chương trình truyền hình dành cho người việt nam ở nước ngoài - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nớc ta luôn quan tâm đến
cộng đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài; thờng xuyên đề ra những chủ trơng, chính
sách tích cực nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập trung lực lợng xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/03/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với
ngời Việt Nam ở nớc ngoài khẳng định:

Ngời Việt Nam ở nớc ngoài là bộ phận
không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan
trọng góp phần tăng cờng quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nớc ta với các nớc
[5,tr.147]. Đồng thời nhấn mạnh: Công tác đối với ngời Việt nam ở nớc ngoài là
trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức Đảng, Nhà n-
ớc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ
Trung ơng đến địa phơng, ở trong nớc và ngoài nớc và toàn dân ta [5,tr.148].
Hiện có khoảng 2,7 triệu ngời Việt Nam sinh sống ở gần 90 quốc gia và vùng
lãnh thổ trên khắp thế giới. Cũng nh mọi cộng đồng dân c khác, cộng đồng
NVNONN có nhu cầu rất lớn đợc thu nhận thông tin hằng ngày về tình hình đất nớc,
quê hơng, về tình hình quốc tế. Hơn thế nữa, là những ngời Việt Nam giàu tình cảm
đối với quê hơng, xứ sở, nhiều ngời ra đi do những biến cố lịch sử nên ngời Việt xa
Tổ quốc lại càng có nhu cầu tiếp nhận thông tin từ trong nớc. Tuy nhiên, với một cộng
đồng lớn, trải rộng ở nhiều quốc gia nh vậy nên các phơng tiện truyền thông trong n-
ớc gặp không ít khó khăn trong việc cung cấp thông tin cho họ. Suốt một thời gian dài
chúng ta còn lúng túng trong công tác này. Cho nên, mặc dù có nhiều cố gắng nhng
báo chí trong nớc cha đáp ứng đợc nhu cầu của cộng đồng. Trong khi đó, cộng đồng
NVNONN tiếp nhận một lợng thông tin khổng lồ về Tổ quốc mình qua hệ thống đài,
báo của nớc ngoài thông qua các lăng kính và quan điểm khác nhau. Số liệu của các
cơ quan chức năng cho biết hiện trên thế giới có tới trên 400 tờ báo, tạp chí, 82 nhà
xuất bản và tới 49 đài phát thanh, truyền hình có chơng trình tiếng Việt với thời lợng
phát sóng hàng chục giờ mỗi ngày [4,tr.33]. Một số phần tử cơ hội chính trị, phản

ngoài phát trên các kênh VTV1, VTV2 và VTV4 của THVN. Ngoài ra, cha có một
công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về lý luận và thực tiễn chơng trình truyền hình
dành cho NVNONN.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
- Mục đích của luận văn là nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn chơng trình
truyền hình dành cho NVNONN của Truyền hình Việt Nam. Qua đó rút ra những u,
nhợc điểm của các chơng trình; đa ra nhận xét, đánh giá mang tính lý luận; đề xuất,
kiến nghị những giải pháp về nội dung, hình thức thể hiện và qui trình sản xuất
nhằm nâng cao chất lợng, hiệu quả chơng trình truyền hình phù hợp với đối tợng
công chúng là NVNONN.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát, tổng hợp, phân tích và đánh giá chất lợng,
hiệu quả của các chơng trình truyền hình dành cho NVNONN trên sóng VTV4, Đài
THVN; tiến hành khảo sát nghiên cứu ý kiến khán giả truyền hình là những
NVNONN để từ đó chỉ ra đặc điểm tâm lý tiếp nhận của đối tợng công chúng đặc
biệt này; khảo sát hoạt động nghề nghiệp của những ngời tham gia vào quy trình tổ
chức sản xuất các chơng trình truyền hình dành cho NVNONN; tổng kết, đề xuất
các giải pháp nâng cao chất lợng chơng trình.

- Đối tợng nghiên cứu của luận văn là một số chơng trình truyền hình dành cho
ngời Việt Nam ở nớc ngoài do Ban Truyền hình Đối ngoại - Đài THVN trực tiếp sản
xuất hoặc khai thác từ các nguồn, đợc phát trên sóng VTV4; Quy trình tổ chức sản
xuất chơng trình truyền hình dành cho NVNONN
.
- Phạm vi nghiên cứu là một số chơng trình cơ bản mang tính đặc thù của
VTV4, gồm các chuyên mục : Việt Nam hôm nay; Việt Nam - Đất nớc - Con ngời;
Nhìn từ Hà Nội; Con Lạc cháu Hồng; Gặp gỡ khán giả VTV4; Việt Nam qua con
mắt ngời nớc ngoài; Dạy tiếng Việt; Bài hát theo yêu cầu. Thời gian khảo sát từ
tháng 01 năm 2004 đến hết tháng 06 năm 2005.
3
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu.

Chơng 1
Chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc; vai trò, nhiệm vụ
của Truyền hình Việt Nam trong công tác thông tin, tuyên truyền
đối với ngời Việt Nam ở nớc ngoài.
1.1. Chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta
về ngời Việt Nam ở nớc ngoài.
1.1.1. Một số vấn đề về ngời Việt Nam ở nớc ngoài.
1.1.1.1. Lịch sử hình thành cộng đồng NVNONN.
Quá trình hình thành cộng đồng NVNONN gắn liền với lịch sử đấu tranh
dựng nớc và giữ nớc của dân tộc. Thật khó có thể khẳng định chính xác mốc
thời gian và địa điểm những ngời Việt Nam đầu tiên ra nớc ngoài sinh sống.
Nhng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan, từ xa xa đã có ngời Việt Nam ở nớc ngoài. Một trong những cái
mốc về thời điểm ngời Việt Nam có mặt ở nớc ngoài thuộc loại xa mà lịch sử
ngày nay còn ghi rõ là vào đầu thế kỷ thứ XII, khi hoàng tử thứ hai con vua Lý
Anh Tông là Lý Long Tờng sang Cao Ly tị nạn [14, tr 19].
Có thể tìm thấy những dấu tích về ngời Việt Nam ở nớc ngoài những giai
đoạn muộn hơn nh ông Nguyễn An, một ngời Việt có tài đã đợc cất nhắc làm
quan dới triều Minh của Trung Hoa vì có công xây dựng mới thành Bắc Kinh.
Thế kỷ XV đã có nhiều ngời Nhật đến Việt Nam buôn bán. Cũng chính ngời
Nhật đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các hoạt
động kinh tế ở phố Hiến và Faifo (Hội An) giai đoạn đầu thế kỷ XVII. Theo
quy luật của quan hệ giao thơng và di dân thì khi các thơng nhân Nhật biết tìm
đến Việt Nam làm ăn tấp nập nh vậy, tất sẽ có những ngời Việt Nam biết đến
Nhật sinh sống. Giai đoạn này chúa Nguyễn đã gả con gái mình là công chúa
Ngọc Vạn cho một thơng gia Nhật là Araki Sotaro vào năm 1619. Với tên
Nhật là Anio, công chúa Ngọc Vạn đã trở thành ngời Việt Nam ở Nhật Bản từ
thế kỷ thứ XVII.
Cùng với lịch sử truyền giáo của các nớc phơng Tây và việc xâm chiếm
Việt Nam của thực dân Pháp, thì địa bàn c trú của NVNONN ngày càng đợc

nớc ngoài của ngời Việt giai đoạn này đa dạng hơn. Địa bàn ngời Việt đến
định c giai đoạn này đã mở rộng hơn. Ngoài các nớc trong khu vực, ngời Việt
đã đến các nớc châu Âu, Mỹ, Canađa, ốtxtrâylia
Đáng kể nhất là ở giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ và thời
kỳ đầu đất nớc thống nhất, do sự kích động của các thế lực thù địch và sự bao
vây cấm vận kinh tế của Mỹ dẫn đến đời sống kinh tế trong nớc gặp nhiều khó
khăn. Giai đoạn này đã có hàng trăm nghìn ngời Việt Nam di tản ra nớc
ngoài. Chỉ tính từ sau năm 1975 đến đầu những năm 1980 đã có khoảng hơn 1
triệu ngời Việt Nam ra nớc ngoài sinh sống, chủ yếu là sang Mỹ, Pháp,
Canađa, và một số nớc t bản khác. Ngoài số ngời ra nớc ngoài có nguyên nhân
6
từ sự thất bại của đế quốc Mỹ và Ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam, còn
phải kể đến số ngời di c do các sự kiện xung đột quân sự ở biên giới phía
Bắc, những biến động ở Campuchia và biên giới phía Tây Nam.
Cơ chế quan liêu, bao cấp trì trệ kéo dài đã dẫn tới việc nền kinh tế, xã
hội nớc ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân gặp
nhiều khó khăn. Bởi vậy, cho đến những năm đầu của thập niên 90 của thề kỷ
XX, dòng ngời Việt Nam đi ra nớc ngoài vẫn tiếp tục. Số ngời này vợt biên
bằng đờng thuỷ (thuyền nhân) đến Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia,
Inđônêxia, Philippin, Nhật Bản. Cho đến tháng 3 năm 1995 vấn đề thuyền
nhân Việt Nam vẫn đang thuộc loại vấn đề nổi cộm trong việc điều chỉnh dân
c thế giới [14, tr.26].
Thực hiện các chơng trình nhân đạo, từ đầu năm 1980 đến nay, hàng
trăm ngàn ngời Việt Nam đã xuất cảnh sang định c ở nớc ngoài theo các ch-
ơng trình đoàn tụ gia đình (ODP), chơng trình con lai Mỹ (AC) và chơng trình
cho số sĩ quan chế độ cũ đã cải tạo (HO)
Từ đầu những năm 1980, theo hiệp định hợp tác lao động giữa chính phủ
Việt Nam với chính phủ Liên Xô cũ và một số nớc xã hội chủ nghiã (XHCN)
Đông Âu, đã có hàng vạn công dân Việt Nam sang lao động, học tập, công
tác. Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phần lớn số ngời

hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn đã tạo
ra cho những ngời Việt Nam đi ra nớc ngoài có những động cơ, mục đích
khác nhau. Qua tổng hợp, phân tích, chúng tôi thấy: trên cơ sở nguồn gốc
phức tạp của các nhóm di c đã hình thành nên cộng đồng NVNONNvới 2,7
triệu ngời sinh sống tại 90 quốc gia trên khắp các châu lục, tập trung tại 21
nớc thuộc 5 khu vực chính là Bắc Mỹ, Tây- Bắc Âu; Nga và Đông Âu; Đông D-
ơng - Đông Bắc
á
, Châu
ú
c. Riêng ở Mỹ hiện có tới một nửa trong tổng số
kiều bào ở nớc ngoài. Chính sự phức tạp trong lịch sử hình thành đã làm nên
tính đa dạng và những đặc thù của cộng đồng NVNONN.
1.1.1.2. Báo chí và nhu cầu thông tin về tình hình đất nớc của cộng đồng.
- Tình hình báo chí ở nớc ngoài và những tác động tới cộng đồng.
Nh đã đề cập ở phần lịch sử hình thành, do nguồn gốc di c phức tạp nên
cộng đồng NVNONN có rất nhiều nét khác biệt về đời sống kinh tế, chính trị,
t tởng, văn hóa, sắc tộc, tôn giáo Điều này đợc thể hiện rõ nét trong lĩnh vực
báo chí của cộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài.
Theo số liệu và đánh giá của các cơ quan chức năng thì tình hình báo chí
của ngời Việt và báo chí nớc ngoài tác động tới cộng đồng là hết sức lộn xộn,
phức tạp. Trên thế giới hiện có tới trên 400 báo, tạp chí; 82 nhà xuất bản để;
có tới 49 đài phát thanh, truyền hình có chơng trình tiếng Việt hoặc chuyên
mục bằng tiếng nớc ngoài đề cập tới Việt Nam với mục đích xuyên tạc tình
hình trong nớc, làm xói mòn niềm tin cuả kiều bào với đất nớc.Trong đó có
một số đài tiêu biểu, có công suất lớn nh VOA (Hoa Kỳ); RFI (Pháp); BBC
(Anh); Manila (Philippin) RFA (Châu á tự do). Mới đây nhất, các thế lực thù
địch đã đa vào phát sóng 2 đài phát thanh mới là đài Nhà nớc Đề Ga và đài
Vàng Pao để tăng cờng cho các hoạt động tuyên truyền chống phá ta.
8

mới mẻ, giàu mạnh. Cùng mục tiêu chống cộng sản là các tờ nguyệt san
Chứng nhân của Hội văn nghệ sĩ Việt Nam tự do và tờ Kháng chiến của Mặt
trận Quốc gia Thống nhất giải phóng Việt Nam do Hoàng Cơ Minh cầm đầu.
Rồi các tờ: Quê mẹ do nhóm của Võ Văn i ở Pháp Nhiều tổ chức phản động
lu vong ở các nớc liên kết với nhau để hoạt động chống phá đất nớc thông qua
báo chí. Tiêu biểu phải kể đến nhóm chống đối đất nớc ở Hoa Kỳ cùng một số
ngời Việt Nam ở Nga lập nên cái gọi là đài: Tiếng nói tự do phát thanh từ Mạc
9
T Khoa. Rồi các đài phát thanh tiếng Việt nh Regiona của tổ chức Phục hng
Việt Nam; đài Diễn đàn dân chủ để tuyên truyền xuyên tạc Việt Nam và thực tế
đời sống của NVNONN.
Tuy nhiên, nh đã đề cập, các phần tử chống đối chỉ là một nhóm nhỏ và
càng điên cuồng chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và khối đại đoàn
kết toàn dân, chúng càng bị cô lập, tiếng nói của chúng ngày càng trở nên lạc
lõng trong cộng đồng NVNONN.
Bên cạnh các tờ báo, chơng trình phát thanh truyền hình của các lực lợng
phản động có nội dung độc hại còn có những tiếng nói yêu nớc, gắn bó với Tổ
quốc. Nhiều tờ báo của các tổ chức xã hội, đoàn thể là diễn đàn, là nhịp cầu để
NVNONN hớng về đất nớc. Tiêu biểu là ở Mátxcơva, nơi tập trung số lợng
ngời Việt đông đảo nhất so với các thành phố thuộc Liên xô và các nớc Đông
Âu cũ. Đại sứ quán Việt Nam đã tổ chức xuất bản tạp chí và tuần tin Đất nớc.
Ngoài việc thông tin tình hình phát triển kinh tế xã hội trong nớc, tạp chí và
tuần tin Đất nớc đã giới thiệu nhiều về tình hình của cộng đồng, dành nhiều
trang giới thiệu các sáng tác văn học nghệ thuật của các tác giả hiện đang
sống và làm việc ở liên bang Nga. Ngoài ra còn có tạp chí Ngời bạn đờng,
Thông tin và Thời đại
Ngay ở tại một số nớc có những tổ chức, những phần tử chống phá Tổ
quốc quyết liệt và dai dẳng nhất nh ở Mỹ, Canađa và ốtxtrâylia vẫn có những
tờ báo, chơng trình phát thanh, truyền hình chuyển tải những nội dung trung
thực về tình hình đất nớc đến cộng đồng. ở Canađa, phong trào Việt kiều hớng

cản lớn với một bộ phận NVNONN. Nhiều ngời đã định c ở nớc ngoài tới vài chục
năm, nhng khả năng ngôn ngữ vẫn rất hạn chế. Đến thăm các gia đình ngời Việt
ngụ c ở Cahramatta, nhiều ngời thú nhận: họ xem chơng trình tivi ốtxtrâylia chủ
yếu xem hình ảnh [14, tr.138]. Bởi vậy, nhu cầu tiếp nhận thông tin về thế giới, về
Tổ quốc bằng tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn. Đặc biệt là những nguồn thông
tin qua báo chí chính thức của nớc nhà.
Trớc nguyện vọng và đòi hỏi đáp ứng về thông tin của cộng đồng, thời gian
qua, báo chí trong nớc đã làm đợc những gì? Có thoả mãn đợc nhu cầu thông tin
của cộng đồng ngời Việt Nam xa Tổ quốc hay không?
Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nớc ta đã đặc biệt quan tâm tới công tác về
NVNONN, trong đó có hoạt động thông tin báo chí. Ngày càng có nhiều cơ quan
báo chí tham gia vào công tác thông tin cho kiều bào. Đài Truyền hình Việt Nam
có chơng trình VTV4 dành riêng cho cộng đồng NVNONN phủ sóng đến các
khu vực châu , châu Âu, Bắc và Trung Phi, Bắc Mỹ và Tây Bắc ốtxtrâylia.
THVN đã hợp tác với Jump TV Canađa đa VTV4 lên mạng Internet và đang
nghiên cứu khả năng đa truyền hình qua Internet hoặc hệ thống truyền hình cáp ở
một số nuớc. Đài tiếng nói Việt nam có chơng trình phát thanh Dành cho đồng
bào Việt Nam ở xa Tổ quốc .
Hiện cả nớc có 21 tờ báo điện tử và hàng chục website chuyên nghành trên
mạng Internet cung cấp thông tin cho quốc tế và trong nớc. Trong đó, một số
trang web và báo điện tử có chuyên mục dành riêng cho kiều bào nh báo Nhân
dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Lao động, TTXVN, Đại đoàn kết, Thanh niên,
Vietnam net đa nhiều tin bài về các vấn đề có liên quan đến cộng đồng
11
NVNONN. Công ty VTC của bộ Bu chính - Viễn thông đang chuẩn bị đa VTV1,
2, 3 lên mạng Internet tốc độ cao. Một số tờ báo in, đài phát thanh, truyền hình
đã có chuyên mục về cộng đồng NVNONN. Báo Nhân dân hàng ngày và cuối
tuần, trang quốc tế Nhân dân chủ nhật có chuyên mục Con Lạc cháu Hồng và
Việt nam trong lòng thế giới.
ủy ban về NVNONN thuộc Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các Bộ, Ban,

12
thức báo chí để thực hiện tốt hơn nhu cầu thông tin của cộng đồng trong
tình hình mới
.
1.1.2. Chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc về công tác thông
tin, tuyên truyền đối với NVNONN.
1.1.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nớc về công tác thông tin cho
NVNONN.
Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại
của Đảng, Nhà nớc nhằm làm cho các nớc, ngời nớc ngoài, NVNONN hiểu về
đất nớc, con ngời Việt Nam, đờng lối, chủ trơng chính sách và thành tựu đổi
mới của ta. Trên cơ sở đó, chúng ta tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới,
sự đóng góp của cộng đồng NVNONN cho sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ
quốc.
Xác định tầm quan trọng của lĩnh vực này, Đảng, Nhà nớc ta đã ra nhiều
chỉ thị, nghị quyết nhằm khẳng định vai trò, nhiệm vụ của công tác thông tin
đối ngoại. Cụ thể: chỉ thị 11-CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban chấp hành
Trung ơng Đảng về Đổi mới và tăng cờng công tác thông tin đối ngoại;
Thông báo số 188-TB/TW ngày 29/12/1998 của Ban chấp hành Trung ơng
thông báo ý kiến Thờng vụ Bộ Chính trị về công tác thông tin đối ngoại trong
tình hình mới.
Để thực hiện có hiệu quả chủ trơng này, Trung ơng Đảng đã ra Quyết
định số 16-QĐ/TW về việc thành lập Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại
và ban hành Quy chế phối hợp chỉ đạo hoạt động công tác thông tin đối
ngoại. Ngày 26/4/2000, Thủ tớng Chính phủ đã ra chỉ thị về tăng cờng quản
lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại .
Công tác thông tin đối ngoại trên các phơng tiện thông tin đại chúng đợc
xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng của thông tin đối ngoại, trong
các văn bản, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nớc đều có nội dung chỉ
đạo kịp thời, chặt chẽ các cơ quan báo chí tham gia vào họat động tuyên

Đảng ta là:
- Thông tin, tuyên truyền phải thể hiện đầy đủ các quan điểm lớn của
Đảng và Nhà nớc coi NVNONN là một bộ phận không tách rời và là nguồn
lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; phổ biến rộng rãi các chính sách chung
cũng nh các chính sách liên quan đến NVNONN.
- Tôn vinh lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình cảm quê hơng cội nguồn của
ngời Việt Nam ở xa Tổ quốc, phát huy tinh thần đoàn kết đùm bọc lẫn nhau,
phản ánh đầy đủ tâm t tình cảm của NVNONN.
- Giới thiệu mọi mặt đời sống của đất nớc, truyền thống lịch sử văn hoá,
văn minh của Việt Nam, quảng bá du lịch, quảng bá tiếng Việt, giáo dục luật
pháp, tăng cờng tinh thần hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Thế
giới.
1.1.2.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nớc đối với Truyền
hình Việt Nam.
Trong các loại hình báo chí của xã hội hiện đại, truyền hình là một
trong những phơng tiện truyền tải thông tin hữu hiệu nhất. Nó đặc biệt phát
14
huy thế mạnh của mình trong công tác thông tin đối ngoại bởi khả năng vợt
qua mọi rào cản của biên giới, lãnh thổ của quốc gia, phủ sóng toàn cầu.
Đảng, Nhà nớc ta luôn coi trọng vai trò, vị trí của truyền hình trong công
tác thông tin tuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền đối ngoại. Chỉ thị số 11-
CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng xác định lực l-
ợng và phơng thức thông tin đối ngoại đã chỉ rõ, cần phải: Nâng cao chất l-
ợng chơng trình Truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam, mở rộng việc
trao đổi chơng trình và hợp tác với Đài Truyền hình các nớc. Thông báo số
188- TB/TW ngày 29/12/1998 của Bộ Chính trị về công tác thông tin đối
ngoại trong tình hình mới cũng xác định: Tiếp tục đầu t nâng cao chất lợng
hệ thống thông tấn báo chí, xuất bản quốc gia nh Thông tấn xã Việt Nam, Đài
Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, một số báo và nhà xuất bản
lớn để làm nòng cốt cho công tác thông tin đối ngoại .

Hiện nay, có nhiều cách hiểu về báo chí nhng đều có sự thống nhất ở một
số tiêu chí: Báo chí đợc dùng để chỉ các kênh truyền thông đại chúng chuyên
phản ánh các sự kiện và vấn đề thời sự, xuất bản định kỳ đều đặn. Do đó, báo
chí nói chung đợc hiểu bao gồm báo chí in ấn, báo phát thanh, báo chí truyền
hình và các loại báo chí điện tử khác [29, tr.51]. Báo chí là một hình thái ý
thức -xã hội, lấy hiện thực khách quan làm đối tợng để phản ánh [11, tr.7].
Báo chí là một hiện tợng đa nghĩa, phức tạp [36, tr.13].
Khái niệm về loại hình báo chí truyền hình về thực chất là sự mở rộng và
phát triển khái niệm báo chí. Theo từ điển tiếng Việt, Truyền hình đợc hiểu
là: truyền hình ảnh, thờng đồng thời có cả âm thanh đi xa bằng radio hoặc
bằng đờng giây. Truyền hình tại chỗ trận bóng đá. Vô tuyến truyền hình. Đài
Truyền hình [ 51, tr.1017]. Chơng trình: Toàn bộ nội dung những dự kiến
hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định, nêu
một cách vắn tắt [51, tr.186].
Từ những khái niệm nêu trên về báo chí và truyền hình, chúng tôi đa ra
nhận xét khái quát về truyền hình nh sau: Truyền hình là một kênh truyền
thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trng cơ bản của nó là sử
dụng hình ảnh và âm thanh một cách trung thực, sinh động thông qua kỹ thuật
truyền dẫn phát sóng để chuyển tải thông điệp đến công chúng bằng cách tác
động đến thị giác và thính giác của đối tợng tiếp nhận.
Do những thế mạnh đợc tạo bởi sự phát triển của khoa học, công nghệ,
tính trực tiếp, trung thực, mới mẻ và sinh động của thông tin nên trong xã hội
hiện đại, truyền hình đợc đông đảo công chúng đón nhận và trở thành một
loại hình báo chí có u thế trong hệ thống truyền thông đại chúng.
1.2.1.1. Khái quát sự ra đời của chơng trình VTV4.
Ngày 7 tháng 9 năm 1970, ngày phát sóng Chơng trình Truyền hình đầu
tiên đã trở thành ngày truyền thống của Truyền hình Việt Nam. Trong suốt 35
năm qua, thông tin đối ngoại luôn có một vai trò và vị trí đặc biệt trong hoạt
động của Đài THVN. Mốc lịch sử đầu tiên của hoạt động thông tin đối ngoại
là ngày 4/1/1968, Phó Thủ tớng Lê Thanh Nghị đã ký quyết định thành lập x-

hỏi cấp bách của thực tiễn nh vậy, kênh VTV4 ra đời: Để phục vụ cộng đồng
ngời Việt Nam ở nớc ngoài và khán giả nớc ngoài, từ 1/1/1995, Đài Truyền
hình Việt Nam phát sóng chơng trình đối ngoại (VTV4) phủ sóng qua vệ tinh
Staionnar - 13 của hệ thống Intersputnik. Các khu vực có thể thu đợc là Châu
Âu, châu , Trung Cận Đông. Thời gian phát sóng hàng ngày từ 21 giờ 45 đến
22 giờ 45 (giờ Hà Nội) [18 tr.115].
Sau một thời gian phát thử nghiệm, đến tháng 2/1998, VTV4 đã đã phủ
sóng tại Châu á và Châu Âu 2 giờ/ngày với băng tần C. Năm 1999, với băng
tần C và KU, VTV4 nâng thời lợng lên 4 giờ/ngày. Năm 2000 sử dụng băng
tần KU phủ sóng tại Bắc Mỹ và Caribê 4 giờ/ngày. Từ năm 2002 chơng trình
17
VTV4 nâng thời lợng phát sóng lên 8 giờ/ngày. Qua các vệ tinh MEASAT1,
THAICOM3, TELSTAR5, HOTBIRD3.
Thực tế đã khẳng định hiệu quả của VTV4 trong công tác thông tin đối
ngoại và vận động cộng đồng NVNONN. Trên cơ sở đó, ngày 7/2/2002, Thủ t-
ớng Chính Phủ đã ký quyết định số 29/2002/QĐ-TTg chính thức thành lập
Ban Truyền hình Đối ngoại trực thuộc Đài THVN. Quyết định 233/QĐ -
THVN của Tổng giám đốc Đài THVN đã quy định: Ban Truyền hình Đối
ngoại có chức năng sản xuất, khai thác các chơng trình Truyền hình để phát
trên kênh đối ngoại đáp ứng yêu cầu thông tin, nhu cầu hởng thụ văn hoá tinh
thần của cộng đồng NVNONN và bạn bè quốc tế - những ngời quan tâm đến
Việt Nam.
Tuy còn nhiều hạn chế, nhng việc phát sóng chơng trình truyền hình
quốc gia bằng tiếng Việt đến nơi kiều bào ta sinh sống là một tín hiệu vui mừng
đối với cộng đồng. Các chơng trình của VTV4 dẫu còn sơ khai cũng đã lay
thức trái tim của nhiều ngời Việt Nam xa xứ, hớng họ về với Tổ quốc. Đợc xem
chơng trình truyền hình của Tổ quốc, nhiều kiều bào đã gửi th bày tỏ tình cảm
và ý kiến của mình về chơng trình. Đây là nguồn động viên to lớn với những
ngời làm truyền hình VTV4. Th của Nguyễn Hồng Nhung gửi về từ Bu-đa-pét,
Hung ga ri là một trong rất nhiều những lá th nh thế: Tôi có cảm giác những

Giám đốc Đài THVN cũng đã khẳng định: Trong tình hình hiện nay, kênh
truyền hình VTV4 chủ yếu hớng tới cộng đồng kiều bào ta ở nớc ngoài [7, tr.
75].
Cây có cội, nớc có nguồn. Thực tế là, trong số hơn 2,7 triệu
NVNONN, trừ một số ít ngời cố tình quay lng lại với Tổ quốc còn đại đa số
đồng bào dù ở chân trời góc bể nào vẫn luôn hớng về quê hơng với nỗi niềm
đau đáu: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao). Bởi, trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi ngời con xa xứ vẫn là nỗi nhớ
thơng da diết từng con đờng, góc phố, cây đa, bến nớc, mái đình, những câu
hò, điệu lý. Và, VTV4 là nhịp cầu giúp những ngời Việt Nam xa xứ gần gũi,
gắn bó hơn với quê hơng xứ sở của mình.
Tìm hiểu cộng đồng NVNONN, chúng ta thấy nổi lên một số đặc điểm.
So với cộng đồng kiều dân khác, cộng đồng NVNONN là một cộng đồng tơng
đối trẻ, mới phát triển rõ nét từ những năm cuối thập kỷ 70. Và cũng từ những
năm này, cộng đồng phát triển theo xu hớng định c lâu dài và hội nhập dần
vào xã hội nơi c trú. Hiện, theo thống kê sơ bộ có tới 80% trong tổng số
NVNONN sống tại các nớc công nghiệp phát triển. Các nớc tập trung đông
ngời Việt Nam nhất là: Mỹ 1,3 triệu ngời; Pháp 300 ngàn ngời; ốtxtrâylia 250
ngàn ngời, Canađa 200 ngàn ngời, Đức 100 ngàn ngời.
Sinh sống ở các nớc công nghiệp phát triển nhng do hoàn cảnh và điều
kiện di c nên cộng đồng NVNONN hiện rất đa dạng về tầng lớp xã hội, nghề
nghiệp, tôn giáo, dân tộc, thế hệ và các xu hớng chính trị khác nhau.
Do là một cộng đồng trẻ, nên tiềm lực kinh tế của cộng đồng ngời Việt so
với các cộng đồng kiều dân các trên thế giới không phải là lớn. Theo báo chí
nớc ngoài, thu nhập hàng năm của kiều bào ớc tính khoảng từ 25-30 tỷ USD.
Trong cộng đồng không có nhà tài phiệt về tài chính và ngân hàng, ngời có số
19
vốn lớn không nhiều, đa số ở mức vừa và nhỏ, chủ yếu tích luỹ qua quá trình
làm công hoặc kinh doanh nhỏ nhng cần mẫn và tiết kiệm.
Nếu tiềm năng về kinh tế của cộng đồng NVNONN còn khiêm tốn, thì

hệ con, cháu ít nghe nói đợc tiếng Việt, thậm chí là không biết tiếng Việt. Nhóm
đối tợng thứ hai là những ngời Việt Nam ra nớc ngoài sau những biến động lịch
sử năm 1975 ở miền Nam. Số ngời này bao gồm diện di tản mà thành phần là
những ngời gắn bó với Mỹ - Ngụy và một bộ phận vợt biên rời bỏ đất nớc khi
20
nền kinh tế xã hội Việt Nam khó khăn nhất (1978-1982) và một bộ phận ra nớc
ngoài định c theo các chơng trình đoàn tụ gia đình (H.O) Nhóm cộng đồng ngời
Việt thứ ba hình thành ở nớc ngoài là hàng chục vạn ngời đi lao động, học tập tại
Liên Xô (cũ) và các nớc Đông Âu. Sau khi hệ thống XHCN ở các nớc này sụp
đổ, họ vẫn tiếp tục ở lại làm ăn, sinh sống. Nhóm thứ t là hàng chục ngàn lao
động xuất khẩu của Việt Nam ở nhiều nớc mà hiện nay chủ yếu là ở các nớc
châu nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia
Do những nguyên nhân, hoàn cảnh ra đi khác nhau này đã tạo nên một cộng
đồng NVNONN phong phú, đa dạng về rất nhiều phơng diện. Đây là điểm khác
biệt khá điển hình so với nhiều cộng đồng kiều dân khác. Trong số những ngời
Việt Nam định c ở nớc ngoài có: Không ít ngời vẫn còn mặc cảm với quá khứ
vợt biên, thành kiến nặng nề hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, một ít còn
mang trong mình t tởng hận thù cách mạng [5, tr.21].
Đây chính là đặc điểm lớn nhất cần phải đợc nghiên cứu về cộng đồng với
tính cách là đối tợng công chúng đặc biệt của VTV4. Bởi chính đặc điểm này đã
tạo nên thái độ và tâm lý tiếp nhận chơng trình của từng nhóm công chúng. Điều
này đợc thể hiện: những kiều bào có mong muốn đợc trở về đóng góp công sức
xây dựng quê hơng, họ luôn quan tâm theo dõi tìm hiểu thông tin về Tổ quốc
qua chơng trình truyền hình VTV4. Bên cạnh đó, cũng còn không ít ngời do mặc
cảm quá khứ nên cha lần nào về nớc và vẫn giữ trong mình hình ảnh một đất nớc
Việt Nam nghèo khó hoặc trì trệ, ảm đạm. Thêm vào đó là sự tác động của báo
chí và các đài phát thanh, truyền hình có quan điểm chống đối đã bóp méo,
xuyên tạc thông tin về đất nớc nên bộ phận kiều bào này luôn có thái độ ngờ vực
với thông tin mà chơng trình đa ra.
Tuy nhiên, đại đa số NVNONN dẫu sống xa Tổ quốc nhng vẫn luôn tự hào,

đất nớc. Ông cũng nói: Khi ra đi, tôi nh là một tế bào tách khỏi cơ thể, đó
là tế bào sống khô, nhng tôi mang theo trái tim đất nớc. Bây giờ tôi trở về
không với t cách một tế bào nữa, mà là nguyên một cơ thể.
Phân tích sâu sắc và toàn diện thực trạng đời sống, tình cảm của kiều
bào ta ở nớc ngoài để tìm ra những đặc điểm cơ bản về tâm lý, thái độ
tiếp nhận thông tin của họ là công việc cần thiết. Đây là cơ sở khách
quan, khoa học để các cơ quan quản lý; những ngời làm truyền hình xây
dựng những tiêu chí phù hợp để không ngừng nâng cao chất lợng, hiệu quả
thông tin, tuyên truyền của chơng trình truyền hình dành cho cộng đồng
NVNONN.
1.2.2. VTV4 trong hệ thống các chơng trình của Đài THVN.
Ngày 20/8/2003, Chính phủ đã ra Nghị định số 96/2003/NĐ-CP quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt
Nam, trong đó Ban Truyền hình Đối ngoại đợc quy định là một trong các tổ
chức sản xuất chơng trình thuộc Đài THVN.
Theo Quyết định số 1139/ QĐ-THVN ngày 11/11/2003 của Tổng giám
đốc Đài THVN: Ban Truyền hình Đối ngoại là đơn vị sự nghiệp thuộc Đài
THVN, có chức năng sản xuất, khai thác các chơng trình truyền hình để phát
trên kênh truyền hình đối ngoại và các kênh truyền hình khác của Đài THVN,
22
cung cấp cho các Đài Truyền hình nớc ngoài theo chỉ đạo của Tổng Giám đốc,
trên cơ sở đờng lối, chủ trơng của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nớc.
Ban Truyền hình đối ngoại có nhiệm vụ, quyền hạn: xây dựng kế hoạch công
tác hằng năm và dài hạn, trong đó có kế hoạch về định hớng tuyên truyền, sản
xuất và khai thác các thể loại chơng trình truyền hình tuyên truyền đối ngoại và
tổ chức thực hiện kế hoạch đã đợc phê duyệt; đạo diễn, sắp xếp, bố trí chơng
trình phát sóng trên kênh truyền hình đối ngoại (VTV4).
Mỗi tờ báo, chơng trình phát thanh, truyền hình đều có tôn chỉ, mục đích
và phục vụ đối tợng công chúng chuyên biệt. Nghiên cứu những yếu tố này
không chỉ giúp xác định vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan báo chí mà còn góp

v.vkiều bào ở các nớc đã tham gia ủng hộ tích cực với tinh thần tơng thân,
tơng ái. Trên các lĩnh vực văn hoá, khoa học, xã hội, ngày càng có nhiều trí
thức, nghệ sĩ trở về nớc tham gia đóng góp trí tuệ, tài năng của mình vào sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nớc.
Thực tế chứng minh, với u thế của loại hình báo chí hiện đại, thời gian
qua VTV4 đã khẳng định vai trò không thể thiếu của kênh truyền hình quốc
gia trên mặt trận t tởng và công tác thông tin đối ngoại. Cùng với các báo, tạp
chí, chơng trình phát thanh, các trang web điện tử chuyên về thông tin đối
ngoại, VTV4 đã trở thành lực lợng chủ đạo trong việc tuyên truyền đờng lối,
chính sách của Đảng, Nhà nớc ta tới 2,7 triệu ngời Việt Nam đang làm ăn,
sinh sống ở nớc ngoài.
1.2.2.2. VTV4 giới thiệu hình ảnh đất nớc, con ngời Việt Nam ra thế
giới một cách đặc sắc nhất.
Trong các chơng trình hằng ngày của VTV4, ngoài các bản tin cập nhật
những thông tin đảm bảo tính thời sự, cộng đồng NVNONN còn đợc xem
một số lợng đáng kể những thông tin sâu sắc về những đổi thay của quê hơng
qua các chuyên đề về kinh tế, văn hoá, xã hội, văn học, nghệ thuật, âm nhạc,
phim truyện v.v đợc chắt lọc từ các kênh truyền hình trong nớc. Có thể nói,
với đặc điểm chuyển tải thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động, truyền
hình thực sự có thế mạnh trong việc đa hình ảnh đất nớc, con ngời và nền văn
hoá Việt Nam tới bạn bè quốc tế và cộng đồng NVNONN một cách đặc sắc .
Ngời ta vẫn nói: Trăm nghe không bằng một thấy . Xem truyền hình, công
chúng mà ở đây là đối tợng công chúng đặc biệt - những ngời con xa xứ vừa đ-
ợc nghe vừa đợc thấy lại những gì gần gũi, gắn bó máu thịt với mình và cả
những đổi thay lớn lao trên quê hơng, xứ sở. Hình ảnh những miền quê Việt
bình dị, ấm áp ấy qua mỗi chơng trình truyền hình đã lay thức trong mỗi con
ngời xa quê nỗi nhớ thơng gắn bó với cội nguồn. Khi nói về vai trò của kênh
truyền hình dành cho NVNONN, Bộ trởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã
nhấn mạnh: Các cơ quan đại diện hết sức phấn khởi là hiện nay VTV4 của
chúng ta đã phủ sóng phần lớn những khu vực quan trọng của kiều bào, cho nên

trở thành phơng tiện quan trọng trong hệ thống truyền thông đại chúng của n-
ớc ta trên mặt trận đấu tranh d luận.
Với thế mạnh đặc trng của mình, VTV4 đã đẩy mạnh tuyên truyền
nhanh, kịp thời về các sự kiện, hiện tợng xảy ra có liên quan đến các nhu cầu
về nhận thức, thị hiếu và tình cảm của kiều bào, qua đó định hớng t tởng và
hình thành d luận xã hội sâu rộng theo hớng tích cực nhằm giải quyết các
nhiệm vụ chính trị đặt ra. Chơng trình cũng phân tích, vạch trần những thủ
đoạn chính trị, những luận điệu, hành vi chống phá của các thế lực thù địch,
kiên quyết đấu tranh với âm mu diễn biến hoà bình , giúp cộng đồng
NVNONN có những nhận thức, ứng xử đúng đắn. Cũng qua hoạt động này ch-
ơng trình còn tranh thủ đợc sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với
sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.
25

Trích đoạn Về thể loại. Ngôn ngữ truyền hình. Bảng tổng hợp kết quả trả lời nội dung câu hỏ Về nội dung: Hạn chế dễ nhận thấy là một số chơng trình trên VTV4 còn mang tính tuyên truyền áp đặt khá nặng nề Lợng thông tin trong nội dung Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức văn hoá, ngoại ngữ và bản lĩnh chính trị của những ng-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status