LUẬN VĂN: Biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau tái định cư ở Đà Nẵng doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Biến đổi mức sống của nhóm
cư dân sau tái định cư ở Đà Nẵng
nghèo. Vì vậy, ở một số nơi, một số người chưa thích nghi được với môi
trường sống mới hoặc chưa tìm được việc làm ổn định sinh tâm lý thiếu an
tâm. Mức sống ở một bộ phận dân cư chưa ổn định nhất là số người làm
các nghề tự do đang cần tiếp tục hỗ trợ để tìm hướng giải quyết. Đây là
vấn đề của không chỉ công tác truyền thông, giáo dục mà còn là một kế
hoạch phát triển kinh tế, ổn định xã hội cả trước mắt lẫn lâu dài.
Thành phố Đà Nẵng còn tiếp tục phải di dời, giải toả và chỉnh
trang. Do vậy tìm hiểu hiện trạng và nguyên nhân của những biến đổi mức
sống của cộng đồng dân cư sau TĐC là việc rất cần làm. Đây là yêu cầu
khoa học cấp thiết giúp lãnh đạo thành phố hoạch định và thực hiện những
chính sách phù hợp nhằm phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tạo tâm lý
an tâm cho cộng đồng dân cư đã, đang và sẽ phải di dời, giải toả ở Đà
Nẵng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn,
đã có một số công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về di
dời, giải tỏa và TĐC. Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như
sau:
- Thứ nhất: "Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và
thực tiễn" (TS. Phạm Mộng Hoa - TS. Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2000).
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của
các Nghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải
tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ
ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so
sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC
của các tổ chức quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung

Minh” (chủ nhiệm đề tài: GS.Tương Lai-1994).Với phương pháp điều tra
Xã hội học, các tác giả đã thành công trong việc mô tả, đánh giá mức sống
của nhóm người nghèo đô thị.
- Thứ sáu: "Giải pháp để phát triển sản xuất cho bản Vân Kiều ở
khu TĐC xã Xuân Lộc-huyện Phú Lộc” (Trần Hữu Toàn và Mai Văn
Xuân, đăng trên tap chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Từ thực
trạng người dân TĐC gặp khó khăn trong phát triển sản xuất, các tác giả
đã khuyến nghị các giải pháp để giải quyết vấn đề này.
- Thứ bảy: “Một số vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo-
chỉnh trang đô thị (CTĐT): giảm tổn thương cho nhóm dân cư nghèo
nhất” của Nguyễn Quang Vinh đăng trên tạp chí Xã hội học, số 1-2001.
Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự ảnh hưởng của các dự án cải tạo -
CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư nghèo ở TP. Hồ Chí
Minh.Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên cứu rất bổ
ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình
đô thị hoá.
- Với Đà Nẵng có bài viết "Giải quyết việc làm trong thời kỳ đẩy
nhanh tốc độ đô thị hóa ở Đà Nẵng" của Nguyễn Hoàng Long, đăng trên
Tạp chí Lao động và xã hội, số 218, 2003.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đánh giá tình hình giải
quyết việc làm nói chung ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy nhanh
tốc độ đô thị hóa, trong đó có đề cập đến một số "khó khăn nhất định -
nhất là ở bước đầu trong vấn đề tìm việc làm và thích nghi với địa bàn
mới", của một số lao động trong diện di dời đến khu TĐC.
Trong những năm gần đây còn có các dự án PMU nghiên cứu các
công trình di dời, giải toả về giao thông (đường quốc lộ 1, đường 5, đường
Hồ Chí Minh…) hay công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến các mặt

sống của cộng đồng dân cư sau TĐC.
- Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm ổn định và nâng cao
chất lượng sống của nhóm dân cư sau TĐC.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư
sau TĐC.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Các hộ gia đình trong diện giải toả đã
di chuyển vào khu TĐC.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự biến đổi mức sống của nhóm dân chuyển cư vào khu
TĐC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay.
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
1) Di dời, TĐC trong quá trình xây dựng và chỉnh trang đô thị đã
ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức sống của cộng đồng dân chuyển cư nhất là
nhóm xã hội nghèo.
2) Chỉ có nhóm cán bộ, công nhân viên sau chuyển cư là tương đối
ổn định còn các nhóm xã hội khác, nhất là nhóm không có nghề nghiệp ổn
định, đời sống đang gặp nhiều khó khăn.
3) Các yếu tố cá nhân khác như trình độ học vấn, chuyên môn nghề
nghiệp, tuổi, giới tính và hệ thống các chính sách do Đảng và Nhà nước ban
hành đang tác động làm thay đổi nhiều đến mức sống của nhóm dân cư sau
TĐC.
5.2. Khung lý thuyết

Cá nhân
- Tuổi
- Gi
ới
tính
-

H
ọc vấn

Biến đổi
mức sống
- Thu
nhập
- Chi
tiêu
- Tài
sản,
môi
Hệ
quả


hội

Môi
trư

+ Quy mô gia đình (đông thành viên, ít thành viên).
+ Kiểu loại gia đình (gia đình đầy đủ, gia đình khiếm khuyết).
+ Nghề nghiệp của gia đình (thuần nông, phi nông, hỗn hợp).
- Các yếu tố cá nhân
+ Tuổi.
+ Giới tính.
+ Trình độ học vấn.
+ Nghề nghiệp
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
6.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên lý lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin về biến đổi xã hội được nhìn dưới hai mức độ
tiến hoá và cách mạng.
- Dựa trên các quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và chủ trương chính sách TĐC nói riêng của Đảng và Nhà
nước.
- Dựa trên các lý thuyết xã hội học như: Thuyết biến đổi xã hội,
thuyết hệ thống và lý thuyết di dân…
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phân tích tài liệu có sẵn: đây là những tài liệu thu thập được từ
các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các thống kê, các tài liệu khác
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Điều tra xã hội học trong đó nghiên cứu định tính với phỏng vấn
sâu 20 trường hợp áp dụng đối với đại diện hộ gia đình thuộc diện giải toả
đền bù hiện đang sinh sống trong khu TĐC và cán bộ lãnh đạo phường có
dân TĐC; điều tra chọn mẫu bằng bảng hỏi với số lượng 210 phiếu tương

nhiên, mức sống là một phạm trù kinh tế - xã hội rất rộng nên cũng có nhiều
quan niệm khác nhau.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là “mức đạt được trong chi
dùng, hưởng thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [40 tr.1157]. Như vậy với
quan niệm này thì mức sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiện
vật chất và tinh thần của dân cư.
Theo Mác thì “Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thoả mãn nhu
cầu của đời sống vật chất mà còn là sự thoả mãn nhu cầu nhất định, những
nhu cầu được sản sinh bởi chính những điều kiện xã hội mà trong đó con
người đang sống và trưởng thành” [23]. Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều
kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những nhu cầu xã hội. Những nhu
cầu xã hội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên đương nhiên
nó luôn thay đổi theo sự phát triển của những điều kiện xã hội. Điều đó cũng
chứng tỏ rằng mức sống không phải là phạm trù nhất thành bất biến mà luôn
biến đổi theo thời gian và không gian nhất định.
Trên những quan điểm chung đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa
ra khái niệm mức sống vừa khái quát vừa cụ thể như sau:
Mức sống là phạm trù kinh tế - xã hội đặc trưng mức thoả
mãn nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội của con người. Được
thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu số lượng và chất lượng của
điều kiện sinh hoạt và lao động của con người. Một mặt, mức
sống được quyết định bởi số lượng và chất lượng của cải vật chất
và văn hoá dùng để thoả mãn nhu cầu của đời sống; mặt khác,
được quyết định bởi mức độ phát triển bản thân nhu cầu của con
người. Mức sống không chỉ phụ thuộc vào nền sản xuất hiện tại
duy trì sự sống như ăn: 13kg lương thực/tháng, mặc: 4m
2
vải một người/năm.
Song hiện nay, nức sống trung bình phải đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, có phương
tiện đi lại và phương tiện gia dụng bằng mức sống khá giả trước kia. Như
vậy nghiên cứu về mức sống phải nghiên cứu trong tính lịch sử và cụ thể của
nó.
Không chỉ làm rõ khái niệm "mức sống", luận văn còn phải làm rõ
khái niệm "biến đổi mức sống" (BĐMS). Song để có cơ sở nhận thức rõ hơn
về khái niệm BĐMS phải bắt đầu từ khái niệm biến đổi. Biến đổi là gì? Biến
đổi như thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt “Biến đổi là sự thay đổi so với cái
trước đó” [37, tr.89]. Sự thay đổi đó có thể tăng hoặc giảm, từ dạng này sang
dạng khác, từ hình thái này sang hình thái khác.
Vậy biến đổi mức sống là sự thay đổi mức độ thoả mãn các nhu cầu về
thể chất, tinh thần và xã hội của người dân. Vì biến đổi mức sống là một quá
trình kinh tế - xã hội nên để xác định nó, mỗi phép đo đều cần ít nhất hai thời
điểm khác nhau. Điểm mốc mà tác giả lựa chọn để so sánh, làm sáng tỏ sự
biến đổi mức sống của người dân là sau khi đối tượng được giải toả, di dời và
sinh sống ở khu TĐC so với mức sống thời gian trước di dời. Khoảng thời
gian sau TĐC được lựa chọn để nghiên cứu ít nhất là từ hơn 6 tháng trở lên.
Những hộ gia đình mới chuyển vào khu TĐC với thời gian dưới 6 tháng chưa
đủ thời gian cần thiết để đánh giá về những biến đổi mức sống của họ. Đối
với Thành phố Đà Nẵng, năm 1997 là một mốc khá trọng đại vì được tách ra
từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc trung ương.
Đây cũng là thời điểm mà thành phố triển khai mạnh mẽ các chương trình,
dự án quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị. Vì vậy, nhóm
dân cư thuộc diện TĐC trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2004
trở thành đối tượng nghiên cứu của luận văn.
Mặt khác, các hộ dân TĐC phải trang trải những chi phí lớn cho việc
làm nhà, tạo lập những điều kiện vật chất cần thiết ở nơi cư trú mới nên phần
đông đang là những con nợ. Phần chi tiêu cho đời sống gia đình họ trở nên eo
hẹp khi phải dành dụm phần thu nhập để trả nợ.
Vì vậy, đánh giá mức sống cần phải xem xét về một số chỉ báo khác
như, chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại) và khả năng tiếp cận
các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế, vui chới giải trí,…).
ở đây, phần chi tiêu chủ yếu tập trung cho các nhu cầu thiết yếu như
ăn, mặc, ở, đi lại… Trong đó, số lượng các khoản chi và cơ cấu của chúng
cũng là những yếu tố phản ánh mức sống và chất lượng sống của từng hộ dân
cũng như của cả cộng đồng dân cư này.
Ngoài ra, nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo
dục, y tế, vui chới, giải trí cũng là những chỉ báo cần phải đo lường. Mức
sống của cộng đồng dân chuyển cư tăng lên hay giảm đi một phần phụ thuộc
mức độ thuận tiện và khả năng tiếp cận những dịch vụ xã hội này. Tỷ lệ
người đánh giá mức tiếp cận của dịch vụ khá lên, như cũ hay giảm đi so với
trước chuyển cư là những chỉ báo đo lường mức sống của nhóm xã hội này.
1.1.2. Nhóm xã hội
Nhóm xã hội là những bộ phận cơ bản, hữu cơ cấu thành nên xã hội.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Nhóm xã hội là khái niệm xã hội học
chỉ một tập hợp người liên kết với nhau bởi các dấu hiệu hình thức hoặc bản
chất được điều chỉnh bởi những thiết chế có những giá trị chung và ít nhiều
biệt lập với các tập hợp người khác” [15, tr.264].
Như vậy không phải bất cứ một tập hợp người nào cũng là một nhóm.
Theo quan niệm xã hội học thì nhóm phải là một tập hợp người mà đặc trưng
quan trọng nhất là họ cơ bản có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội,
nhờ đó họ có khuôn mẫu hành vi cơ bản giống nhau. Khoa học xã hội học đã

chung nào đó [6, tr. 161].
Xã hội tác động đến cá nhân thông qua nhóm, vì vậy việc nghiên cứu
ảnh hưởng của nhóm với tư cách là yếu tố trung gian giữa cá nhân và xã hội
là yêu cầu cần thiết và tất yếu trong việc nhận thức về con người và xã hội.
Nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, quy
hoạch và chỉnh trang đô thị ở Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ năm 1997
đến nay là nhóm xã hội mà luận văn quan tâm nghiên cứu. Họ có đặc trưng
chung là cùng bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển của thành phố nên phải
giải toả di dời và tạo lập cuộc sống mới trong các khu TĐC.
Để có cái nhìn sâu hơn về cơ cấu xã hội của nhóm cư dân thuộc diện
giải toả, TĐC, trong quá trình phân tích, tác giả cũng sẽ phân chia các đối
tượng theo các nhóm quy ước như: giàu, nghèo, tuổi, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, giới tính,
1.1.3. Giải toả, đền bù và tái định cư
1.1.3.1. Giải toả: Cũng như khái niệm đền bù, TĐC, khái niệm giải
toả được sử dụng phổ biến trong các Nghị định, Quyết định, Thông tư của
Chính phủ, của các bộ ngành và địa phương nhằm quy định trách nhiệm
của Nhà nước, của các chủ dự án cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các
tổ chức, cá nhân trong diện bị ảnh hưởng bởi các dự án an ninh, quốc
phòng, kinh tế - xã hội
Theo nghĩa gốc, giải toả là sự từ bỏ, làm cho nó thoát khỏi [40,
tr.726].
Khái niệm giải toả được đề cập đến trong nghiên cứu này chính là nói
đến việc phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chướng ngại để giải
phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc triển khai các dự án xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nào đó.
1.1.3.2. Đền bù

đình tới định cư ở nơi ở mới.
Peter R. Burbridge cũng cho rằng “Tái định cư là chỉ việc lập cư của
các cá nhân, các nhóm hộ gia đình hoặc toàn bộ một làng, một xã” [3, tr.13].
Đây là cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội, song khái niệm
TĐC theo quan niệm này chỉ có hàm nghĩa chỉ nơi cư trú mới mà người dân di
dời đến, tức là chỉ nói tới hình thức lập cư mà chưa chú trọng đến quá trình lập
cư đó.
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vừa sử dụng khái niệm TĐC theo
nghĩa hẹp để xác định không gian nghiên cứu, vừa đồng thời và chủ yếu sử
dụng khái niệm TĐC theo nghĩa rộng tức là quan tâm đến đối tượng TĐC là
những cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch, xây dựng
cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị với tất cả những yếu tố có liên quan như:
đền bù, hỗ trợ di dời và điều kiện sinh sống tại các khu TĐC của thành phố.
1.2. Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu luận văn
1.2.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển không
ngừng. Biến đổi xã hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của xã
hội.
ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khác
nhau về BĐXH. Theo quan điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ
sự khác biệt về phương diện xã hội của thời điểm hiện tại so với thời điểm
trước đó của một hệ thống xã hội, trọng tâm là sự biến đổi của cơ cấu xã hội.
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi
của các dạng hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ

đổi về mức sống của nhóm dân chuyển cư ở một thành phố như Đà Nẵng có
thể xem xét sự biến đổi dưới cả hai quá trình này song sự biến đổi này có thể
xem xét nhiều hơn dưới góc nhìn tiến hoá.
Các nhà xã hội học đại diện tiêu biểu cho quan điểm tiến hoá là A.
Comte (1798-1857) và H.Spencer (1820-1883). Các ông cho rằng, BĐXH là
sự tăng trưởng và phát triển của xã hội (cả vật chất lẫn trí tuệ) cùng năng suất
lao động xã hội. Đó là quá trình tiến hoá tất yếu của mọi xã hội cùng với quá
trình tích luỹ tri thức và khoa học công nghệ của con người [39, tr.256].
Theo A. Comte, mọi xã hội đều tuần tự biến đổi qua ba giai đoạn: thần
học, siêu hình và thực chứng. A.Comte cho rằng trí tuệ là động lực, sức
mạnh duy trì và phát triển xã hội; đến lúc nào đó khoa học sẽ thống trị xã hội.
Như vậy có thể dự báo được sự BĐXH dựa trên sự phát triển của tri thức
nhân loại.
H.Spencer thì cho rằng, xã hội sẽ phát triển từ một xã hội có cấu trúc
và trình độ giản đơn, thấp kém tiến dần lên các mức phát triển phức tạp, cao
hơn. Trong quá trình này, một xã hội có thể biến đổi một cách tích cực (thích
ứng) hay tiêu cực (không thích ứng) và sự lựa chọn này sẽ gắn kết với số
phận của nó [22, tr.4], nghĩa là các cá thể, các phân hệ, các nhóm xã hội yếu
kém không thích nghi được với tiến trình phát triển xã hội sẽ bị, loại bỏ dần.
Như vậy, theo quan điểm này thì BĐXH là “sự tiến hoá một chiều” [6,
tr.252], tất cả các xã hội đều tiến hoá từ hình thức đơn giản đến phức tạp, hình thức
sau bao giờ cũng tiến xa hơn những hình thức trước của nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status