Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Pdf 20

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hường
Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85
Luận văn thạc sĩ triết học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN OÁNH
HÀ NỘI - 2005
MỤC LỤC
1
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chơng 1: GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ ĐỘI
NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 6
1.1. Giai cấp công nhân Việt Nam với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa 6
1.2. Tính đặc thù của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 31
Chơng 2: ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN -
THỰC TRẠNG VÀ XU HỚNG BIẾN ĐỘNG TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 47
2.1. Thực trạng đội ngũ công nhân Thái Nguyên 47
2.2. Xu hớng biến động của đội ngũ công nhân Thái Nguyên
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 66
Chơng 3: PHƠNG HỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI
NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA 77
3.1. Một số phơng hớng cơ bản 77

công hoá hiện đại hoá, thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình. Vì vậy,
nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên là việc làm vừa cơ
bản lâu dài, vừa cấp bách.
Do vậy, tôi chọn đề tài: "Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá" làm luận văn tốt nghiệp cao học với hy vọng
góp một chút sức lực nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu vấn đề trên.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, vấn đề giai cấp công nhân và sứ
mệnh lịch sử của nó đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu với nhiều
góc độ, những phạm vi khác nhau. Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu
về giai cấp công nhân là gì? thực trạng giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử
giai cấp công nhân Việt Nam; những giải pháp xây dựng giai cấp công nhân
hiện nay...chẳng hạn như: "Đặc điểm và xu hướng biến đổi cơ cấu - giai cấp
công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Đỗ Khánh
Tặng - Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1990). "Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò
xu thế biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (Bùi Đình
4
Bôn - Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1991). Kỷ yếu hội thảo: "Thực trạng giai cấp
công nhân dưới tác động cơ thế thị trường" (Trung tâm nghiên cứu lý luận -
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hà Nội, 1993). "Một số vấn đề giai cấp
công nhân và công đoàn Việt Nam" (GS. Văn Tạo - Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997). "Bác Hồ với giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước". (PGS. TS Đỗ Quang Hưng (chủ Biên) - Nxb Lao động
Hà Nội,1999). "Tích cực hoá nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình" (Trần Thị Bích Liên - Luận án tiến sĩ, 2001). "Vấn đề
đình công của công nhân ở nước ta hiện nay" (Phạm Thị Xuân Hương - Luận án
tiến sĩ, 2001). "Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những
năm đầu thế kỷ 21" (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Viện Công nhân và
công đoàn, Nxb Lao động Hà Nội, 2001)... Các công trình nêu trên đã khai thác
tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến công nhân, xu hướng biến động

đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh. Song nhìn
chung chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn
đề phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở cấp tiến sĩ hay thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ thực trạng và xu hướng biến động của đội ngũ công nhân Thái
Nguyên, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát
huy vai trò đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những quan niệm cơ bản như: Giai cấp công nhân Việt Nam;
quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mối quan hệ giữa công nghiệp hoá,
hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của đội ngũ công
nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
6
- Đánh giá thực trạng của đội ngũ công nhân Thái Nguyên, tìm ra những
nguyên nhân và những vấn đề đặt ra. Từ thực trạng đó, dự báo xu hướng biến động
của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và
phát huy vai trò của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu và phạm vi
nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó, về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Cơ sở thực tiễn là kết quả điều tra thực trạng công nhân ở các doanh
nghiệp trong và ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1.1. Về giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm về giai cấp công nhân
Khái niệm về giai cấp công nhân được đề cập đến ngay khi giai cấp công
nhân xuất hiện trên vũ đài chính trị. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tùy thuộc ở
lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận
khác nhau đưa ra nhiều ý kiến không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Đến
nay giai cấp công nhân là gì? Nó còn hay đã "biến mất"? Địa vị kinh tế - xã hội
của nó ra sao? tất cả vẫn đang là trọng điểm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa
học trên thế giới. Thực tiễn cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
giai cấp công nhân vẫn hàm chứa tính khách quan và khoa học hơn cả bởi nó
dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng duy vật. Trong rất
nhiều tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét khái niệm giai cấp
công nhân trên tất cả các khía cạnh, các dấu hiệu đặc trưng nhất và các thuộc
tính bản chất của nó. Chẳng hạn như, ngay từ 1845, khi bắt tay vào nghiên cứu
giai cấp công nhân trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" C.Mác đã đặt câu hỏi:
"Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của
bản thân nó giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử" [33, tr.56].
Cũng trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen còn bàn nhiều và đã sử
dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về giai cấp công nhân như trong Lời nói
đầu tác phẩm: "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen" (1844). C.Mác
đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và xu hướng phát triển của giai cấp công
nhân - ở đây C.Mác sử dụng thuật ngữ giai cấp vô sản. Theo C.Mác: "Giai cấp
vô sản Đức là con đẻ của nền đại công nghiệp non trẻ đang hình thành ở Đức".
9
Quan điểm của Mác không những chỉ rõ giai cấp vô sản được hình thành từ
CNTB công nghiệp mà còn là đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ đang trong
giai đoạn hình thành và phát triển.
Trong tác phẩm "Tình cảnh những người lao động ở Anh" (1844-1845).
Ph.Ăngghen khẳng định:

một bộ phận của giai cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội.
Tựu chung lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tùy từng
hoàn cảnh lịch sử. Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái
niệm giai cấp công nhân đều được các nhà kinh điển Mác xít sử dụng như một
khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân định giai cấp công
nhân với các giai tầng xã hội khác là:
Vị trí của giai cấp công nhân trong lực lượng sản xuất
Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp
hay gián tiếp vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện
đại và xã hội hóa, quốc tế hóa cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người
công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong
công trường thủ công. C.Mác chỉ rõ: "Trong công trường thủ công và trong nghề
thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì
người công nhân phải phục tùng máy móc" [36, tr.605]. Điều đó cho thấy, hai
ông luôn nói đến giai cấp công nhân với tư cách là tập đoàn người bao gồm
những công nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát
triển cùng với sự phát triển của đại công nghiệp. Theo các ông: "Các giai cấp
khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp,
còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp" [33,
tr.610] hay "Công nhân là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc
vậy". Như vậy, giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát
triển của đại công nghiệp. Chính vì thế giai cấp công nhân là hiện thân của lực
lượng sản xuất hiện đại, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và mang trong
mình những đặc trưng riêng có mà không một giai tầng nào có được đó là: Tính
11
tiên tiến, hiện đại, tinh thần khoa học và cách mạng triệt để; ý thức tổ chức kỷ
luật; tình đoàn kết giai cấp.
Vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không
có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư

của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất,
trong quan hệ đối với quản lý sản xuất, trong quan hệ phân phối sản phẩm.
Từ nhận thức mới về giai cấp như vậy, trong rất nhiều tác phẩm của mình
như "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Nhà nước và cách mạng",
"Sáng kiến vĩ đại"... Lênin đã chỉ ra rằng, sau khi cách mạng vô sản thành công,
giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền. Địa vị kinh tế - xã hội của
giai cấp công nhân đã hoàn toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành
giai cấp thống trị về chính trị, thông qua Đảng tiên phong của mình lãnh đạo
toàn xã hội cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Theo Lênin, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị, là giai
cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ tư bản, trong sự nghiệp sáng
tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai
cấp. Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân là đi tới tự thủ tiêu mình với tư
cách là giai cấp...
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sự tác động mạnh mẽ của nó
vào mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội đã không những làm cho quan
hệ giai cấp, dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc dịu đi mà nó diễn ra ngày
càng gay gắt với những biểu hiện hết sức phức tạp. Điều đó đã khiến nhiều nhà
nghiên cứu trên thế giới trong đó có nước ta đưa ra quan niệm mới về giai cấp
công nhân trong thời đại ngày nay.
Trước hết phải kể đến định nghĩa của các tác giả trong công trình: "Một
số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: "Giai cấp công
nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công
13
nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau mà địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc
vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có
hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những
người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và
cùng hợp tác lao động cho mình [22, tr.97].

thu nhập chủ yếu bằng tiền lương hoặc tiền công, do trực tiếp vận hành những
tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại trong các ngành
then chốt của nền kinh tế quốc dân, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến...
[39, tr.31].
Nhìn chung các định nghĩa đã nêu đều thống nhất khi tập trung đề cập tới
khía cạnh bản chất của giai cấp công nhân là người lao động công nghiệp gắn
với khoa học, kỹ thuật công nghệ cao, địa vị kinh tế - xã hội, vai trò và sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân... Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ đã diễn ra với tốc độ rất nhanh và đang tác động
trực tiếp, sâu sắc tới sự biến đổi về cơ cấu, số lượng, chất lượng, ngành nghề,
phương thức và phong cách lao động cũng như năng lực trí tuệ của giai cấp công
nhân. Vì vậy, sẽ không thể đưa ra một định nghĩa về giai cấp công nhân một
cách khoa học, nếu như không đổi mới nhận thức về giai cấp công nhân trong sự
phát triển của kinh tế tri thức. Một vấn đề nữa gây nhiều tranh cãi về định nghĩa
giai cấp công nhân là địa vị của nó trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội
trong giai đoạn hiện nay là gì?
Một là, ở các nước TBCN hiện nay một bộ phận công nhân có cổ phần, cổ
phiếu.
Hai là, ở các nước xã hội chủ nghĩa đang tiến hành đường lối phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế đó, ngoài bộ
phận công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước còn có bộ phận công nhân
trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư
15
nước ngoài vẫn là công nhân làm thuê và vẫn bị bóc lột về giá trị thặng dư, do
vậy vấn đề làm chủ của giai cấp công nhân sẽ như thế nào?
Trên cơ sở cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển Mác xít; những
điểm cơ bản của các định nghĩa nêu trên kết hợp với thực tiễn phong trào công
nhân, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát
triển cùng với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại, là lực lượng sản

Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đưa
ra định nghĩa:
Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao
động ở Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống
và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do nắm giữ
những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của
xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi tiên phong trong tiến trình
phát triển của lịch sử hiện đại [43, tr.113].
Tác giả Đan Tâm trong bài "Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam hiện
đại - một cách tiếp cận" lại khẳng định:
Giai cấp công nhân Việt Nam là cộng đồng xã hội những người làm công
ăn lương, nguồn thu nhập chủ yếu bằng tiền công; trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất công nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghiệp hoặc có tính công
nghiệp; nắm giữ những cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt của xã hội và tiêu biểu
cho phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội [42, tr.29].
Định nghĩa của GS. Văn Tạo trong tác phẩm "Một số vấn đề về giai cấp
công nhân và công đoàn Việt Nam" thì cho rằng:
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao
động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương sống và làm việc gắn
với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do lao động và quản lý một nền
công nghiệp hiện đại, then chốt của nền kinh tế quốc dân và đại diện cho lực lượng
17
sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên
phong trong tiến trình phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam [41, tr.39].
Bên cạnh đó, cũng còn có một số định nghĩa về giai cấp công nhân Việt
Nam của các tác giả như GS. Cao Văn Lượng, TS. Bùi Đình Bôn và một vài quan
niệm một số tác giả trong các luận án tiến sĩ và thạc sĩ triết học gần đây.
Trên cơ sở khái niệm giai cấp công nhân nói chung, căn cứ những đặc
trưng riêng của giai cấp công nhân Việt Nam gắn với thực tiễn cách mạng Việt
Nam, đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây về giai cấp công

Ví dụ: quan niệm của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
(cũ) cho rằng: "Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ
khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng
với ngành trung tâm là chế tạo máy" [25, tr.49].
Năm 1963 UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc)
đã đưa ra định nghĩa:
Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận
năng lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế
nhiều ngành với công nghiệp hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất,
hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp tăng trưởng cao trong toàn nền
kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội [5, tr.6]...
Tóm lại: Tuy có rất nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa nhưng
chủ yếu là hai quan niệm sau:
Một là: Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình phát triển công
nghiệp trong một thời kỳ nhất định, trong đó nền sản xuất xã hội được tổ chức
theo lối công nghiệp dựa trên cơ sở thay thế lao động thủ công bằng máy móc và
máy móc chiếm ưu thế.
Hai là: Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình công nghiệp liên
tục, cải tổ thường xuyên cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại, ngày
càng đa dạng.
19
Có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa như vậy là bởi trên
thực tế, công nghiệp hóa là quá trình phức tạp, lâu dài mà việc phân biệt các
mốc giới, định tính, định lượng và về thời gian không phải là điều dễ dàng. Mặt
khác, sự biểu hiện về mô hình của nó gắn với mỗi quốc gia dân tộc do những
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau cũng không thể thuần nhất. Dù như vậy, cũng
cần hiểu một cách khái quát nhất: Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế
diễn ra lâu dài, bắt đầu từ khi xuất hiện công nghiệp và đến khi nền kinh tế với
công nghiệp phát triển cao cũng chưa phải là điểm kết thúc mà lại có thể là mở
đầu cho một cuộc cách mạng công nghiệp mới.

mạnh công nghiệp, tạo ra sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao những tiến bộ khoa học,
công nghệ mới hiện đại, làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh,
vững chắc của toàn bộ nền kinh tế - xã hội [45, tr.63].
Quan niệm này không những phản ánh được nội dung của quá trình công
nghiệp hóa mà nêu bật được mục tiêu công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa chính
là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh
tế quốc dân, bao hàm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động chứ không riêng
chỉ phát triển ở lĩnh vực công nghiệp.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
đã tiến lên một nấc thang mới, loài người đang bước vào kinh tế tri thức. Vì vậy,
công nghiệp hóa đòi hỏi phải gắn với quá trình hiện đại hóa, kể cả những nước
có nền kinh tế lạc hậu như nước ta. Không thể tiến hành công nghiệp hóa theo
kiểu "cổ điển" như ở phương Tây thế kỷ XVIII mà công nghiệp hóa phải gắn với
việc tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến
của thế giới. Công nghệ truyền thống gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến của thời đại, là giải pháp quyết định đưa nước ta thoát khỏi đói
nghèo lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế - công nghiệp hóa phải gắn
với hiện đại hóa. Hay nói cách khác, để có quan niệm đúng đắn, đầy đủ về công
21
nghiệp hóa phải đặt nó trong mối quan hệ với hiện đại hóa. Tất nhiên công
nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệm khác nhau nhưng lại đan xen, tích
hợp, lồng ghép và bổ sung cho nhau. Nếu như công nghiệp hóa là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp thì hiện đại
hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ chỗ theo những quy trình công nghệ
thủ công là chính sang chỗ sử dụng một cách phổ biến những quy trình công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động, hiệu quả và trình độ văn minh kinh
tế xã hội cao [45, tr.63].

Nước ta với gần 80% dân cư là nông dân, 70% lực lượng lao động làm
nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu
nhập quốc dân, thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là cơ sở của sự
phát triển xã hội. Bởi vậy, giai đoạn đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
trước hết và thực chất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
mà nội dung cơ bản của nó là thực hiện sự chuyển đổi cơ bản cơ cấu kinh tế, cơ
cấu xã hội nông thôn, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
1.1.2.2. Sự tác động qua lại giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân
Khi luận chứng về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác -
Lênin đã khẳng định rằng: Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân được xác định
từ vai trò của đại công nghiệp, của lực lượng sản xuất mà giai cấp công nhân là
người đại diện. Đại công nghiệp đã sinh ra giai cấp công nhân, đồng thời cũng là
cơ sở vật chất thông qua đó, giai cấp công nhân tác động vào tiến trình phát triển
xã hội như một lực lượng chủ đạo. Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân có mối quan hệ biện chứng.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển về
số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình công nghiệp
23
hóa, hiện đại hóa. Ngược lại, sự phát triển về mặt số lượng, chất lượng của giai
cấp công nhân cũng sẽ tác động trở lại, là nguyên nhân, là nhân tố cơ bản quyết
định thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Giai cấp
công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát
triển và lớn mạnh về mọi mặt.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường phát triển tất yếu của xã hội
loài người, là con đường duy nhất đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên để có thể

xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là 7,396 triệu (56% nam, 44%
nữ) chiếm 9,14% dân số, 17,49% lực lượng lao động xã hội. Như vậy sau gần 10
năm số lượng công nhân nước ta đã tăng 2,64 lần so với năm 1995, trong đó, số
lượng công nhân doanh nghiệp nhà nước tăng 1,17 lần; số lượng công nhân
doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,77 lần, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tăng 8,77 lần, số lượng công nhân thuộc các cơ sở sản xuất, kinh
doanh cá thể tăng 4,8 lần.
Trong quá trình đổi mới, cơ cấu kinh tế, số lượng công nhân đã có sự
chuyển dịch theo hướng tăng công nhân thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng,
dịch vụ và giảm số lượng công nhân thuộc lĩnh vực nông lâm thủy sản. Trong
các loại hình doanh nghiệp, công nhân làm trong lĩnh vực công nghiệp và xây
dựng chiếm 70,9%, trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, trong
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 4,8%. Trong các cơ sở sản xuất, kinh
doanh cá thể thì chủ yếu công nhân hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và thương
mại ước tính khoảng 66,67%.
Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng: Việt Nam muốn là bạn với tất
cả các nước, đặc biệt sau khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành,
nước ta đã tiếp nhận được rất nhiều dự án và vốn đầu tư nước ngoài. Tính từ
năm 1988 đến đầu năm 2004 theo số liệu của Tổng cục thống kê dựa trên kết
25

Trích đoạn Những nhân tố trong nước Phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên gắn liền với phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam của Đảng ta trong thời gian Phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên cả về số lượng và cơ cấu trong đó chú trọng đến bộ phận công nhân trong các doanh nghiệp nhà Phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên gắn với việc mở rộng và phát huy dân chủ của công nhân, thực hiện công bằng xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status