Lời nói đầu
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và Hiến pháp 1992 đều
khẳng định: Nền kinh tế nớc ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành đó, kinh tế quốc doanh đợc xác định giữ
vai trò chủ đạo.
Xuất phát từ thực trạng kinh doanh kém hiệu quả của hệ thống doanh
nghiệp Nhà nớc và để kinh tế quốc doanh giữ đợc vai trò chủ đạo, cần phải đổi
mới một cách căn bản hoạt động của loại hình doan nghiệp này. Mục tiêu của
quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nớc là từng bớc phát huy có hiệu quả vai
trò của doanh nghiệp Nhà nớc nh một công cụ vật chất quan trọng để Nhà nớc
chi phối điều tiết sự phát triển của nền kinh tế theo định hớng đã vạch ra.
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là một giải pháp quan trọng để đổi mới
quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nớc. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu, đổi mới phơng thức quản lý nhà nớc, tạo
động lực cho ngời lao động làm chủ doanh nghiệp. Mặt khác, cổ phần hoá là
một giải pháp quan trọng góp phần hình thành thị trờng chứng khoán ở nớc ta -
một công cụ quan trọng, thiết yếu cho sự vận hành của nền kinh tế thị trờng.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một chủ trơng đúng đắn của Đảng và
Nhà nớc ta để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc nhng đến
nay việc thực hiện còn chậm.
Xuất phát từ mục tiêu, lợi ích cũng nh tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc ở nớc ta, với việc nghiên cứu thực trạng cổ phần hoá để tổng kết những
mặt đợc và những mặt còn tồn tại nhằm đa ra những giải pháp đẩy nhanh hơn,
hoàn thiện hơn quá trình này là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng, cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay. Do vậy em đã chọn đề tài Thực trạng và giải pháp
thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam .
Mặc dù đã để tâm nghiên cứu đề tài này nhng do còn có những hạn chế về
kinh nghiệm thực tiễn, về nguồn tài liệu... nên đề án không tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự góp ý phê bình của các thầy cô để có thể
hoàn thiện hơn đề án này.
trung lại thành những khoản vốn lớn đầu t vào những ngành, lĩnh vực đòi hỏi l-
ợng vốn lớn và dài hạn, mà mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp không có khả năng
tích luỹ đợc. Đây là u điểm lớn nhất của công ty cổ phần, khác biệt so với các
loại hình doanh nghiệp khác bởi vì công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp
duy nhất đợc phép phát hành cả cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn. Thông
2
qua việc mua cổ phiếu và trái phiếu, các nhà đầu t sẽ đợc nhận các cổ tức cao.
Các cổ đông mua cổ phiếu còn đợc quyền tham dự đại hội cổ đông, có quyền
biểu quyết các quyết định phơng hớng hoạt động, quyết định việc phân chia lợi
nhuận, bầu và bãi miễn các thành viên của Hội đồng quản trị và nếu điều kiện và
khả năng cho phép có thể đợc đề cử vào ban lãnh đạo của công ty. Cũng chính vì
những lợi ích trên mà việc mua cổ phiếu hấp dẫn hơn gửi tiền vào quỹ tiết kiệm
hoặc các ngân hàng.
* Công ty cổ phần tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trởng
nhanh.
Vốn đợc tập trung từ nhiều ngời với khối lợng lớn không chỉ có điều kiện
thuận lợi đầu t vào những ngành đòi hỏi vốn lớn, những ngành công nghiệp sử
dụng công nghệ cao mà còn thúc đẩy các doanh nghiệp phải ra sức hoàn thiện tổ
chức quản lý cho phù hợp với sản xuất kinh doanh kiểu mới, tạo đợc uy tín thật
sự, gây đợc tin tởng đối với ngời góp vốn.
Xét về cơ cấu kinh tế, công ty cổ phần phát triển cũng sẽ làm biến đổi cơ
cấu ấy trên cơ sở sử dụng đồng vốn, khai thác tiềm năng lao động đất nớc mang
lại hiệu quả kinh tế xã hội tốt nhất, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
năng động nhất.
* Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro, nhằm hạn chế
các tác động tiêu cực về kinh tế xã hội, doanh nghiệp lâm vào tình trạng
đình đốn phá sản.
Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Theo
chế độ này thì có sự phân biệt rõ ràng tài sản của công ty và phần vốn của cổ
đông. Trách nhiệm tài chính của công ty giới hạn trong phạm vi tài sản của công
đông, Hội đồng quản trị và ngời quản lý (Ban giám đốc). Có thể nói công ty cổ
phần là kiểu tổ chức kinh doanh tiến bộ văn minh nhất, u việt nhất của xã hội
nhân loại so với các kiểu công ty khác. Và đây là loại hình công ty không thể
thiếu đối với các nớc có nền kinh tế thị trờng. ở Việt Nam, từ khi chuyển sang
cơ chế thị trờng đã hình thành một mạng lới các công ty cổ phần. Tuy số lợng
cha phải là nhiều song loại hình doanh nghiệp này đã tỏ rõ tính hiệu quả của nó.
Vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng phát triển mạnh hệ thống công ty cổ
phần mà một trong các cách để thực hiện việc đó là cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nớc.
1.2. Cổ phần hoá.
4
* Khái niệm và thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc.
Cổ phần hoá là một khái niệm còn khá mới mẻ ở nớc ta. Về thực chất của
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc có ngời cho rằng đó là việc t nhân hoá doanh
nghiệp nhà nớc. ý kiến này chỉ đúng với một số doanh nghiệp nhà nớc nhất định.
Khi mà các doanh nghiệp ấy xét thấy quốc doanh làm không hiệu quả có thể
cho t nhân mua lại và nh vậy là t nhân hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Nhng ý kiến đó không đúng ở nhiều điểm:
Lẫn lộn khái niệm cổ phần hoá với t nhân hoá. T nhân hoá là biến một tài
sản vốn thuộc sở hữu công thành sở hữu t, có thể diễn ra cả đối với doanh nghiệp
nhà nớc và tập thể. Còn cổ phần hoá là đa sở hữu hoá tài sản, tức là chấp nhận
nhiều ngời cùng sở hữu tài sản - sở hữu hỗn hợp.
Phơng pháp t nhân hoá là bán tài sản doanh nghiệp nhà nớc cho t nhân
hoặc thậm chí cho không t nhân tài sản đó. Còn phơng pháp cổ phần hoá là huy
động nhiều chủ thể đầu t thuộc các thành phần khác nhau và cũng có thể là các
chủ thể trong một thành phần kinh tế cùng góp vốn để chuyển từ một chủ sở hữu
sang đa sở hữu. Khi đánh giá phần giá trị tài sản để cổ phần hoá có thể nhà nớc
cũng góp cổ phần vào doanh nghiệp vốn của mình đã cổ phần hoá.
Hình thức cổ phần hoá rất đa dạng:
- Bán cho các t nhân khác nhau cùng góp cổ phần thành một công ty cổ
bảo hộ và không có sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu, mặc dù về quản lý đã đợc
điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nớc trong bản thân sở
hữu nhà nớc với sự điều tiết trực tiếp của nhà nớc ở các doanh nghiệp này. Đó
là:
+ Hệ thống kế hoạch và tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng
với cơ chế thị trờng vì đợc quản lý theo hệ thống chính sách từ trên xuống với
nhiều cấp trung gian. Nguồn tài chính đợc sử dụng hoàn toàn theo kế hoạch đợc
duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng hợp lý nguồn
vốn và cũng không đợc chuyển sang cho năm sau. Điều này làm cho các kế
hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm vì vậy không hợp
lý hoá đợc sản xuất và giá thành luôn luôn phải cộng nhiều chi phí so với các
doanh nghiệp t nhân.
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhà nớc bị hạn chế vì nhiều qui chế liên quan đến quyền sở hữu
của nhà nớc, do đó gây ra những yếu tố làm cản trở đến hoạt động có hiệu quả
của doanh nghiệp. Chẳng hạn, việc bổ nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp nhà nớc đ-
ợc quyết định từ cơ quan cấp trên, nên sẽ xuất hiện xu hớng là các nhà quản lý
cao cấp cố gắng thiết lập các mối quan hệ thân thiện với cấp trên hoặc các nhà
6
hoạt động chính trị và tranh thủ tìm những doanh nghiệp ở những vị trí béo bở
hơn là tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hoặc là vì nhà n-
ớc là chủ sở hữu các doanh nghiệp nên các quyết định kinh doanh về đầu t, giá
cả thị trờng cung ứng và tiêu thụ... của doanh nghiệp lại do hệ thống phức tạp
của chủ thể cấp trên điều tiết vừa thiếu thống nhất và không rõ ràng về trách
nhiệm với các quyết định của mình, gây trở ngại tới hiệu quả công việc của các
doanh nghiệp nhà nớc.
+ Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nớc trên thị trờng đợc
pháp luật của nhà nớc củng cố đã đánh mất những động lực nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp này, đa đến tình trạng xã hội buộc phải chấp
nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ cho chúng sản xuất ra với chất lợng ít đ-
hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nớc XHCN khác trong thời kỳ
đó).
Thứ hai, quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà t sản mại bản, t sản dân tộc đã
bỏ ra nớc ngoài hoặc xí nghiệp nhà nớc của chế độ cũ. Hình thức này đợc áp
dụng rộng rãi trong những năm 50, 60 đợc tiếp tục trong những năm 70 và đỉnh
cao vào năm 1975, 1976.
Thứ ba, biến các xí nghiệp t nhân của các nhà t sản dân tộc thành các xí
nghiệp công t hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh.
Cũng giống các nớc theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam đã
vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ công hữu về t liệu sản
xuất, coi chế độ công hữu là nền tảng kinh tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo,
bất công xã hội do nền kinh tế thị trờng và chế độ t hữu gây ra, để xây dựng
một chế độ công hữu do nhân dân lao động làm chủ. Trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội nớc ta đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò của kinh tế nhà n-
ớc, coi đó là hiện thân của chế độ công hữu có sức mạnh toàn năng trong việc tổ
chức mọi hoạt động kinh tế của xã hội đồng thời phủ nhận vai trò của thị trờng,
của kinh tế t nhân.
8
Vì vậy nền kinh tế quốc dân ở nớc ta không phải là một nền sản xuất hàng
hoá mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hoá đợc quản lý theo cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp: Nhà nớc XHCN vừa tập trung quyền lực
chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các t
liệu sản xuất của xã hội. Và nhà nớc vừa là ngời chỉ huy, vừa là ngời tổ chức
thực hiện sản xuất kinh doanh.
ở nớc ta, trong thời gian dài trớc đại hội Đảng lần thứ VI (12 - 1986)
doanh nghiệp nhà nớc đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tơng đối hoàn
chỉnh, ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân nh hàng không, hàng
hải, bu điện, đờng sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch vụ đơn
giản. Doanh nghiệp nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và
nắm 100% các ngành then chốt nh điện, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy
quả.
- Bộ máy doanh nghiệp cồng kềnh, nhiều cấp trung gian với chức năng
chồng chéo. Các cơ quan quản lý thờng can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày ngày của doanh nghiệp.
2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng nớc
ta hiện nay.
Trong một thời kỳ dài chúng ta đã mắc sai lầm quá sùng bái kinh tế quốc
doanh, đã thành lập tràn lan các doanh nghiệp nhà nớc. Trong cơ chế cũ các
doanh nghiệp nhà nớc đã bộc lộ các yếu kém nh đã trình bày ở phần trên.
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc, hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn đợc xác định vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân cần phải củng cố và phát triển nhất là trong
ngành và lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đờng và tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Doanh nghiệp nhà nớc có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nớc
đối với nền kinh tế thị trờng. Đây là yêu cầu có tính quy luật chung của sự phát
triển kinh tế xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trờng chứa đựng những khuyết tật
mà muốn khắc phục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nớc.
Các doanh nghiệp nhà nớc bao gồm các các doanh nghiệp hoạt động hoạt
động kinh doanh và các doanh nghiệp hoạt động công ích đợc củng cố và phát
triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề tốt cho
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thông qua doanh nghiệp nhà n-
ớc, nhà nớc tạo ra nguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trờng, thực
10
hiện điều chỉnh các cân đối cơ bản của nền kinh tế. Doanh nghiệp thực hiện việc
đầu t có định hớng để khắc phục bản chất vô chính phủ của nền kinh tế thị tr-
ờng, duy trì môi trờng cạnh tranh lành mạnh, chống xu hớng độc quyền của tập
đoàn t nhân, đi đầu trong đổi mới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo
xu hớng năng suất - chất lợng - hiệu quả.
Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều vùng của đất nớc có nguồn tài
nguyên phong phú, lao động dồi dào ở miền núi phía Bắc hầu nh không có
doanh nghiệp nhà nớc. Sự phân tán của các doanh nghiệp nhà nớc ở các ngành
các lĩnh vực dẫn đến các tình trạng trên cùng một địa bàn lãnh thổ doanh nghiệp
nhà nớc của Trung ơng, địa phơng hoạt động chồng chéo, cạnh tranh lẫn nhau
một cách vô tổ chức, gây khó khăn cho nhau trong việc sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp nhà nớc ta có quy mô nhỏ và hoạt
động kém hiệu quả.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, tổng số vốn Nhà nớc tại các doanh
nghiệp nhà nớc là 70.184 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 11,6 tỷ đồng
tơng đơng với vốn một doanh nghiệp loại nhỏ ở các nớc nh Thái Lan, Inđônêxia,
Malaysia.
Đến nay vẫn còn 46,1% doanh nghiệp nhà nớc có số lao động dới 100 ngời
và gần 50% doanh nghiệp nhà nớc có mức vốn dới 1 tỷ đồng, trong đó gần một
nửa số vốn dới 500 triệu đồng. Các doanh nghiệp có số vốn lớn từ 100 tỷ trở lên
chỉ chiếm 1,5% tổng số doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở
lên chỉ chiếm 4% trong tổng số doanh nghiệp.
Vốn thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc chỉ bằng 80% vốn hiện
có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất mát, kém phẩm chất cha
đợc xử lý. Riêng vốn lu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50% đợc huy động
vào kinh doanh, 50% còn lại nằm ở lỗ, công nợ khó đòi.
Các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay, do quy mô nhỏ, vốn ít không
có khả năng đầu t trang thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh nên yếu
sức cạnh tranh trên thị trờng.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động
của hệ thống doanh nghiệp nhà nớc. Trừ một số rất ít (18%) doanh nghiệp nhà
nớc mới đợc đầu t (sau năm 1986) còn chủ yếu đợc thành lập từ lâu có trình độ
kỹ thuật thấp, công nghệ lạc hậu. Giá trị còn lại của tài sản cố định trong doanh
nghiệp nhà nớc là 61,4% so với nguyên giá.
12
năm gần đây, sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nớc bắt đầu đợc phục hồi và
phát triển, nhng nhìn chung hiệu quả vẫn còn thấp, thấp nhất là ở các ngành sản
xuất vật chất. Trong các doanh nghiệp nhà nớc đang hoạt động chỉ có 11,28%
13
doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận từ 15%/năm trở lên trong ngành sản xuất vật
chất và 4,3% doanh nghiệp nhà nớc có tỷ suất lợi nhuận từ 20%/năm trong các
ngành dịch vụ.
Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế
nhà nớc cao gấp 2 lần so với kinh tế t nhân. Hệ số sinh lời của khu vực doanh
nghiệp nhà nớc rất thấp. Hệ số sinh lời của vốn lu động tính chung chỉ đạt
7%/năm trong đó ngành giao thông vận tải 2%/năm, ngành công nghiệp khoảng
3%/năm, ngành thơng nghiệp đạta 22%/năm.
Các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động thu lỗ chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể ở
thời điểm 1997 chỉ có 76% hoạt động có lãi ở mức thấp, 22% doanh nghiệp bị
thua lỗ, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng/năm, 2% doanh nghiệp hoạt
động không thua lỗ, nhng không có lãi. Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua
lỗ của các doanh nghiệp nhà nớc đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách nhà nớc và
là một trong những nguyên nhân đa đến việc bội chi ngân sách.
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bớc sang hoạt động theo cơ
chế thị trờng. Các chính sách kinh tế, tài chính đối với doanh nghiệp nhà nớc đã
đợc thay đổi theo hớng tự do hoá giá cả, chi phí ngân sách nhà nớc cho bù lỗ, bù
giá, bổ sung vốn lu động cho khu vực này đã giảm đáng kể. Nhng t tởng bao cấp
trong đầu t vẫn còn nặng nề. Hàng năm 85% vốn tín dụng với lãi suất u đãi đợc
dành cho doanh nghiệp nhà nớc vay. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc không
bảo toàn đợc nguồn vốn nhà nớc đầu t. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê,
nhìn chung các doanh nghiệp nhà nớc mới chỉ bảo toàn đợc vốn lu động, còn
vốn cố định thì mới bảo toàn ở mức 50% so với chỉ số lạm phát. Hai ngành
chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thơng nghiệp (72,52%) lại là ngành có
tỷ lệ thất thoát vốn lớn nhất (16,41% và 14,95%). Vấn đề nợ nần vòng vo mất
khả năng thanh toán còn diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý của nhà