LUẬN VĂN:
Kết hợp pháp luật và đạo đức trong
quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dùng pháp luật hoặc đạo đức để cai trị đã trở thành thuật trị nước, an dân từ ngàn
xưa của các nhà nước. Dưới mỗi triều đại, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã
hội đặc thù của mình mà các giai cấp cầm quyền lựa chọn một phương thức quản lý nhà
nước thích hợp, hiệu quả, đó có thể là đức trị (quản lý xã hội bằng đạo đức), là pháp trị
(quản lý xã hội bằng pháp luật) hoặc kết hợp cả hai phương thức đó.
ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của các triều đại phong
của Người là yếu tố quyết định sự ra đời và phát triển không ngừng của hệ thống pháp
luật XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Tại Điều 2, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây gọi tắt là Hiến
pháp 1992) khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức"[9, tr.13].
Xây dựng NNPQ là nhấn mạnh vai trò của pháp luật. Song không nên đề cao một
chiều đến mức tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật, coi pháp luật là yếu tố duy nhất để
điều chỉnh các QHXH, mà bỏ qua vai trò hỗ trợ của các quy tắc xã hội khác như đạo đức,
phong tục, tập quán tốt đẹp và các quy tắc tôn giáo tiến bộ Bởi vì pháp luật chỉ tập
trung đáp ứng được trong điều chỉnh những QHXH cơ bản và quan trọng liên quan tới lợi
ích và vận mệnh của toàn bộ quốc gia. Đạo đức và các quy tắc xã hội khác sẽ bổ sung và
lấp vào các khoảng trống trong các QHXH mà pháp luật chưa vươn tới được. ở mối quan
hệ này ta thấy, trong pháp luật phải có đạo đức, thiếu đạo đức, pháp luật xơ cứng và khó
có thể thực hiện trong đời sống thực tế bằng sự tự giác, bằng niềm tin, khó có thể đạt tới
chuẩn mực của "văn hóa pháp lý". Trong đạo đức cũng phải có pháp luật, thiếu pháp luật
đạo đức mất sự định hướng để phát triển các giá trị bên trong của mình, mất đi sự bảo hộ
cho các chuẩn mực đạo đức tồn tại và phát triển lâu bền.
Những năm gần đây, hàng loạt các văn bản pháp luật của nhà nước đã thể hiện sự
pháp luật hóa những giá trị đạo đức thành chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh những quan
hệ phát triển không ngừng của đời sống xã hội như Luật Hôn nhân và gia đình (2000),
Luật Lao động (2002), Pháp lệnh cán bộ công chức (2003), Luật Dân sự (2005) Bên
cạnh đó, sự thừa nhận và khuyến khích của nhà nước đối với xây dựng hương ước mới,
xây dựng bảo tồn những phong tục tập quán có ý nghĩa trong hình thành và phát triển
nhân cách con người mới lại một lần nữa thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của nhà nước về
vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội. Có thể thấy giữa pháp luật và đạo đức luôn có
mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau.
Chỉ thị 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Đẩy
văn thạc sĩ Luật học Đại học Luật Hà Nội, 2003.
Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò, về những ảnh hưởng, tác động của đạo đức
trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật giai đoạn hiện nay bao gồm:
- Phan Văn Tỉnh, "Đạo đức truyền thống của dân tộc là môi trường thuận lợi của
việc thực hiện pháp luật", Xã hội và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
- Nguyễn Quốc Việt, "Bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong quá
trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay", Đề tài nghiên cứu cấp khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
- Công trình nghiên cứu của GS.Vũ Khiêu và PGS. Thành Duy "Pháp luật và đạo
đức trong triết lý phát triển ở Việt Nam".
Ngoài ra có một số tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
nhưng giới hạn trong phạm vi tư tưởng Hồ Chí Minh như:
- Triệu Vũ, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa đức trị và
pháp trị trong quản lý xã hội", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 11-1993, tr.17-21.
- Thành Duy "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức, đạo đức và lợi ích công dân", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3-1995,tr 4-6.
- Lê Thị Hoài Thanh "Quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ giữa đạo đức và pháp
luật", Tạp chí Giáo dục lý luận, số 6-2000, tr.24-26.
- Hoàng Thị Kim Quế, "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo đức",
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8-2002, tr.64-70.
- Lương Hồng Quang, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức
trong quản lý xã hội", Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2002.
Những công trình khoa học kể trên là nguồn tư liệu, là cơ sở lý luận cho tác giả
nghiên cứu, kế thừa trong việc xây dựng và phát triển công trình khoa học của mình theo
hướng kết hợp pháp luật với đạo đức với tư cách là một phương thức quản lý nhà nước ở
Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, kiến giải vai trò của pháp luật, của đạo đức trong
xây dựng và quản lý xã hội, từ đó đưa ra phương thức kết hợp giữa pháp luật và đạo đức
dân hiện nay.
- Đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng về sự kết hợp pháp luật với đạo đức
trong QLNN ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo kết hợp pháp luật với đạo đức trong xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện
nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương,
5 tiết. Chương 1
Cơ sở lý luận về kết hợp pháp luật và đạo đức
trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1.1. Quản lý nhà nước, các công cụ cơ bản quản lý nhà nước
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Thuật ngữ "quản lý" có nhiều nghĩa khác nhau. Theo “Từ điển tiếng Việt”, quản lý
được hiểu dưới hai khía cạnh: "1. Trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định";
"2. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [24, tr.772]. Còn
theo sách gốc và nghĩa từ Việt thông dụng, quản lý được hiểu là "trông nom, sửa sang,
sắp đặt công việc" [32, tr.695]. ở Phương Tây, từ "quản lý" (management) có nguồn gốc
Italia (managiare) được rút ra từ chữ La tinh "manus" nghĩa là bàn tay [12, tr.597].
Như vậy, có thể thấy rằng, thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau tùy
theo góc độ tiếp cận. Tuy nhiên, quan điểm chung nhất về quản lý do các nhà điều khiển
học đưa ra thì quản lý được hiểu là "sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào
đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định"
[39, tr.83]. Trong khái niệm này, "sự tác động có định hướng" được hiểu là sự tác động
có tính kế hoạch của người quản lý vào bất kỳ một thời điểm nào đó, hướng đến đối
tượng là "một hệ thống nào đó". Hệ thống này được xác định là "tập hợp nhiều yếu tố,
cư theo "địa vực", trên cơ sở thiết lập một "quyền lực công cộng" tách rời khỏi dân cư
bằng việc đặt ra pháp luật, bắt buộc mọi tổ chức, mọi thành viên của xã hội phải thi hành.
Luận điểm trên của Ăngghen cho thấy rằng, để thực hiện quyền lực, để quản lý xã hội,
Nhà nước phải có một loại người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Loại chủ thể này
được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy đại diện cho quyền
lực chính trị có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, buộc các giai
cấp khác phải phục tùng ý chí của giai cấp thống trị.
Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Ngày nay, QLNN xét về mặt
chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính của
Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp. Thông qua ba hoạt động đặc thù
này mà QLNN có những điểm khác biệt so với quản lý xã hội nói chung của các loại chủ
thể khác như đã kể trên. Đó là:
- Chủ thể QLNN là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập
pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đối tượng QLNN là toàn thể nhân dân, tức toàn bộ dân cư sống và làm việc
trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
- Vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã hội, QLNN
diễn ra trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa; xã
hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân.
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản
lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Từ những điểm khác biệt đã nêu trên, có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã
hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh
hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, do
các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con
người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Như trên đã trình bày, đối tượng của QLNN là các QHXH đầy nhạy cảm và biến
động. Nó là các thực thể sống trong mối liên hệ đan xen, phức hợp, mà không tồn tại độc
"pháp luật" vẫn chưa được nhận thức một cách thống nhất.
Quan điểm truyền thống đang được các trường đại học, các nhà khoa học, luật gia
thừa nhận cho rằng: "Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều
chỉnh các QHXH" [4, tr.64].
Tuy nhiên, một số tác giả không hoàn toàn tán thành với cách hiểu trên. Từ việc
phân tách câu từ, họ cho rằng: Nếu nói pháp luật là các "quy tắc xử sự" thì không đầy đủ,
chính xác, không bao quát hết được nội hàm bên trong của khái niệm pháp luật, bởi trong
pháp luật còn nhiều quy định khác do nhà nước ban hành mà không được coi là quy tắc
xử sự - tức chúng không phải là những khuôn mẫu, những mô hình mà luật pháp dự liệu
con người phải thực hiện nếu rơi vào trong những trường hợp đã được dự liệu trước.
Đây là cách hiểu gò bó và cứng nhắc, thiếu biện chứng khi nhìn nhận đánh giá các
sự vật hiện tượng. Thực tế là có một số không ít các quy định do Nhà nước ban hành chỉ
để quy định cách hiểu về một thuật ngữ, giải thích, giới thiệu một khái niệm hay đưa ra
những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo định hướng để thực hiện đúng, đủ một quy tắc xử sự
cụ thể. Chúng không phải là những quy tắc xử sự, bởi chúng không đưa ra được "khuôn
mẫu" xử sự, song thiếu chúng các chủ thể không thể thực hiện pháp luật một cách đúng
đắn, đầy đủ như ý tưởng của các nhà lập pháp. Không có nó, chắc chắn việc nhận thức và
thực hiện những quy tắc của hành vi sẽ không có sự thống nhất. Mặt khác, pháp luật
không phải là phép cộng dồn giản đơn các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, ở đây
chúng ta phải lưu tâm đến từ "hệ thống" những quy tắc xử sự. Chính những tư tưởng,
những nguyên tắc hay những quy định về cách hiểu các khái niệm, thuật ngữ đó sẽ là sợi
dây liên kết các quy tắc xử sự thành một thể thống nhất, thành một hệ thống hoàn chỉnh
đồng bộ.
Bên cạnh đó, cũng sẽ không là chính xác nếu hiểu pháp luật đơn thuần chỉ là ý chí
của "giai cấp thống trị". Pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, do đó tất
nhiên nó phải là ý chí của giai cấp cầm quyền. Bao giờ giai cấp này cũng thông qua nhà
nước - tổ chức đại diện chính thức và hợp pháp cho toàn xã hội để buộc các thành viên
phải phục tùng ý chí của mình. Nhà nước bằng sức mạnh cưỡng chế, bằng các biện pháp,
cơ sở để tổ chức bộ máy nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, hình thức và phương
pháp hoạt động của các cơ quan, nhân viên trong bộ máy nhà nước. Cũng nhờ có pháp
luật mà bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả, đồng
thời pháp luật cũng là công cụ để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện với sự
kiểm soát chặt chẽ. Do vậy, các hiện tượng lạm quyền, vượt quyền, thiếu trách nhiệm
bị hạn chế và loại trừ.
Do đó có thể nói, pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ và bảo đảm các
quyền tự do dân chủ, lợi ích của các thành viên trong xã hội, góp phần tạo ra môi trường
ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác nhau trên thế
giới.
1.1.2.2. Đạo đức
Cũng như pháp luật, đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp và đầy biến
động. Triết học Mác-Lênin cho rằng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức
trước hết là những quan niệm, quan điểm, tư tưởng của một cộng đồng người, một
giai cấp, một dân tộc về chân, thiện, mỹ, về hạnh phúc, về danh dự, về trách nhiệm và
tình thương, về tính trung thực, lòng vị tha, về lẽ sống
Những quan niệm, quan điểm này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau:
Thiện-ác, tốt-xấu, thật-giả, đúng-sai, cao-thấp, sang-hèn Chẳng hạn, nói dối là xấu;
trung thực, thật thà là tốt; nịnh hót là hèn; thẳng thắn, cương trực là quý; hy sinh tính
mạng cho Tổ quốc là vinh; quỳ gối khom lưng trước kẻ thù là nhục Như vậy, đạo đức
không chỉ là những quan niệm, quan điểm về chân, thiện, mỹ Nó là tất cả những quan
niệm, quan điểm, tư tưởng về "đạo làm người", về vai trò, trách nhiệm của mỗi người
trước người khác và trước cả cộng đồng xã hội. Nói cách khác, những quan niệm, quan
điểm đạo đức chính là những yêu cầu, đòi hỏi của cộng đồng xã hội đối với hành vi của
mỗi cá nhân trong xã hội. Con người sống trong xã hội dù ở cương vị nào, trong điều
kiện hoàn cảnh nào cũng phải ý thức được về chính bản thân mình, ý thức được nghĩa vụ,
bổn phận của mình đối với người khác và đối với xã hội.
Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đó, các quy tắc xử sự của con
người được hình thành. Từ quan niệm về vinh nhục người ta thấy trong chiến tranh
con người" [34, tr.13]. Không có đạo đức, người ta có thể vẫn là một nhà chuyên môn
giỏi, nhưng không thể là một con người hoàn hảo. Hồ Chí Minh đã nói:
Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi
nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã
hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt
không làm hại gì, nhưng cũng không làm lợi cho loài người việc gì [22, tr
172].
Chính vì vậy đạo đức là những quy tắc đối nhân, xử thế trong cuộc sống hàng
ngày. Nhờ có đạo đức mỗi người đều tự xác định được vị trí, vai trò của mình trong xã
hội để từ đó có những hành vi, xử sự cho phù hợp với chuẩn mực chung của xã hội, đảm
bảo hài hòa lợi ích cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của cộng đồng.
Đạo đức cũng có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố và duy trì ổn định, trật
tự xã hội. Trong xã hội nguyên thủy chưa có hệ thống QPPL, ở đó đạo đức là công cụ
quan trọng bậc nhất để điều chỉnh các QHXH, giữ ổn định trật tự xã hội. Trong xã hội có
giai cấp, để điều chỉnh các QHXH, pháp luật không phải là công cụ duy nhất, công cụ
vạn năng. Ngoài pháp luật còn có những công cụ điều chỉnh khác như đạo đức, tín điều
tôn giáo, tập quán, quy định của các tổ chức xã hội mà trong đó đạo đức là công cụ
quan trọng, thích ứng được với việc điều chỉnh mọi loại QHXH, mọi đối tượng trong xã
hội. Đạo đức điều chỉnh hầu hết các QHXH từ đơn giản đến phức tạp, nhạy cảm, từ hẹp
đến rộng, từ biểu hiện bằng hành vi cho đến lẩn khuất bên trong mỗi suy nghĩ tư tưởng
Đây là những QHXH mà pháp luật và các công cụ khác khó có thể can thiệp, thậm chí
nhiều khi pháp luật can thiệp vào còn đem lại kết quả ngược lại với mong muốn của chủ
thể tác động.
Đạo đức còn có vai trò bổ sung, thay thế cho pháp luật nhất là trong trường hợp
pháp luật chưa hoàn thiện, còn nhiều chỗ trống. Khi đó, để bảo vệ lợi ích của nhà nước,
của tổ chức hay cá nhân, nhà chức trách phải áp dụng tương tự pháp luật bằng cách dựa
vào ý thức đạo đức của mình, dựa vào những lẽ phải ở đời mà mọi người đều công nhận.
1.2. sự tương đồng, khác biệt giữa pháp luật và đạo đức, Tính tất yếu khách
quan của việc kết hợp giữa chúng trong quản lý nhà nước
lực từ nội tâm, hành vi con người sẽ đạt hiệu quả cao và vững bền nhất nếu nó phù hợp
với động cơ nội tại bên trong. Chính vì vậy, xét trong cả quá trình lịch sử, với bất cứ kiểu
nhà nước nào, kể cả trong nhà nước chuyên chế, độc tài, sự kết hợp giữa pháp luật và đạo
đức trong QLNN đều được vận dụng ở các mức độ khác nhau.
Để lý giải một cách khoa học về việc có thể kết hợp và phải kết hợp pháp luật đạo
đức trong QLNN, chúng ta cần nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và
đạo đức, lấy đó làm cơ sở kết hợp chúng trong điều kiện QLNN ở Việt Nam hiện nay.
1.2.1. Sự tương đồng giữa pháp luật và đạo đức
Thứ nhất, pháp luật và đạo đức đều là những công cụ điều chỉnh các QHXH.
Con người, trong đời sống xã hội luôn có những nhu cầu, lợi ích, mục đích nhất
định. Để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có nhiều phương pháp, cách
thức riêng. Trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, có thể có những chủ thể vì lợi ích
của mình mà làm tổn hại đến lợi ích của người khác, đến lợi ích chung của cả cộng đồng,
xã hội vì thế mà trở nên mất ổn định, trật tự xã hội sẽ bị xâm hại. Theo Tuân Tử: "Người
ta sinh ra là có lòng muốn, muốn mà không được thì không thể không tìm, tìm mà không
có chừng mực, giới hạn thì không thể không tranh. Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng"
[13, tr.321].
Điều chỉnh các QHXH là đưa ra cách xử sự mẫu cho các chủ thể, để họ thực hiện
theo khi ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Đó là việc xác định cho chủ thể
những quyền, nghĩa vụ khi họ tham gia vào những QHXH cụ thể. Điều chỉnh các QHXH
có nhiều công cụ, phương tiện khác nhau, trong đó, pháp luật và đạo đức là những công
cụ rất quan trọng. Để điều chỉnh các QHXH, pháp luật và đạo đức phải tác động vào
nhận thức của chủ thể nhằm hình thành ở chủ thể một ý thức nhất định, trên cơ sở đó, các
chủ thể lựa chọn cách xử sự phù hợp. Con người là một thực thể có lý trí và có ý chí, hoạt
động của con người là hoạt động có ý thức. Vì vậy, Nhà nước và xã hội không thể buộc
một người phải thực hiện một hành vi nào đó nếu không tác động vào ý thức của họ. Chỉ
trên cơ sở có sự tác động vào ý thức, con người mới nhận thức được trong điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể, xác định mình được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không
được làm gì Trên cơ sở nhận thức được nhu cầu đòi hỏi của xã hội, nhận thức được một
những thuần phong mỹ tục của dân tộc. Trong một số trường hợp, pháp luật cũng phản
ánh ở mức độ nhất định, các quan niệm, quan điểm đạo đức của các giai cấp và tầng lớp
khác trong xã hội, bởi vì sự hình thành các quan điểm, quan niệm đạo đức của giai cấp
thống trị cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi quan niệm đạo đức của các giai cấp, tầng lớp
khác.
Pháp luật và đạo đức trong Nhà nước XHCN về cơ bản có sự thống nhất. Pháp
luật được xây dựng trên nền tảng những quan niệm, quan điểm đạo đức của nhân dân lao
động, nhằm giữ gìn và phát huy những quan niệm, quan điểm đạo đức đó. Giữa pháp luật
và đạo đức trong CNXH, "các quan niệm về công bằng, thiện ác, nhân đạo về nguyên
tắc là không có sự đối lập nào" [26, tr.13]. ở một góc độ nào đó, pháp luật còn được coi là
những chuẩn mực đạo đức tối thiểu cần có: pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là
pháp luật tối đa.
Thứ hai, pháp luật và đạo đức đều thuộc phạm trù ý thức xã hội phản ánh tồn tại
xã hội.
Theo C.Mác, toàn bộ đời sống xã hội được chia thành hai lĩnh vực lớn: lĩnh vực
vật chất và lĩnh vực tinh thần, đó là tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Pháp luật và đạo đức
thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, nói cách khác chúng thuộc phạm trù ý thức
xã hội, là những phương thức phản ánh đời sống xã hội. Pháp luật và đạo đức đều là sản
phẩm của bộ óc con người, đều là kết quả quá trình con người nhận thức đời sống của
chính mình, tuy nhiên pháp luật và đạo đức không phải là những bản sao máy móc đời
sống kinh tế - xã hội. Hiện thực của đời sống tác động vào bộ óc con người, qua quá trình
đánh giá, sàng lọc, tổng kết cuối cùng khái quát hóa thành các quan niệm, quan điểm,
quy tắc đạo đức hay pháp luật. Sự phản ánh đời sống hiện thực bằng pháp luật và đạo đức
có thể trung thực, chính xác, nhưng cũng có thể sai lệch. Điều đó là do các yếu tố lợi ích,
lý tưởng, tài năng, ý chí của chủ thể đều tham gia vào quá trình nhận thức với những
mức độ khác nhau và ảnh hưởng nhất định đến kết quả nhận thức.
Pháp luật trước tiên phản ánh các quan hệ kinh tế và đối sánh giai cấp. Nó phản
ánh những QHXH đã tồn tại một cách khách quan, phổ biến, điển hình và tương đối ổn
định. Trên cơ sở nhận thức thực trạng, xu hướng vận động cũng như nhu cầu, đòi hỏi của
Chúng củng cố, tạo môi trường pháp lý và đạo lý thuận lợi cho các quan hệ kinh tế - xã
hội tồn tại và phát triển, đồng thời, chúng góp phần loại bỏ những quan hệ kinh tế - xã
hội không phù hợp, đi ngược lại lợi ích của giai cấp thống trị và lợi ích chung của cộng
đồng.
ở chiều ngược lại, khi pháp luật và đạo đức không phù hợp với quy luật vận động
phát triển của xã hội, không phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế chúng sẽ có tác
động tiêu cực như cản trở, kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội làm cho
đời sống xã hội trở nên mất ổn định. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng: sự tác động của pháp
luật đối với cơ sở hạ tầng là tương đối mạnh mẽ và dễ nhìn thấy, còn sự tác động của đạo
đức đến cơ sở hạ tầng không biểu lộ rõ nét như pháp luật, nên thường khó nhận thấy hơn,
thường ẩn sau các quan điểm, tư tưởng hay tập quán đang thịnh hành.
Là hai hiện tượng của kiến trúc thượng tầng, pháp luật và đạo đức đều có sự tác
động nhất định đến những thành tố khác nhau của kiến trúc thượng tầng cũng như chịu sự
tác động trở lại ở những mức độ nhất định của các yếu tố đó. Chẳng hạn cả pháp luật và
đạo đức đều bị ảnh hưởng bởi các quan điểm chính trị của giai cấp cầm quyền. Ngược lại,
cả pháp luật và đạo đức vừa là những hình thức thể hiện vừa là những công cụ, phương
tiện thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền.
Thứ tư, trong xã hội có giai cấp, pháp luật và đạo đức vừa mang tính giai cấp,
vừa mang tính xã hội.
Do điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, nên ý thức của các giai cấp cũng khác
nhau, thậm chí đối lập nhau. Trong xã hội nguyên thủy, mọi thành viên trong xã hội đều
có địa vị và lợi ích như nhau, nên đạo đức của họ là thống nhất. Khi xã hội có sự phân
hóa giai cấp thì mỗi giai cấp có những quan niệm, chuẩn mực đạo đức phù hợp với lợi
ích của giai cấp mình, vì vậy mà trong xã hội bao giờ cũng có hai hệ đạo đức song song
tồn tại. Giai cấp thống trị nhờ nắm trong tay các phương tiện sản xuất vật chất và cả các
phương tiện sản xuất tinh thần, lại có sự hỗ trợ của cả nhà nước và pháp luật, nên có điều
kiện áp đặt những quan niệm, tư tưởng đạo đức của giai cấp mình lên toàn xã hội nhằm
củng cố và bảo vệ địa vị thống trị xã hội của họ. Nhờ đó mà đạo đức của giai cấp thống
trị trở thành phổ biến trong xã hội và được củng cố, lặp đi, lặp lại thành thói quen, thành
tôn giáo. Những quy phạm này điều chỉnh rất có hiệu quả đối với QHXH trong điều kiện
một xã hội thuần nhất và lợi ích của các thành viên trong xã hội là đồng nhất. Khi trong
xã hội có kẻ giầu người nghèo, sự phân hóa giai cấp sâu sắc thì các quy phạm xã hội này
dần mất đi tác dụng do tính đa dạng của các loại lợi ích khác nhau trong xã hội. Để điều
chỉnh các QHXH trong một điều kiện mới, thông qua nhà nước, hình thành một loại quy
tắc xử sự mới, đó là pháp luật. Những quy tắc xử sự mới này được hình thành bằng ba
con đường:
Một là, Nhà nước thừa nhận những quy tắc xử sự đang tồn tại phù hợp với điều
kiện xã hội, không mâu thuẫn với lợi ích giai cấp cầm quyền và dùng quyền lực nhà nước
đảm bảo cho nó được thực hiện trên thực tế.
Hai là, Nhà nước thừa nhận cách giải quyết các vụ việc cụ thể trên thực tế của các
cơ quan nhà nước, lấy nó làm khuôn mẫu để giải quyết các việc có nội dung tương tự về
sau.
Ba là, Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước ban hành những văn bản trong
đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật.
Như vậy, pháp luật hình thành là kết quả của hoạt động tự giác, tư duy tích cực
của nhà nước, tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội. Khi mới hình thành, pháp luật
chủ yếu tồn tại ở dạng không thành văn. Sau này cùng với sự phát triển của xã hội, pháp
luật ngày càng chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản QPPL.
Cũng như pháp luật, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả
tất yếu của cuộc sống con người. Tuy nhiên, đạo đức chủ yếu hình thành bằng con đường
tự phát. Chúng xuất hiện và tồn tại không cần qua một thiết chế xã hội nào mà chỉ cần sự
thừa nhận của cộng đồng. Ban đầu chỉ là xử sự của một chủ thể nào đó, do nhu cầu, đòi
hỏi của cuộc sống mà dần dần người ta ý thức được đó là điều nên làm, không nên làm, cần
phải làm hay không được làm. Những quan niệm, quan điểm đầu tiên về cách thức xử sự
giữa con người với nhau trong cuộc sống vì vậy mà từng bước được hình thành.
Đạo đức cũng có thể được hình thành một cách tự giác, nó là kết quả hoạt động
nhận thức thực tiễn và sáng tạo tích cực của những cá nhân tiêu biểu, những người có uy
tín và địa vị trong cộng đồng xã hội. Xã hội nào cũng xuất hiện những cá nhân tiêu biểu,
hội muốn mọi người phải khoan dung độ lượng, mở ra con đường sống cho những kẻ lạc
lối lầm đường, cho những kẻ ăn năn hối cải. Hoặc với quan niệm: "Một cây làm chẳng
nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" thì lại hướng con người đến sự đoàn kết,
tương thân, tương ái trong lao động, sản xuất, trong sinh hoạt đời thường cũng như trong
gian nan, khổ cực, chiến tranh Chỉ là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo giản dị ấy,
nhưng trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, nó đã tạo nên sức mạnh vật chất khổng lồ.
Đoàn kết dân tộc, cố kết làng xã chính là chìa khóa để giải đáp cho sức mạnh thần kỳ của
dân tộc Việt Nam trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Pháp luật được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng xu hướng
chung là tồn tại một cách phổ biến dưới dạng các văn bản QPPL. Dưới hình thức tồn tại
này, pháp luật thể hiện một cách tập trung nhất ý chí của nhà nước, đồng thời, khi đó nó
cũng đảm bảo tính minh bạch, chính xác của pháp luật trong điều chỉnh các QHXH.