LUẬN VĂN: Chương trình truyền hình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Chương trình truyền hình dành cho
người Việt Nam ở nước ngoài
Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài; thường xuyên đề ra những chủ trương, chính sách tích
cực nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập trung lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/03/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người
Việt Nam ở nước ngoài khẳng định: “ Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách
rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần

quả đưa chương trình đến với đông đảo cộng đồng người Việt Nam tại các nước” [48,
tr.164], cùng với các phương tiện thông tin đối ngoại khác, kênh truyền hình VTV4 của Đài
Truyền hình Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng kịp thời việc đưa thông tin một cách “chính
thống”, nhanh nhạy, trung thực về mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam đến với
thế giới và NVNONN. Qua đó, giúp cho cộng đồng hiểu một cách đầy đủ, chính xác hơn về
chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những thành tựu đã đạt được của công cuộc
đổi mới trên đất nước ta.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của VTV4, cần làm tốt công tác nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn việc xây dựng, sản xuất chương trình, khả năng chuyển tải thông tin và khả
năng tiếp nhận của khán giả. Bởi vậy, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “ Chương trình
truyền hình dành cho người Việt Nam ở nước ngoài” của Đài Truyền hình Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Đến nay, đã có Đề án nâng cao chất lượng kênh truyền hình VTV4 của Ban Truyền
hình Đối ngoại - Đài THVN; luận văn: Nâng cao hiệu quả chương trình thời sự đối ngoại
của Đài Truyền hình Việt Nam của tác giả Đào Huy Hoàng, Khoa Báo chí - Học viện Báo
chí và Tuyên truyền đề cập đến các bản tin thời sự bằng tiếng nước ngoài phát trên các kênh

VTV1, VTV2 và VTV4 của THVN. Ngoài ra, chưa có một công trình nào nghiên cứu
chuyên biệt về lý luận và thực tiễn chương trình truyền hình dành cho NVNONN.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Mục đích của luận văn là nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn chương trình
truyền hình dành cho NVNONN của Truyền hình Việt Nam. Qua đó rút ra những ưu,
nhược điểm của các chương trình; đưa ra nhận xét, đánh giá mang tính lý luận; đề xuất,
kiến nghị những giải pháp về nội dung, hình thức thể hiện và qui trình sản xuất nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả chương trình truyền hình phù hợp với đối tượng công chúng là
NVNONN.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát, tổng hợp, phân tích và đánh giá chất lượng, hiệu
quả của các chương trình truyền hình dành cho NVNONN trên sóng VTV4, Đài THVN;
tiến hành khảo sát nghiên cứu ý kiến khán giả truyền hình là những NVNONN để từ đó
chỉ ra đặc điểm tâm lý tiếp nhận của đối tượng công chúng đặc biệt này; khảo sát hoạt

toàn diện, có hệ thống.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình dành
cho đối tượng công chúng là NVNONN.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Rút ra những kinh nghiệm thực tiễn và một số vấn đề lý luận nhằm nâng cao hiểu biết
phục vụ cho công tác chuyên môn.
- Làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong việc hoạch định những chính sách và
xây dựng qui trình sản xuất phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình
dành cho NVNONN.
- Làm tư liệu tham khảo cho các đồng nghiệp và cho sinh viên nghành báo chí và
những ai quan tâm đến loại hình báo chí truyền hình.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.

Chương 1

Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; vai trò, nhiệm vụ của Truyền
hình Việt Nam trong công tác thông tin, tuyên truyền đối với người Việt Nam ở
nước ngoài.

1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về người Việt Nam ở nước ngoài.
1.1.1. Một số vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài.
1.1.1.1. Lịch sử hình thành cộng đồng NVNONN.
Quá trình hình thành cộng đồng NVNONN gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc. Thật khó có thể khẳng định chính xác mốc thời gian
và địa điểm những người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài sinh sống. Nhưng, nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, từ xa xưa
đã có người Việt Nam ở nước ngoài. “ Một trong những cái mốc về thời điểm người

thân mình trên đất khách vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
ở các nước phương Tây, những năm đầu thế kỷ thứ XX cũng diễn ra nhiều hoạt
động sôi nổi của những người Việt Nam yêu nước. Có một số nhân sĩ mà tên tuổi của họ
đã trở thành niềm tự hào của NVNONN như Phan Chu Trinh (sống tại Pháp từ 1911 đến
1925); Phan Văn Trường ở Pháp từ đầu thế kỷ đến 1924; Nguyễn An Ninh ở Pháp từ
1917 đến 1925. Đặc biệt là nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành. Năm 1911, từ một người
thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bôn ba, sống và hoạt động cách mạng trên tất
cả các châu lục và trở thành nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt nam với tên gọi
Nguyễn ái Quốc và sau này là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Những năm tháng hoạt động ở nước
ngoài và ngay cả khi đã trở thành vị Chủ Tịch nước, Bác Hồ luôn luôn chú trọng tới công
tác vận động kiều bào hướng về cách mạng, hướng về Tổ quốc.
Từ năm 1954 đến năm 1975 là giai đoạn nước ta bước vào cuộc đấu tranh
chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Hoàn cảnh chiến tranh đã có tác động mạnh
mẽ đến việc di cư của người Việt Nam ra nước ngoài. Động cơ, mục đích ra nước
ngoài của người Việt giai đoạn này đa dạng hơn. Địa bàn người Việt đến định cư

giai đoạn này đã mở rộng hơn. Ngoài các nước trong khu vực, người Việt đã đến
các nước châu Âu, Mỹ, Canađa, ốtxtrâylia…
Đáng kể nhất là ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ
đầu đất nước thống nhất, do sự kích động của các thế lực thù địch và sự bao vây
cấm vận kinh tế của Mỹ dẫn đến đời sống kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn.
Giai đoạn này đã có hàng trăm nghìn người Việt Nam di tản ra nước ngoài. Chỉ
tính từ sau năm 1975 đến đầu những năm 1980 đã có khoảng hơn 1 triệu người Việt
Nam ra nước ngoài sinh sống, chủ yếu là sang Mỹ, Pháp, Canađa, và một số nước
tư bản khác. Ngoài số người ra nước ngoài có nguyên nhân từ sự thất bại của đế
quốc Mỹ và Ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam, còn phải kể đến số người di cư
do các sự kiện xung đột quân sự ở biên giới phía Bắc, những biến động ở
Campuchia và biên giới phía Tây Nam.
Cơ chế quan liêu, bao cấp trì trệ kéo dài đã dẫn tới việc nền kinh tế, xã hội
nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân gặp nhiều

đình, hình thành các cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn mới như Hàn
Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia…
So với các cộng đồng thiểu số khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là
cộng đồng trẻ, năng động. Phần đông bà con hiện ngày càng ổn định cuộc sống và
hoà nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị xã
hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau đến mối quan hệ giữa các nước đó
với Việt Nam. Điều đáng quý là dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cộng đồng
luôn duy trì mối quan hệ gần gũi với quê hương, mong muốn đất nước phát triển và
hội nhập với quốc tế. Trừ có một bộ phận đồng bào chưa hiểu đúng về tình hình đất
nước nên còn có thái độ tiêu cực hoặc dè dặt, thậm chí một số ít người đi ngược lại
lợi ích chung của dân tộc.
Những số liệu trên đây cho chúng ta thấy tính chất đa dạng, phức tạp của quá
trình hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Điều kiện, hoàn cảnh
chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn đã tạo ra cho những
người Việt Nam đi ra nước ngoài có những động cơ, mục đích khác nhau. Qua
tổng hợp, phân tích, chúng tôi thấy: trên cơ sở nguồn gốc phức tạp của các nhóm di

cư đã hình thành nên cộng đồng NVNONNvới 2,7 triệu người sinh sống tại 90 quốc
gia trên khắp các châu lục, tập trung tại 21 nước thuộc 5 khu vực chính là Bắc Mỹ,
Tây- Bắc Âu; Nga và Đông Âu; Đông Dương - Đông Bắc á, Châu úc. Riêng ở Mỹ
hiện có tới một nửa trong tổng số kiều bào ở nước ngoài. Chính sự phức tạp trong
lịch sử hình thành đã làm nên tính đa dạng và những đặc thù của cộng đồng
NVNONN.
1.1.1.2. Báo chí và nhu cầu thông tin về tình hình đất nước của cộng đồng.
- Tình hình báo chí ở nước ngoài và những tác động tới cộng đồng.
Như đã đề cập ở phần lịch sử hình thành, do nguồn gốc di cư phức tạp nên
cộng đồng NVNONN có rất nhiều nét khác biệt về đời sống kinh tế, chính trị, tư
tưởng, văn hóa, sắc tộc, tôn giáo… Điều này được thể hiện rõ nét trong lĩnh vực báo
chí của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Theo số liệu và đánh giá của các cơ quan chức năng thì tình hình báo chí của

trong tổ chức vận động dân chủ của Mỹ tác động tới Việt Nam có tạp chí Hợp lưu và
Đối thoại với chủ trương phân hoá, chia rẽ khối đại đoàn kết trong nước và trước hết
là giới trí thức, văn nghệ sĩ, người hoạt động tôn giáo. Tờ Tạp chí Việt Nam mới với
lời khẳng định là tiếng nói đối lập với Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam, kêu gọi
độc giả “hãy can đảm sử dụng quyền dân chủ, chống lại mọi sự trù dập, đàn áp để hỗ
trợ cho sự đổi mới, làm cho Việt Nam giàu đẹp mười lần hơn”. Kêu gọi các nhà lãnh
đạo Việt Nam “chấp nhận sự hiện diện của tiếng nói đối lập ngoài Đảng, để cùng
nhau xây dựng một nhà nước Việt Nam thật sự mới mẻ, giàu mạnh”. Cùng mục tiêu
chống cộng sản là các tờ nguyệt san Chứng nhân của Hội văn nghệ sĩ Việt Nam tự do
và tờ Kháng chiến của Mặt trận Quốc gia Thống nhất giải phóng Việt Nam do Hoàng
Cơ Minh cầm đầu. Rồi các tờ: Quê mẹ do nhóm của Võ Văn Ái ở Pháp… Nhiều tổ
chức phản động lưu vong ở các nước liên kết với nhau để hoạt động chống phá đất
nước thông qua báo chí. Tiêu biểu phải kể đến nhóm chống đối đất nước ở Hoa Kỳ
cùng một số người Việt Nam ở Nga lập nên cái gọi là đài: Tiếng nói tự do phát thanh
từ Mạc Tư Khoa. Rồi các đài phát thanh tiếng Việt như Regiona của tổ chức Phục
hưng Việt Nam; đài Diễn đàn dân chủ để tuyên truyền xuyên tạc Việt Nam và thực tế
đời sống của NVNONN.

Tuy nhiên, như đã đề cập, các phần tử chống đối chỉ là một nhóm nhỏ và càng
điên cuồng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và khối đại đoàn kết toàn
dân, chúng càng bị cô lập, tiếng nói của chúng ngày càng trở nên lạc lõng trong
cộng đồng NVNONN.
Bên cạnh các tờ báo, chương trình phát thanh truyền hình của các lực lượng
phản động có nội dung độc hại còn có những tiếng nói yêu nước, gắn bó với Tổ
quốc. Nhiều tờ báo của các tổ chức xã hội, đoàn thể là diễn đàn, là nhịp cầu để
NVNONN hướng về đất nước. Tiêu biểu là ở Mátxcơva, nơi tập trung số lượng
người Việt đông đảo nhất so với các thành phố thuộc Liên xô và các nước Đông Âu
cũ. Đại sứ quán Việt Nam đã tổ chức xuất bản tạp chí và tuần tin Đất nước. Ngoài
việc thông tin tình hình phát triển kinh tế xã hội trong nước, tạp chí và tuần tin Đất
nước đã giới thiệu nhiều về tình hình của cộng đồng, dành nhiều trang giới thiệu

mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội từ trong nước. Trao đổi trực tiếp với
nhiều tầng lớp kiều bào về thăm quê hương; qua những lá thư công chúng gửi về
VTV4 và qua phiếu trưng cầu ý kiến khán giả mà chúng tôi thực hiện đã nói lên
nguyện vọng thiết tha ấy của cộng đồng.
Do đặc điểm đồng bào di cư bao gồm đủ các thành phần, lứa tuổi, trình độ, nên vấn
đề hoà nhập với cuộc sống ở đất nước sở tại là rất khó khăn. Ngôn ngữ là một rào cản lớn
với một bộ phận NVNONN. Nhiều người đã định cư ở nước ngoài tới vài chục năm,
nhưng khả năng ngôn ngữ vẫn rất hạn chế. “Đến thăm các gia đình người Việt ngụ cư ở
Cahramatta, nhiều người thú nhận: họ xem chương trình tivi ốtxtrâylia chủ yếu xem hình
ảnh” [14, tr.138]. Bởi vậy, nhu cầu tiếp nhận thông tin về thế giới, về Tổ quốc bằng tiếng
Việt trong cộng đồng là rất lớn. Đặc biệt là những nguồn thông tin qua báo chí chính thức
của nước nhà.
Trước nguyện vọng và đòi hỏi đáp ứng về thông tin của cộng đồng, thời gian qua,
báo chí trong nước đã làm được những gì? Có thoả mãn được nhu cầu thông tin của cộng
đồng người Việt Nam xa Tổ quốc hay không?
Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm tới công tác về
NVNONN, trong đó có hoạt động thông tin báo chí. Ngày càng có nhiều cơ quan báo
chí tham gia vào công tác thông tin cho kiều bào. Đài Truyền hình Việt Nam có
chương trình VTV4 dành riêng cho cộng đồng NVNONN phủ sóng đến các khu vực
châu Á, châu Âu, Bắc và Trung Phi, Bắc Mỹ và Tây Bắc ốtxtrâylia. THVN đã hợp tác
với Jump TV Canađa đưa VTV4 lên mạng Internet và đang nghiên cứu khả năng đưa

truyền hình qua Internet hoặc hệ thống truyền hình cáp ở một số nuớc. Đài tiếng nói
Việt nam có chương trình phát thanh “Dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc”.
Hiện cả nước có 21 tờ báo điện tử và hàng chục website chuyên nghành trên
mạng Internet cung cấp thông tin cho quốc tế và trong nước. Trong đó, một số trang
web và báo điện tử có chuyên mục dành riêng cho kiều bào như báo Nhân dân, Đài
Tiếng nói Việt Nam, Báo Lao động, TTXVN, Đại đoàn kết, Thanh niên, Vietnam
net… đưa nhiều tin bài về các vấn đề có liên quan đến cộng đồng NVNONN. Công ty
VTC của bộ Bưu chính - Viễn thông đang chuẩn bị đưa VTV1, 2, 3 lên mạng Internet

xem truyền hình. Điều này đòi hỏi các cơ quan truyền thông đại chúng trong
nước phải chú trọng hơn nữa đến việc nắm bắt đặc điểm công chúng; chủ
động đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, hình thức báo chí để thực hiện
tốt hơn nhu cầu thông tin của cộng đồng trong tình hình mới

.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác thông tin,
tuyên truyền đối với NVNONN.
1.1.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thông tin cho
NVNONN.
Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của
Đảng, Nhà nước nhằm làm cho các nước, người nước ngoài, NVNONN hiểu về đất
nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương chính sách và thành tựu đổi mới
của ta. Trên cơ sở đó, chúng ta tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng
góp của cộng đồng NVNONN cho sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc.
Xác định tầm quan trọng của lĩnh vực này, Đảng, Nhà nước ta đã ra nhiều chỉ
thị, nghị quyết nhằm khẳng định vai trò, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại.
Cụ thể: chỉ thị 11-CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về
“Đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”; Thông báo số 188-TB/TW
ngày 29/12/1998 của Ban chấp hành Trung ương thông báo ý kiến Thường vụ Bộ
Chính trị về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới.
Để thực hiện có hiệu quả chủ trương này, Trung ương Đảng đã ra Quyết định
số 16-QĐ/TW về việc thành lập Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại và ban

hành Quy chế “phối hợp chỉ đạo hoạt động công tác thông tin đối ngoại”. Ngày
26/4/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị về “tăng cường quản lý và đẩy mạnh
công tác thông tin đối ngoại ”.
Công tác thông tin đối ngoại trên các phương tiện thông tin đại chúng được
xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng của thông tin đối ngoại, trong các văn
bản, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước đều có nội dung chỉ đạo kịp thời,

Nhà nước coi NVNONN là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng
đồng dân tộc Việt Nam; phổ biến rộng rãi các chính sách chung cũng như các
chính sách liên quan đến NVNONN.
- Tôn vinh lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình cảm quê hương cội nguồn của
người Việt Nam ở xa Tổ quốc, phát huy tinh thần đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, phản
ánh đầy đủ tâm tư tình cảm của NVNONN.
- Giới thiệu mọi mặt đời sống của đất nước, truyền thống lịch sử văn hoá, văn
minh của Việt Nam, quảng bá du lịch, quảng bá tiếng Việt, giáo dục luật pháp, tăng
cường tinh thần hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Thế giới.
1.1.2.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với Truyền hình
Việt Nam.
Trong các loại hình báo chí của xã hội hiện đại, truyền hình là một trong
những phương tiện truyền tải thông tin hữu hiệu nhất. Nó đặc biệt phát huy thế
mạnh của mình trong công tác thông tin đối ngoại bởi khả năng vượt qua mọi rào
cản của biên giới, lãnh thổ của quốc gia, phủ sóng toàn cầu.
Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò, vị trí của truyền hình trong công tác
thông tin tuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền đối ngoại. Chỉ thị số 11-CT/TW
ngày 13/6/1992 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định lực lượng và
phương thức thông tin đối ngoại đã chỉ rõ, cần phải: “Nâng cao chất lượng chương
trình Truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam, mở rộng việc trao đổi chương
trình và hợp tác với Đài Truyền hình các nước”. Thông báo số 188- TB/TW ngày
29/12/1998 của Bộ Chính trị về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới
cũng xác định: “Tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống thông tấn báo chí,
xuất bản quốc gia như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài

Tiếng nói Việt Nam, một số báo và nhà xuất bản lớn để làm nòng cốt cho công tác
thông tin đối ngoại ”.
Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối
với NVNONN cũng đề cập tới vai trò nhiệm vụ của truyền hình. Cụ thể hơn, trong
chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36, cùng với các cơ

loại báo chí điện tử khác” [29, tr.51]. “ Báo chí là một hình thái ý thức -xã hội, lấy
hiện thực khách quan làm đối tượng để phản ánh “[11, tr.7]. “Báo chí là một hiện
tượng đa nghĩa, phức tạp “ [36, tr.13].
Khái niệm về loại hình báo chí truyền hình về thực chất là sự mở rộng và phát
triển khái niệm báo chí. Theo từ điển tiếng Việt, Truyền hình được hiểu là: “truyền
hình ảnh, thường đồng thời có cả âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đường giây.
Truyền hình tại chỗ trận bóng đá. Vô tuyến truyền hình. Đài Truyền hình [ 51,
tr.1017]. Chương trình: “ Toàn bộ nội dung những dự kiến hoạt động theo một
trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định, nêu một cách vắn tắt” [51,
tr.186].
Từ những khái niệm nêu trên về báo chí và truyền hình, chúng tôi đưa ra nhận
xét khái quát về truyền hình như sau: Truyền hình là một kênh truyền thông, một
loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là sử dụng hình ảnh
và âm thanh một cách trung thực, sinh động thông qua kỹ thuật truyền dẫn phát
sóng để chuyển tải thông điệp đến công chúng bằng cách tác động đến thị giác và
thính giác của đối tượng tiếp nhận.
Do những thế mạnh được tạo bởi sự phát triển của khoa học, công nghệ, tính
trực tiếp, trung thực, mới mẻ và sinh động của thông tin nên trong xã hội hiện đại,
truyền hình được đông đảo công chúng đón nhận và trở thành một loại hình báo chí
có ưu thế trong hệ thống truyền thông đại chúng.
1.2.1.1. Khái quát sự ra đời của chương trình VTV4.
Ngày 7 tháng 9 năm 1970, ngày phát sóng Chương trình Truyền hình đầu tiên
đã trở thành ngày truyền thống của Truyền hình Việt Nam. Trong suốt 35 năm qua,
thông tin đối ngoại luôn có một vai trò và vị trí đặc biệt trong hoạt động của Đài
THVN. Mốc lịch sử đầu tiên của hoạt động thông tin đối ngoại là ngày 4/1/1968,
Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đã ký quyết định thành lập xưởng phim vô tuyến

truyền hình. Từ xưởng phim này, nhiều tin tức, phóng sự phim tài liệu 16 ly đã
được sản xuất và gửi phát sóng trên các kênh truyền hình của một số nước. Những
thông tin này đã góp phần giúp cho thế giới hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh chính

hàng ngày từ 21 giờ 45 đến 22 giờ 45 (giờ Hà Nội)” [18 tr.115].
Sau một thời gian phát thử nghiệm, đến tháng 2/1998, VTV4 đã đã phủ sóng
tại Châu á và Châu Âu 2 giờ/ngày với băng tần C. Năm 1999, với băng tần C và
KU, VTV4 nâng thời lượng lên 4 giờ/ngày. Năm 2000 sử dụng băng tần KU phủ
sóng tại Bắc Mỹ và Caribê 4 giờ/ngày. Từ năm 2002 chương trình VTV4 nâng thời
lượng phát sóng lên 8 giờ/ngày. Qua các vệ tinh MEASAT1, THAICOM3,
TELSTAR5, HOTBIRD3.
Thực tế đã khẳng định hiệu quả của VTV4 trong công tác thông tin đối ngoại
và vận động cộng đồng NVNONN. Trên cơ sở đó, ngày 7/2/2002, Thủ tướng Chính
Phủ đã ký quyết định số 29/2002/QĐ-TTg chính thức thành lập Ban Truyền hình
Đối ngoại trực thuộc Đài THVN. Quyết định 233/QĐ - THVN của Tổng giám đốc
Đài THVN đã quy định: Ban Truyền hình Đối ngoại có chức năng sản xuất, khai
thác các chương trình Truyền hình để phát trên kênh đối ngoại đáp ứng yêu cầu
thông tin, nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của cộng đồng NVNONN và bạn bè
quốc tế - những người quan tâm đến Việt Nam.
Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng việc phát sóng chương trình truyền hình
quốc gia bằng tiếng Việt đến nơi kiều bào ta sinh sống là một tín hiệu vui mừng đối
với cộng đồng. Các chương trình của VTV4 dẫu còn sơ khai cũng đã lay thức trái
tim của nhiều người Việt Nam xa xứ, hướng họ về với Tổ quốc. Được xem chương
trình truyền hình của Tổ quốc, nhiều kiều bào đã gửi thư bày tỏ tình cảm và ý kiến
của mình về chương trình. Đây là nguồn động viên to lớn với những người làm
truyền hình VTV4. Thư của Nguyễn Hồng Nhung gửi về từ Bu-đa-pét, Hung ga ri là
một trong rất nhiều những lá thư như thế: “ Tôi có cảm giác những chương trình
truyền hình phát đi từ đất nước của tôi giống như một người mẹ nghèo, cứ phải chắt
chiu, dành dụm, nhịn ăn từng hạt cơm, miếng rau để chia đều cho lũ con đông háu
đói. Có lẽ mẹ Việt Nam hiểu chúng tôi, lũ con xa nhà mong mỏi từng hình ảnh, từng
kỷ niệm, từng phút sống của quê hương - nên cố gắng mỗi tối cho chúng tôi được
xem, được sống lại những cảm giác được ở nhà mình, được nghe tiếng người mình và

được cảm thấy mình là dân Việt, tuy còn nghèo mà sức sống vẫn mãnh liệt xiết

sâu thẳm tâm hồn của mỗi người con xa xứ vẫn là nỗi nhớ thương da diết từng con
đường, góc phố, cây đa, bến nước, mái đình, những câu hò, điệu lý. Và, VTV4 là
nhịp cầu giúp những người Việt Nam xa xứ gần gũi, gắn bó hơn với quê hương xứ
sở của mình.
Tìm hiểu cộng đồng NVNONN, chúng ta thấy nổi lên một số đặc điểm. So với
cộng đồng kiều dân khác, cộng đồng NVNONN là một cộng đồng tương đối trẻ,
mới phát triển rõ nét từ những năm cuối thập kỷ 70. Và cũng từ những năm này,
cộng đồng phát triển theo xu hướng định cư lâu dài và hội nhập dần vào xã hội nơi
cư trú. Hiện, theo thống kê sơ bộ có tới 80% trong tổng số NVNONN sống tại các
nước công nghiệp phát triển. Các nước tập trung đông người Việt Nam nhất là: Mỹ
1,3 triệu người; Pháp 300 ngàn người; ốtxtrâylia 250 ngàn người, Canađa 200 ngàn
người, Đức 100 ngàn người.
Sinh sống ở các nước công nghiệp phát triển nhưng do hoàn cảnh và điều kiện
di cư nên cộng đồng NVNONN hiện rất đa dạng về tầng lớp xã hội, nghề nghiệp,
tôn giáo, dân tộc, thế hệ và các xu hướng chính trị khác nhau.
Do là một cộng đồng trẻ, nên tiềm lực kinh tế của cộng đồng người Việt so với
các cộng đồng kiều dân các trên thế giới không phải là lớn. Theo báo chí nước
ngoài, thu nhập hàng năm của kiều bào ước tính khoảng từ 25-30 tỷ USD. Trong
cộng đồng không có nhà tài phiệt về tài chính và ngân hàng, người có số vốn lớn
không nhiều, đa số ở mức vừa và nhỏ, chủ yếu tích luỹ qua quá trình làm công hoặc
kinh doanh nhỏ nhưng cần mẫn và tiết kiệm.
Nếu tiềm năng về kinh tế của cộng đồng NVNONN còn khiêm tốn, thì tiềm
năng về chất xám của kiều bào lại là rất đáng kể. Theo ước tính có tới 300 ngàn
người trong cộng đồng có trình độ từ đại học trở lên hoặc lao động có tay nghề cao.
Giáo sư Trần Văn Giàu cũng đã đánh giá vấn đề này dưới góc độ lịch sử khi ông so
sánh kiều bào ta với người Trung Quốc. Ông cho rằng:
Nếu người Trung Quốc từ xa xưa đã chú trọng đến kinh tế “ Phi thương bất
phú” thì “NgườiViệt Nam coi thường thương nhân - con buôn. “Sĩ - nông -
công- thương” mới là quan niệm của người Việt Nam. Người Việt Nam
không có sở trường thương mại, coi khinh buôn bán, trọng trí tuệ. Đi ra nước


tư là hàng chục ngàn lao động xuất khẩu của Việt Nam ở nhiều nước mà hiện nay chủ
yếu là ở các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…
Do những nguyên nhân, hoàn cảnh ra đi khác nhau này đã tạo nên một cộng đồng
NVNONN phong phú, đa dạng về rất nhiều phương diện. Đây là điểm khác biệt khá
điển hình so với nhiều cộng đồng kiều dân khác. Trong số những người Việt Nam định
cư ở nước ngoài có: “Không ít người vẫn còn mặc cảm với quá khứ “vượt biên”, thành
kiến nặng nề hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, một ít còn mang trong mình tư tưởng
hận thù cách mạng” [5, tr.21].
Đây chính là đặc điểm lớn nhất cần phải được nghiên cứu về cộng đồng với tính
cách là đối tượng công chúng đặc biệt của VTV4. Bởi chính đặc điểm này đã tạo nên
thái độ và tâm lý tiếp nhận chương trình của từng nhóm công chúng. Điều này được thể
hiện: những kiều bào có mong muốn được trở về đóng góp công sức xây dựng quê
hương, họ luôn quan tâm theo dõi tìm hiểu thông tin về Tổ quốc qua chương trình
truyền hình VTV4. Bên cạnh đó, cũng còn không ít người do mặc cảm quá khứ nên
chưa lần nào về nước và vẫn giữ trong mình hình ảnh một đất nước Việt Nam nghèo
khó hoặc trì trệ, ảm đạm. Thêm vào đó là sự tác động của báo chí và các đài phát thanh,
truyền hình có quan điểm chống đối đã bóp méo, xuyên tạc thông tin về đất nước nên
bộ phận kiều bào này luôn có thái độ ngờ vực với thông tin mà chương trình đưa ra.
Tuy nhiên, đại đa số NVNONN dẫu sống xa Tổ quốc nhưng vẫn luôn tự hào, tự
tôn dân tộc. Những năm gần đây, thái độ chính trị trong cộng đồng đối với đất nước đã
có nhiều chuyển biến tích cực. Số những người thờ ơ, quay lưng lại với đất nước đã
giảm dần. Hằng năm, lượng kiều bào về thăm quê hương ngày một đông hơn. Họ
không khỏi ngạc nhiên và vui mừng trước sự đổi thay mạnh mẽ của đất nước. Qua họ,
ngày càng có nhiều NVNONN hoan nghênh, công khai bày tỏ lòng tin tưởng vào công
cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo và mong muốn đóng góp sức mình vào
sự nghiệp chung của cả dân tộc.
Trong số hàng chục vạn kiều bào về nước hôm nay, nhiều người từng một thời có
lập trường quan điểm không đồng nhất, thậm chí từng đứng bên kia chiến tuyến chống
lại lợi ích dân tộc. Sự trở về của họ là bằng chứng thuyết phục đối với cộng đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status