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực.
(10) Những nội dung về hàng hoá (Description of goods) : tên hàng, số
lượng, trọng lượng (có cả sai lệch cho phép) , giá cả, quy cách phẩm chất,
bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi vào thư tín dụng.
(11) Những nội dung về vận tải (Shipment term) : giao nhận hàng hoá như
điều kiện có sở giao hàng, nơi gửi, giao hàng từng phần nơi giao hàng cũng
được ghi vào thư tín dụng.
(12) Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents for
payment): là nội dung then chốt của thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy định
tín dụng chứng từ mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt
trong ngoại thương.
1.4. Một số loại L/C trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1.4.1. Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C):Là một L/C mà
ngân hàng phát hành có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà
không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Như vậy, nếu không có sự nhất
trí của người xuất khẩu, của ngân hàng xác nhận (nếu có) thì ngân hàng mở
không được phép thực hiện theo yêu cầu của bên nhập khẩu thay đổi L/C. Do đó
quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn.
Tín dụng không thể huỷ ngang tuy ít linh hoạt nhưng khá an toàn và có
thể cân bằng được quyền lợi của các bên tham gia nên nó được sử dụng rộng rãi
trong thương mại quốc tế ngày nay. Tuy nhiên, rủi ro cũng vẫn có thể xảy ra khi
ngân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, người xuất khẩu sẽ không thu được
tiền và trong khi người nhập khẩu đã thanh toán. Loại này ít được sử dụng, bởi
vì nó là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết.
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
1.4. 2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): là loại L/C
sau khi mở ra và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng mở L/C không được
sửa đổi, bổ sung trong thời hạn hiệu lực của nó. Loại này đảm bảo quyền lợi
cho bên xuất khẩu và hiện nay đang được sử dụng phổ biến.
1.4. 3. Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (confirmed
irrevocable letter of credit): là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một ngân
hàng xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C. Nguyên
nhân phát sinh loại L/C này là vì người hưởng lợi không tin tưởng vào khả năng
thanh toán của ngân hàng mở L/C. Tuy đây là loại L/C tạo cho người bán một sự
đảm bảo hai lần trong việc sẽ được thanh toán tiền hàng - vậy là rất an toàn -
nhưng nó lại thường không nhận được sự hưởng ứng nhiều của ngân hàng mở
L/C do nó gián tiếp làm giảm uy tín của họ. Đôi khi việc thoả thuận lựa chọn
ngân hàng xác nhận cũng gây chậm chễ, khó khăn với các bên liên quan: bên bán
người mua , người bán của nhau
1.4.8. Thư tín dụng ứng trước (packing L/C):Là loại L/C mà trong đó
quy định một khoản tiền ứng trước cho người xuất khẩu vào một thời điểm xác
định trước khi bộ chứng từ hàng hóa được xuất trình. Đối với khoản ứng trước
này, người ta quy định trong một điều khoản đặc biệt, nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các bên liên quan trong L/C.
1.4.9. Thư tín dụng dự phòng (Standby letter of Credit SBLC)
+L/C dự phòng là một tín dụng chứng từ hay là dàn xếp tương tự, thể hiện
nghĩa vụ của ngân hàng phát hành tới người thụ hưởng trong việc:
+Thanh toán lại khoản tiền mà người yêu cầu mở L/C dự phòng đã vay hoặc
được ứng trước.
+Thanh toán khoản nợ của người mở L/C dự phòng.
+Bồi thường những thiệt hại do người mở L/C dự phòng không thực hiện
nghĩa vụ của mình.
1.4.10. L/C có thể chuyển nhượng (Transferable Letter of Credit)
+Người thụ hưởng trong L/C chuyển nhượng có quyền yêu cầu ngân hàng của
mình chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ tín dụng cho người thụ hưởng khác.
+ Các chứng từ trong L/C chuyển nhượng nên được yêu cầu để có thể được
sử dụng theo như L/C gốc.
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
+Người thụ hưởng trung gian có quyền thay thế hóa đơn của L/C chuyển
nhượng bằng hóa đơn của mình.
1.5. UCP - Văn bản pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức TDCT
Khi thanh toán bằng phương thức TDCT, các bên xuất nhập khẩu phải thoả thuận
với nhau về việc sử dụng UCP (The Uniform Customs and Practice for Documentary
credit). UCP là bản quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do
Phòng thương mại quốc tế (ICC) tại Pari công bố lần đầu tiên vào năm 1933. Từ đó
đến nay UCP đã qua 5 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1951, 1962, 1974, 1983,
1994. UCP đã được hơn 175 nước áp dụng trong đó có Việt Nam. Khác với luật quốc
Để đối phó với các loại rủi ro không lường trước được đó, con người đã cố
gắng tìm kiếm mọi phương cách để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Từ biện pháp
không thực hiện những việc làm quá mạo hiểm, chú ý đến những quy tắc về an
toàn lao động, các chuẩn mực trong kinh tế thậm chí lập ra những quỹ dự
phòng để dự trữ một khoản tiền nào đó nhằm bù đắp những rủi ro có thể gặp
phải. Tất cả những hành động đó nhằm một mục đích duy nhất là cố gắng hạn
chế đến mức tối đa và phòng tránh các loại rủi ro để mọi quá trình sản xuất, kinh
doanh được diễn ra tốt đẹp.
Trong thanh toán quốc tế cũng vậy, tuy là hoạt động mang đến cho hoạt động
thương mại nhiều lợi ích, nhưng có thể nói lợi ích đó đồng hành với rủi ro. Người
ta định nghĩa rủi ro trong thanh toán quốc tế là :
Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những hiện tượng khách quan có liên quan
và làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế. Nó do
các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia quan hệ thanh toán
quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các
tác nhân trung gian ) hoặc do các nhân tố khách quan khác gây nên. Con người
có thể nhận biết được các hiện tượng khách quan đó, song không thể lượng hóa
các hiện tượng đó xảy ra vào lúc nào? ở đâu? và mức độ thiệt hại thực sự đến
thanh toán quốc tế.
2.1.2. Phân loại
2.1.2.1. Rủi ro kỹ thuật
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy trình
thanh toán L/C, thường do các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy
trình nghiệp vụ thanh toán.
a. Rủi ro đối với người xuất khẩu
Như ta đã biết, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng
phát hành đứng ra cam kết thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ
chứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng theo quy định
sai sót mà có thể sửa chữa được thì việc sửa chữa sẽ làm chậm quá trình thanh
toán. Nếu sai sót không thể sửa chữa thì bộ chứng từ không được chiết khấu hoặc
chấp nhận mà phải đợi ý kiến của ngân hàng mở và người mua để giải quyết.
Như vậy, quá trình thanh toán sẽ bị kéo dài làm cho người bán không thể thu hồi
vốn nhanh được. Hơn nữa, người mua và ngân hàng mở có thể dựa vào những sai
biệt rất nhỏ của chứng từ để từ chối thanh toán trong khi đó hàng hoá đã được
gửi đi. Nhà xuất khẩu sẽ chịu thiệt hại khi phải bán giảm giá hàng hoá hoặc tìm
khách hàng khác để tiêu thụ và cùng với nó là một các chi phí như phí đền bù,
cước lưu kho và các phí tổn phát sinh khác.
Một rủi ro kỹ thuật nữa là việc người bán phạm phải các sai lầm khi tiến hành
giao hàng như việc vi phạm thời hạn thanh toán thư tín dụng, giao hàng muộn,
xuất trình chứng từ muộn Nếu việc xuất trình chứng từ thể hiện sự vi phạm một
trong các thời hạn nói trên cũng sẽ bị từ chối thanh toán.
b. Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro lớn nhất đối với người nhập khẩu là việc nhận hành hoá không đúng
với hợp đồng mua bán. Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do bị lợi dụng tính độc lập
giữa L/C và hợp đồng thương mại. Việc thanh toán giữa ngân hàng hai bên mua
bán chỉ thực hiện trên cơ sở bộ chứng từ đã giao hàng xuất trình phù hợp với quy
định của L/C tức là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm về sự khớp đúng trên bề mặt
giữa bộ chứng từ thanh toán với L/C chứ không chịu trách nhiệm về tính chân
thực của chứng từ và tình hình thực tế giao hàng. Do vậy, người mua sẽ phải chịu
rủi ro khi tiền hàng đã trả theo bộ chứng từ xuất trình cho ngân hàng đều phù hợp
cả về số lượng, chất lượng nhưng thực tế thì hàng hoá nhận được lại không
đúng với mong muốn, không giống như trong hợp đồng thương mại mà trước đó
hai bên đã thoả thuận.
c. Rủi ro đối với ngân hàng
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Trong nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng đóng vai trò quan
trọng không thể thiếu. Vì vậy, cũng giống như khách hàng của mình, với vị trí
văn bản pháp luật điều chỉnh đã được dẫn chiếu trong L/C như UCP 600 và
Incoterms 2000.
- Rủi ro khi kiểm tra bộ chứng từ đến và khi thanh toán.
Có thể nói đây là nghiệp vụ "vạch lá tìm sâu" của ngân hàng mở nhằm phát
hiện những sai sót, những điểm không phù hợp của bộ chứng từ so với nội dung
và bề mặt của L/C đã mở. Rủi ro cho ngân hàng sẽ xảy ra khôn lường nếu ngân
hàng không kiểm tra kỹ bộ chứng từ mà vẫn thực hiện thanh toán hoặc chấp nhận
thanh toán. Bởi lẽ từ trước đến nay đã có những bộ chứng từ giả, đặc biệt là B/L
giả nhằm mục đích lừa đảo hoặc rửa tiền, cũng có trường hợp ghi "theo lệnh" (to
order ) không đúng tên người nhận, làm cho việc nhận hàng bị chậm trễ, tăng
chi phí lưu kho bãi, gây thiệt hại không chỉ cho khách hàng mà cả cho ngân hàng
mở nếu lô hàng đó ngân hàng cho vay thanh toán. Nhằm hạn chế phần nào các
trường hợp trên, các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng thương mại khi mở
L/C nhập khẩu nên quy định thêm điều khoản: Gửi lên tàu ngay sau khi giao
hàng một bản sao bộ chứng từ cho người mở L/C, nhằm mục đích để cho người
mở kiểm tra trước, nếu có sai sót thì kịp thời tu chỉnh sửa đổi, đồng thời có tác
dụng tăng thêm độ tin cậy rằng hàng đã được bốc xếp lên tàu.
Sau khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng cũng có thể vấp phải một số rủi ro kỹ
thuật như không tuân thủ UCP, ví dụ: chuyển giao bộ chứng từ không phù hợp
cho người mở đi nhận hàng, hoặc làm mất không trả lại chứng từ cho phía xuất
trình nguyên vẹn như khi nó nhận được, hoặc không giao chứng từ đó cho bên
thứ ba do phía xuất trình chỉ định.
Chúng ta đều biết rằng bằng việc đồng ý mở L/C, ngân hàng mở cam kết thay
mặt người mua thanh toán cho người xuất khẩu nếu anh ta thực hiện đúng như
quy định của L/C. Chính vì tính thay mặt cho người mua đã làm xuất hiện khả
năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng mở. Đó là rủi ro không đòi được tiền từ phía
nhà nhập khẩu do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.
Đây chính là rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở. Nguyên nhân
có thể là do ngân hàng không tiến hành thẩm định khi doanh nghiệp lần đầu tiên
đến quan hệ mở L/C thậm chí ngân hàng có tiến hành thẩm định nhưng không
được tiền hoặc thu chậm là do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, thậm chí từ
chối thanh toán thông qua việc "bới bèo ra bọ" trong việc kiểm tra chứng từ của
ngân hàng mở. Lý do để người nhập khẩu trì hoãn chủ yếu là do gặp khó khăn
trong thanh toán hoặc cũng có thể do bên mua không tin tưởng bên bán vì hay giao
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
hàng trễ, giao hàng kém chất lượng. Mục đích của người mua là muốn hàng thật sự
về cảng, nhìn thấy hàng rồi mới trả tiền. Để trì hoãn thanh toán, họ sẽ yêu cầu ngân
hàng mở thông báo những sai biệt của chứng từ trong vòng 5 ngày làm việc để
dành quyền được từ chối thanh toán sau này. Đối với ngân hàng chiết khấu, thời
gian trì hoãn thanh toán càng dài, ngân hàng bị chiếm dụng vốn càng lâu.
2.1.2.2. Rủi ro đạo đức
Mặc dù trong phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi
bên tham gia được quy định rõ ràng, song không phải lúc nào nguyên tắc đó cũng
được tôn trọng. Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình
không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các
bên còn lại.
Về phía người xuất khẩu, họ có thể lợi dụng về tính độc lập giữa bộ chứng từ thanh
toán và tình hình giao hàng thực tế để lập ra những bộ chứng từ giả mạo phù hợp với
L/C nhằm đòi tiền hàng. Về phía người nhập khẩu, họ có thể không hoặc kéo dài thời
gian đi nhận chứng từ và trả tiền khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng do cơ hội
kinh doanh đã mất hay do các mối hàng khác hoặc tình hình trên thị trường hàng hoá có
những biến động bất lợi. Đặc biệt khi vay ngân hàng để mở L/C, họ có thể sử dụng số
tiền bán hàng vào mục đích khác, kinh doanh quay vòng thay vì thanh toán cho ngân
hàng ngay như là một hình thức chiếm dụng vốn của ngân hàng.
Đặc biệt các ngân hàng mở cũng có thể vi phạm cam kết của mình như đứng
về phía người nhập khẩu từ chối hoặc trì hoãn thanh toán cho người xuất khẩu.
Đó là chưa kể tới không ít trường hợp cán bộ ngân hàng và khách hàng thông
đồng với nhau cố tình vi phạm quy trình thanh toán của ngân hàng nhằm chiếm
dụng vốn của ngân hàng và bạn hàng.
quan trong quá trình thanh toán.
Tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng
kinh tế của nhiều quốc gia, thanh toán quốc tế mà chủ yếu là phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế - chính
trị - xã hội của các quốc gia. Một khi các yếu tố trên biến động dù là nhỏ cũng sẽ
ảnh hưởng tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán.
Rủi ro chính trị thường gặp nhất là rủi ro do thay đổi môi trường pháp lý đặc biệt ở
những nước có hệ thống pháp luật chưa ổn định, thường xuyên có sửa chữa bổ sung.
Những rủi ro pháp lý thường liên quan đến việc thay đối các quy định về dự trữ, thuế
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
hay việc ban hành các quy định cản trở hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực thanh
toán quốc tế. Trong thực tế, những thay đổi này thường khiến các bên xuất nhập khẩu
và ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình, làm cho L/C bị huỷ bỏ, gây thiệt hại
cho các bên. Sự phong toả kinh tế của các quốc gia vì mục đích chính trị như trường
hợp CuBa. Iraq hay Việt Nam trước đây cũng mang lại những rủi ro tương tự.
Bên cạnh đó, các cuộc nổi loạn, biểu tình, bạo động hay chiến tranh, đảo chính,
đình công cũng có thể gây ra rủi ro cho quá trình thanh toán như mất chứng từ, hàng
hoá bị mất mát, hư hỏng, ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngừng hoạt động.
Những biểu hiện bất lợi của các yếu tố kinh tế - chính trị còn được nhân lên gấp
nhiều lần khi nó ảnh hưởng đến sự ổn định giá trị đồng tiền. Vì phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ thường liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau với đồng tiền
khác nhau nên rủi ro do thay đổi tỷ giá cũng là một rủi ro rất lớn tuy không xuất phát
từ quá trình thanh toán. Một ngân hàng có thể bị thiệt hại khi cho khách hàng vay để
mở L/C hoặc chiết khấu chứng từ khi tỷ giá thay đổi. Trong các giao dịch, người ta
thường dùng các ngoại tệ mạnh hơn để làm đơn vị tiền tệ, mà chủ yếu là USD.
Thông thường, ngân hàng cho khách hàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C, và có thể
phải mua ngoại tệ này ở nơi khác. Khi người mua trả tiền cho ngân hàng, nếu tỷ giá
tăng thì ngân hàng thu được một khoản chênh lệch tỷ giá bổ sung. Ngược lại, nếu tỷ
Vào đầu những năm 1980, trong bối cảnh nhà nước thử nghiệm cơ chế mới
“tự cân đối – tự trang trải”, cùng với nhu cầu khách quan về phát triển kinh tế
thủy sản khu vực Miền Trung, ngày 26 tháng 2 năm 1983, Chi nhánh xuất khẩu
thủy sản Đà Nẵng, tiền thân của Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Miền Trung
được thành lập thay thế cho trạm tiếp nhận thủy sản Đà Nẵng, xây dựng một mô
hình làm ăn mới.
Công ty Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Miền Trung được thành lập theo quyết
định số 242/TS-QĐ ngày 31/3/1993 của Bộ Thuỷ Sản, là Doanh nghiệp nhà nước
hoạch toán độc lập, đơn vị thành viên của Tổng Công ty Thuỷ sản Việt Nam
(Seaprodex Việt Nam), được nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt
động kinh doanh về thuỷ sản, phục vụ sản xuất kinh doanh thuỷ sản và các nghề
khác theo qui định của pháp luật. Công ty có quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng Công ty Thuỷ
sản Việt Nam.
Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của Công ty là gắn thương mại với sản
xuất, gắn kinh tế với chính trị xã hội, không ngừng tạo thế và lực cho mình mà
nội dung cơ bản là tạo vốn, tạo cơ sở vật chất, tạo uy tín, xây dựng một đội ngũ
quản lý, cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật và công nhân lành nghề tận tâm, tận lực vì sự
phát triển của Công ty, linh hoạt thích nghi, đảm bảo hài hoà lợi ích.
Hiện nay, Công ty đã cổ phần hóa: căn cứ điều 3 nghị định 187/2004 của
Chính phủ về việc chuyển Công ty nhà nước thành Công ty cổ phần (hình thức
cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước). Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh,
kế hoạch đầu tư sau khi cổ phần hóa, hình thức cổ phần hóa công ty xuất nhập
khẩu thuỷ sản Miền Trung là giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghệp,
phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn và có tên đầy đủ sau khi cổ phần
hóa như sau:
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thuỷ Sản Miền Trung
(Seaprodex Danang)
trung tâm phát triển và đầu tư trong và ngoài nước.
Trong suốt quá trình hoạt động toàn Công ty không ngừng phấn đấu vươn lên
để khắc phục những khó khăn này đến khó khăn khác, tự hoàn thiện bản thân
mỗi cán bộ nhân viên từng bước đưa Công ty vượt qua hết khó khăn. Điều này
minh chứng là doanh số của Công ty ngày càng cao, thị trường ngày càng mở
rộng, đội ngũ lao động ngày càng đông đủ, chất lượng ngày càng cao, đóng góp
cho nhà nước qua nghĩa vụ đóng thuế, các hoạt động xã hội ngày càng nhiều hơn,
tiếp tục là thành viên nòng cốt, vững mạnh của Công ty xuất khẩu thuỷ sản Việt
nam tại khu vực miền Trung. Quá trình phát triển của Công ty được chia làm 3
giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1983-1988: Là giai đoạn hình thành, ổn định. Công ty hoạt động
theo mô hình tổ chức quản lý tập, chỉ đạo trực tuyến. Công ty đã vận dụng, phát
huy linh hoạt cơ chế “ tự cân đối- tự trang trải “, góp phần vực dậy và khích lệ
ngành kinh tế thuỷ sản toàn khu vực vượt qua khủng hoảng, tạo tiền đề để phát
triển. Kim ngạch xuất khẩu đạt 31,39 triệu USD, giá trị chế biến thuỷ sản đạt
0,77 triệu USD với 2 nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
- Giai đoạn 1989- 1997: Là giai đoạn hội nhập nền kinh tế thị trường, Công
ty chuyển đối sang mô hình phân cấp tự chủ đến các đơn vị thành viên, điều hành
các đơn vị thành viên bằng các quy chế và theo định hướng phát triển thống nhất
toàn Công ty, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra các đơn vị kinh doanh và
tài chính tại các đơn vị thành viên.
Trong giai đoạn này, Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, đa
ngành, trong đó lấy hoạt động xuất nhập khẩu làm nòng cốt. Kim ngạch xuất
khẩu đạt 147,97 triệu USD, giá trị chế biến thuỷ sản đạt 43,59 triệu USD với 2
nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
- Giai đoạn 1998-2002: Được xem là giai đoạn đầu tư đổi mới công nghệ,
tăng cường năng lực sản xuất. Trong giai đoạn này, Công ty củng cố tổ chức các
đơn vị ngoài được mở rộng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 172,08 triệu USD, giá trị
ngừng đổi mới trang thiết bị, tự bù đắp chi phí, cân đối giữa xuất và nhập.
- Phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu xuất nhập khẩu, xây dựng và đào tạo cán bộ
kinh doanh kỹ thuật có trình độ ngày càng cao
- Nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương
và hợp đồng khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty.
- Thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường và làm tròn nghĩa vụ đối với
nhà nước.
1.1.2.3. Quyền hạn
Công ty Xuất Nhập Khẩu Thuỷ Sản Miền Trung là một doanh nghiệp cổ phần
trực thuộc Bộ Thuỷ Sản có tư cách pháp nhân, hoạch toán độc lập, có con dấu
riêng. Công ty có tài khoản mở tại nhiều ngân hàng như: Ngân hàng Ngoại
thương Vietcombank, Ngân hàng Eximbank Đà Nẵng, ngân hàng quốc tế
VIBank… để phục vụ công tác giao dịch tài chính được thuận lợi và có các
quyền hạn cơ bản sau:
- Quyền tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh, chủ động xây dựng kế
hoạch sản xuất kinh doanh cho mình.
- Quyền sử dụng và huy động vốn từ các đơn vị kinh tế khác nhưng phải đảm
bảo khả năng hoàn trả.
- Quyền cân đối nguồn lực sản xuất, toàn chỉnh cơ cấu tài sản theo yêu cầu
của quy trình công nghệ mới, phát triển quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Quyền hợp tác, liên doanh, liên kết với các đơn vị khác.
SVTH: Nguyễn Thị Bé - Lớp: 33K01.1 Trang 25