LUẬN VĂN: Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đội ngũ công nhân Thái
Nguyên với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay, giai cấp công nhân
không chỉ là giai cấp lãnh đạo mà còn là lực lượng đi đầu, trực tiếp thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, vấn đề xây dựng giai cấp
công nhân không ngừng lớn mạnh về mọi mặt là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của
Đảng, Nhà nước của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân.
Thái Nguyên là Thủ đô trong những năm nhân dân ta kháng chiến chống thực
dân Pháp, là thành phố công nghiệp trong hiện tại. Đội ngũ công nhân Thái Nguyên là
một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam với những truyền thống bất khuất kiên
cường. Trải qua gần một thế kỷ phát triển, đội ngũ công nhân Thái Nguyên không
ngừng trưởng thành về nhiều mặt, có vai trò to lớn trong tiến trình đấu tranh giải phóng

công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21" (Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam - Viện Công nhân và công đoàn, Nxb Lao động Hà Nội, 2001) Các công trình
nêu trên đã khai thác tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến công nhân, xu
hướng biến động của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặt khác đã đưa ra
những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu
cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Gần đây, còn một số công trình khác nghiên cứu trực tiếp đến mối quan hệ giữa
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của giai
cấp công nhân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như:
"Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân" (PGS Cao Văn
Lượng (chủ biên) - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001). "Sự phát triển của giai cấp
công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước" (Trần Ngọc Sơn - Luận án tiến sĩ, 2001). Kỷ yếu hội thảo: "Về giai cấp công
nhân và công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá". (Trường
Đại học Công đoàn Việt Nam, Hà Nội, 2002). "Giai cấp công nhân trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". (PGS. TS. Dương Xuân Ngọc - Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004) Trong các công trình này đã đề cập đến mối quan hệ biện
chứng giữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển của giai

cấp công nhân, đặt ra những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng,
chất lượng, cơ cấu để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra.
Ngoài những công trình nêu trên còn một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực
trạng và đưa ra những phương hướng giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, củng cố và phát
triển đội ngũ công nhân ở các địa bàn cụ thể, chẳng hạn như: "Công nhân Hải Phòng
trong công cuộc đổi mới những vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết" (Nguyễn
Văn Năm, 1995). "Xu hướng biến đổi phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ
công nhân Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay" (Vũ Minh Thủ, 1998). "Xây dựng
đội ngũ công nhân Đồng Nai đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá" (Phạm Hồng Hải, 2002)
Riêng đối với tỉnh Thái Nguyên dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và ủy ban nhân dân

- Vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Coi
trọng phương pháp logíc - lịch sử; kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê
- Kế thừa một cách chọn lọc các thành tựu nghiên cứu có liên quan đến luận văn.
4.3.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đội ngũ công nhân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ đổi
mới từ 1986 đến nay.
5. Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng đội ngũ công nhân ở Thái Nguyên, dự
báo xu hướng biến động của nó, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy
hơn nữa vai trò đội ngũ công nhân ở Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
6. ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các cấp
lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Thái Nguyên tham khảo, vận dụng trong việc xây dựng chính
sách nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ công nhân trên địa bàn toàn tỉnh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy nghiên cứu về
giai cấp công nhân ở các trường chính trị tỉnh, thành phố.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được chia làm 3 chương, 6 tiết.

Chương 1
Giai cấp công nhân Việt Nam
và đội ngũ công nhân thái nguyên trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1. giai cấp công nhân Việt Nam với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa

nảy sinh ra giai cấp công nhân. Công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong
trào công nhân [33, tr.354].
Ngoài ra, C.Mác và Ph.Ăngghen còn sử dụng một số thuật ngữ khác ngoài
"giai cấp vô sản", "giai cấp công nhân" để biểu đạt khái niệm "giai cấp công nhân".
Chẳng hạn như: "giai cấp vô sản công nghiệp", "giai cấp vô sản hiện đại", "giai cấp
công nhân hiện đại', "giai cấp công nhân công xưởng, nhà máy", "giai cấp công nhân
đại cơ khí" Bên cạnh đó, trong một số điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử
dụng một số hình thức diễn đạt khác như "lao động làm thuê", "giai cấp xã hội hoàn
toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình", "giai cấp của những người hoàn
toàn không có của", "giai cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX" Có thể khẳng định
rằng, các thuật ngữ đã nêu chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt trong những văn
cảnh cụ thể của một khái niệm: "Giai cấp công nhân" với sự thống nhất về bản chất:
lực lượng lao động trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại.
C.Mác, Ph.Ăngghen phân biệt giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới
và bản chất cách mạng với bộ phận công nhân đã bị tha hóa, đánh mất mình bằng
những thuật ngữ đối ngược nhau: giữa một bên là "giai cấp vô sản cách mạng" với
một bên là "tầng lớp vô sản lưu manh" mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội, và
như vậy cũng đồng nghĩa với việc phân biệt giai cấp công nhân cách mạng với bộ
phận công nhân đã khuất phục, trở thành công cụ của giai cấp tư sản để phá hoại
phong trào công nhân từ bên trong, mưu toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân trong trật tự của "chủ nghĩa tư bản" vì mục tiêu kinh tế và lợi ích
tầm thường do hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng mà ở đây các ông đã sử
dụng thuật ngữ: "Công nhân quý tộc". Theo các ông "công nhân quý tộc" và tầng lớp
vô sản lưu manh không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà đã trở thành
một bộ phận của giai cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội.

Tựu chung lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tùy từng hoàn
cảnh lịch sử. Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái niệm giai cấp
công nhân đều được các nhà kinh điển Mác xít sử dụng như một khái niệm đồng nhất
dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội

tr.605].
Điều này đã khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp
tư sản.
Xuất phát hai tiêu chí trên, trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản"
(1847) Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân:
Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc
bán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư
bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc hay đau khổ, sống và chết toàn bộ sự
sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình
chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc
cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của
những người vô sản là giai cấp lao động làm thuê trong thế kỷ XIX giai cấp vô
sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra [34, tr.456-457].
Như vậy, mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu lên thành một định nghĩa
hoàn chỉnh về giai cấp công nhân, nhưng qua những tác phẩm của mình, với những cách
tiếp cận khác nhau các ông đã nêu một cách khách quan nhất những đặc trưng cơ bản,
những thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân, nhờ đó, khiến người ta có thể dễ
dàng nhận diện được giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, thời đại đế
quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại chủ nghĩa xã hội hiện thực. Lênin đã bổ
sung, phát triển những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. Lênin chỉ rõ: Sự phân
chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự khác nhau của các tập đoàn người
trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, trong quan hệ đối với quản lý sản
xuất, trong quan hệ phân phối sản phẩm.
Từ nhận thức mới về giai cấp như vậy, trong rất nhiều tác phẩm của mình như
"Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Nhà nước và cách mạng", "Sáng kiến vĩ
đại" Lênin đã chỉ ra rằng, sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân đã

trở thành giai cấp cầm quyền. Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân đã hoàn
toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành giai cấp thống trị về chính trị, thông

chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi
ích chính đáng của bản thân họ.
Ngoài ra, một số Trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu thông tin lý luận - Tổng
Liên đoàn lao động Việt Nam, Viện Công nhân và công đoàn Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân trên cơ sở hai tiêu chí cơ bản
mà các nhà kinh điển Mác xít đã nêu.
Về phía cá nhân các nhà nghiên cứu, có một số định nghĩa sau:
GS.TS Đỗ Nguyên Phương trong tác phẩm: "Những vấn đề chính trị - xã hội
của cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Nhà xuất
bản Khoa học - kỹ thuật phát hành năm 1993, viết: "Giai cấp công nhân là một tập đoàn
xã hội hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, là lực lượng sản xuất
cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, động lực
chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội" [40, tr.55].
GS. Phạm Xuân Nam trong cuốn "Đổi mới chính sách xã hội, luận cứ và giải
pháp", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đưa ra định nghĩa:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội rộng lớn những người lao
động làm việc trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp
có thu nhập chủ yếu bằng tiền lương hoặc tiền công, do trực tiếp vận hành
những tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại trong
các ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân, đại diện cho lực lượng sản
xuất tiên tiến [39, tr.31].
Nhìn chung các định nghĩa đã nêu đều thống nhất khi tập trung đề cập tới khía
cạnh bản chất của giai cấp công nhân là người lao động công nghiệp gắn với khoa học,
kỹ thuật công nghệ cao, địa vị kinh tế - xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
đã diễn ra với tốc độ rất nhanh và đang tác động trực tiếp, sâu sắc tới sự biến đổi về cơ
cấu, số lượng, chất lượng, ngành nghề, phương thức và phong cách lao động cũng như
năng lực trí tuệ của giai cấp công nhân. Vì vậy, sẽ không thể đưa ra một định nghĩa về
giai cấp công nhân một cách khoa học, nếu như không đổi mới nhận thức về giai cấp



Việt Nam quy định. Giai cấp công nhân Việt Nam là gì? bao gồm những bộ phận nào?
giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò lịch sử của nó trong cách mạng Việt Nam như
thế nào là những vấn đề cần phải nghiên cứu.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, khi nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam
các nhà khoa học ở nước ta đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau. Thí dụ:
GS. Trần Văn Giàu trong cuốn: Giai cấp công nhân Việt Nam, sự hình thành và
phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình (Nxb Sự thật, Hà Nội,
1958), mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể về giai cấp công nhân Việt Nam
song toàn bộ công trình đã thể hiện rất rõ nội hàm khái niệm giai cấp công nhân Việt
Nam từ khi mới hình thành và vai trò của nó trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Trong cuốn: "Đổi mới chính sách đối với công nhân và thợ thủ công" của Trung
tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đưa ra định nghĩa:
Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao
động ở Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương,
sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do nắm
giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên
tiến của xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi tiên phong trong
tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại [43, tr.113].
Tác giả Đan Tâm trong bài "Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại -
một cách tiếp cận" lại khẳng định:
Giai cấp công nhân Việt Nam là cộng đồng xã hội những người làm
công ăn lương, nguồn thu nhập chủ yếu bằng tiền công; trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất công nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghiệp hoặc có
tính công nghiệp; nắm giữ những cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt của xã hội
và tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội [42, tr.29].
Định nghĩa của GS. Văn Tạo trong tác phẩm "Một số vấn đề về giai cấp công
nhân và công đoàn Việt Nam" thì cho rằng:
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao
động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương sống và làm việc

khác ở Tây Âu (Hà Lan, Pháp, Đức, Italia ). Mặc dù công nghiệp hóa được tiến hành
sớm như vậy nhưng phải mãi đến cuối thế kỷ XIX thuật ngữ "công nghiệp hóa" mới

xuất hiện với ý nghĩa là biến một lĩnh vực sản xuất nào đó sang hoạt động theo tính chất
của công nghiệp cơ khí. Mãi đến nửa sau thế kỷ XX, khái niệm công nghiệp hóa mới
được hiểu như một giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế mà nội dung của nó bao hàm
cuộc cách mạng công nghiệp. Từ đó đến nay, cùng với hàng loạt các cuộc cách mạng
công nghiệp: từ kỹ thuật cơ khí giản đơn với máy hơi nước làm động lực tới cơ khí
phức tạp với động cơ đốt trong rồi điện năng và các dạng năng lượng mới làm động lực,
tiếp theo đó là tự động hóa, điện tử hóa Quan niệm về công nghiệp hóa dần được mở
rộng trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau:
Ví dụ: quan niệm của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) cho
rằng: "Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng
cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế
tạo máy" [25, tr.49].
Năm 1963 UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc) đã đưa
ra định nghĩa:
Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ
phận năng lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu
kinh tế nhiều ngành với công nghiệp hiện đại để chế tạo ra các phương tiện
sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp tăng trưởng cao
trong toàn nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội [5, tr.6]
Tóm lại: Tuy có rất nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa nhưng chủ
yếu là hai quan niệm sau:
Một là: Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình phát triển công nghiệp
trong một thời kỳ nhất định, trong đó nền sản xuất xã hội được tổ chức theo lối công
nghiệp dựa trên cơ sở thay thế lao động thủ công bằng máy móc và máy móc chiếm ưu
thế.
Hai là: Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình công nghiệp liên tục, cải
tổ thường xuyên cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại, ngày càng đa dạng.

chiến lược về công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông
nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm. Từ đó
đến nay, việc nhận thức về đường lối công nghiệp hóa được đưa ra từng bước phù hợp
với tình hình cụ thể của đất nước. Công nghiệp hóa có thể hiểu một cách cơ bản:

Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng phát triển
mạnh công nghiệp, tạo ra sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế
và cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao những tiến bộ khoa
học, công nghệ mới hiện đại, làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển
nhanh, vững chắc của toàn bộ nền kinh tế - xã hội [45, tr.63].
Quan niệm này không những phản ánh được nội dung của quá trình công
nghiệp hóa mà nêu bật được mục tiêu công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa chính là quá
trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân,
bao hàm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động chứ không riêng chỉ phát triển ở lĩnh
vực công nghiệp.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã
tiến lên một nấc thang mới, loài người đang bước vào kinh tế tri thức. Vì vậy, công
nghiệp hóa đòi hỏi phải gắn với quá trình hiện đại hóa, kể cả những nước có nền kinh tế
lạc hậu như nước ta. Không thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu "cổ điển" như ở
phương Tây thế kỷ XVIII mà công nghiệp hóa phải gắn với việc tận dụng những thành
quả khoa học - kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến của thế giới. Công nghệ truyền
thống gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thời đại, là giải
pháp quyết định đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế - công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa. Hay nói cách khác, để có quan
niệm đúng đắn, đầy đủ về công nghiệp hóa phải đặt nó trong mối quan hệ với hiện đại
hóa. Tất nhiên công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệm khác nhau nhưng lại
đan xen, tích hợp, lồng ghép và bổ sung cho nhau. Nếu như công nghiệp hóa là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp thì hiện đại
hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ chỗ theo những quy trình công nghệ thủ công là chính

2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp [15,
tr.80].
Nước ta với gần 80% dân cư là nông dân, 70% lực lượng lao động làm nông
nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập quốc dân,

thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là cơ sở của sự phát triển xã hội. Bởi
vậy, giai đoạn đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trước hết và thực chất là
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà nội dung cơ bản của nó là
thực hiện sự chuyển đổi cơ bản cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội nông thôn, nâng cao trình
độ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới.
1.1.2.2. Sự tác động qua lại giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
sự phát triển của giai cấp công nhân
Khi luận chứng về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác -
Lênin đã khẳng định rằng: Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân được xác định từ vai trò
của đại công nghiệp, của lực lượng sản xuất mà giai cấp công nhân là người đại diện.
Đại công nghiệp đã sinh ra giai cấp công nhân, đồng thời cũng là cơ sở vật chất thông
qua đó, giai cấp công nhân tác động vào tiến trình phát triển xã hội như một lực lượng
chủ đạo. Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của
giai cấp công nhân có mối quan hệ biện chứng. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều
kiện để giai cấp công nhân phát triển về số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu
đặt ra của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngược lại, sự phát triển về mặt số
lượng, chất lượng của giai cấp công nhân cũng sẽ tác động trở lại, là nguyên nhân, là
nhân tố cơ bản quyết định thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
Giai cấp công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển
và lớn mạnh về mọi mặt.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường phát triển tất yếu của xã hội loài
người, là con đường duy nhất đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế

nước ta đã tăng 2,64 lần so với năm 1995, trong đó, số lượng công nhân doanh nghiệp
nhà nước tăng 1,17 lần; số lượng công nhân doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,77 lần,
số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,77 lần, số lượng công nhân
thuộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể tăng 4,8 lần.
Trong quá trình đổi mới, cơ cấu kinh tế, số lượng công nhân đã có sự chuyển
dịch theo hướng tăng công nhân thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm

số lượng công nhân thuộc lĩnh vực nông lâm thủy sản. Trong các loại hình doanh
nghiệp, công nhân làm trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, trong lĩnh
vực dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm
4,8%. Trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể thì chủ yếu công nhân hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại ước tính khoảng 66,67%.
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các
nước, đặc biệt sau khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành, nước ta đã tiếp
nhận được rất nhiều dự án và vốn đầu tư nước ngoài. Tính từ năm 1988 đến đầu năm
2004 theo số liệu của Tổng cục thống kê dựa trên kết quả điều tra doanh nghiệp, cả nước
đã có 4892 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép còn hiệu lực từ 66 quốc gia và
vùng lãnh thổ với vốn đăng ký lên đến 44,4 tỷ USD. Chính vì vậy mà thu hút hơn 859.000
công nhân với 688.000 công nhân doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, 171.000
công nhân thuộc công ty liên doanh làm việc trong hơn 2300 doanh nghiệp.
Hơn thế nữa việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự
ra đời của hàng loạt cơ sở công nghiệp mới so với trước thời kỳ đổi mới như: công nghệ
thông tin, cơ điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học đồng nghĩa với số lượng công
nhân cũng được tăng lên (đặc biệt là công nhân có trình độ cao). Cùng với điều đó là
các ngành kinh tế mũi nhọn cũng được quan tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và số lượng
công nhân cũng tăng lên rõ rệt như: công nghiệp chế biến, dầu khí, bưu chính viễn
thông, hàng không và các ngành dịch vụ khác. Không chỉ dừng lại ở đó, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa cùng với sự ra đời của các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ
cao, khu chế xuất với xu hướng đa thành phần, đa sản phẩm đang hình thành và phát
triển cùng với quá trình đô thị hóa đã khiến cho giai cấp công nhân phát triển nhanh

biết chữ, 11,10% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 1,56 trình độ đại học và trên đại
học) [39, tr.132]. Số công nhân trẻ dưới 30 tuổi - thường có trình độ cao hơn. Trình độ
tay nghề trung bình của công nhân mới ở thợ 3/7; bậc thợ 7/7 mới có 2,38%. Trình độ
công nhân cũng không đồng đều, đồng bằng cao hơn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Công
nhân ngoài quốc doanh có trình độ cao hơn công nhân lao động trong khu vực doanh
nghiệp nhà nước. Đội ngũ có trình độ cao đẳng, đại học chủ yếu hoạt động trong lĩnh
vực hành chính sự nghiệp.

Từ thực tế đó, Nhà nước cần phải có chính sách tích cực để tạo điều kiện nâng cao
trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân, tăng cường đầu tư, củng cố và phát triển các
trường dạy nghề, xây dựng các trường trọng điểm, đào tạo đủ công nhân lành nghề cho các
khu công nghiệp, khu chế xuất có tính đến nhu cầu xuất khẩu lao động là hướng đi thích
hợp với nền kinh tế phát triển.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những tạo điều kiện, đặt ra nhu cầu nâng cao
trình độ học vấn, trình độ tay nghề cho giai cấp công nhân mà bản thân quá trình đó cũng
tạo ra điều kiện khách quan để giai cấp công nhân rèn luyện tính tổ chức kỷ luật cao, tác
phong lao động công nghiệp và ý thức giác ngộ chính trị. Một nền công nghiệp hiện đại với
các dây chuyền sản xuất theo công nghệ tiên tiến không cho phép người vận hành nó - giai
cấp công nhân thiếu tính tổ chức kỷ luật, tự do, tùy tiện, thiếu sự liên kết cộng đồng thiếu
tác phong công nghiệp. Từ tính tổ chức kỷ luật, tự giác trong sản xuất, tác phong công
nghiệp và tinh thần cộng đồng dần hình thành nên sự cố kết chặt chẽ trong giai cấp công
nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết trong lao động sản xuất cũng như trong mọi hoạt động
khác. Cùng với quá trình hoàn thiện mình giai cấp công nhân không ngừng nâng cao ý thức
giác ngộ chính trị thể hiện ở nhận thức về vai trò, vị trí và sứ mệnh của giai cấp công nhân,
cũng như vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, mà sự biểu hiện rõ nhất về việc
nâng cao ý thức giác ngộ chính trị chính là thái độ đồng tình của đa số công nhân với sự
nghiệp đổi mới của Đảng, công tác phát triển Đảng trong công nhân có nhiều tiến bộ, số
lượng công nhân được kết nạp vào Đảng và tham gia vào các tổ chức đoàn thể trong tất cả
các loại hình doanh nghiệp không ngừng tăng lên rõ rệt. Chính những điều đó, đã và đang
tạo ra một chất lượng mới trong giai cấp công nhân hiện nay.

của đất nước. Vai trò ấy cần phải được khẳng định một cách rõ ràng rằng: không có trí
thức không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cũng như
hiện nay, không thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nếu
không có trí thức. Nhưng lãnh đạo quá trình ấy vẫn phải là giai cấp công nhân thông
qua chính đảng của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đương nhiên, trong điều kiện phát
triển nhanh chóng của kinh tế tri thức, khi khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp thì bản thân giai cấp công nhân và Đảng của nó phải không ngừng tự vươn lên
trình độ cao của trí tuệ để đảm đương một cách xứng đáng vai trò của mình, nhất là
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, giai cấp công nhân
thông qua Đảng lãnh đạo phải đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức, có chính
sách thu hút trí thức tạo điều kiện cho tri thức phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ lợi
ích xã hội và của dân tộc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trích đoạn Về cơ cấu thành phần xuất thân Về cơ cấu giới tính, thành phần dân tộc và tín ngưỡng tôn giáo Những nhân tố quốc tế Những nhân tố trong nước Phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên gắn liền với phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam của Đảng ta trong thời gian tới và
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status