1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THANH THỦY
QUẢNG BÁ VĂN HÓA VIỆT NAM CHO NGƯỜI
VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI QUA KÊNH VTV4
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội-2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THANH THỦY
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 11
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 15
5. Đóng góp mới về khoa học đề tài 16
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. 16
7. Kết cấu của luận văn 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢNG BÁ VĂN HÓA VIỆT
NAM 18
1.1. Một số khái niệm về văn hóa và quảng bá văn hóa Việt Nam 18
1.1.1. Một số khái niệm về văn hóa, truyền thống văn hóa và bản sắc
văn hóa dân tộc 18
1.1.2. Đặc trưng văn hóa Việt Nam 24
1.1.3. Quảng bá văn hóa và các hình thức quảng bá văn hóa Việt Nam 28
1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc quảng bá văn
hóa Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1.2.1. Một số vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài
1.2.1.1. Lịch sử hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
1.2.1.2. Báo chí và nhu cầu thông tin về tình hình đất nước, văn hóa
Việt Nam của cộng đồng NVNONN
1.2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc
quảng bá văn hóa Việt Nam cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1.2.2.1. Tầm quan trọng của việc quảng bá văn hóa Việt Nam cho
NVNONN
1.2.2.2. Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về việc
quảng bá văn hóa Việt Nam cho NVNONN
7
1.3.Vai trò của VTV4 trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam cho
NVNONN
1.3.1. VTV4 – Chương trình truyền hình dành cho cộng đồng
2.4.2.1. Những ưu điểm 85
2.4.2.2. Những hạn chế 87
Tiểu kết chương 2 89
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG BÁ VĂN HÓA
DÀNH CHO NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 91
3.1.Kinh nghiệm quảng bá văn hóa 91
3.2.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc quảng bá văn hóa
Việt Nam 93
3.2.1. Đối với các cơ quan chức năng nhà nước 93
3.2.2. Đối với cơ quan báo chí 91
3.2.3. Đối với phóng viên, biên tập viên. 100
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo ước tính hiện nay có khoảng hơn 4 triệu người Việt Nam đang
sinh sống và làm việc ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới.
Đó là một con số không nhỏ. Cũng như mọi cộng đồng dân cư khác, cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) có nhu cầu rất lớn được thu
nhận thông tin hàng ngày bên cạnh thông tin về tình hình quốc tế là những
thông tin về tình hình đất nước, quê hương. Dù ra đi dưới nhiều hoàn cảnh,
thời điểm khác nhau nhưng cộng động NVNONN vẫn luôn hướng về cội
nguồn, gìn giữ và phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc.
Nguyện vọng chung của tuyệt đại đa số NVNONN là ổn định cuộc
sống, hòa nhập và thành đạt trong xã hội, đồng thời tiếp tục củng cố và phát
triển cộng đồng giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc và đẩy mạnh
các hoạt động hướng về cội nguồn, cùng nhân dân trong nước tham gia tích
nước, những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới trên đất nước ta.
Đồng thời, với sứ mạng “Mang giá trị Việt ra khắp thế giới” VTV4 tôn vinh
nền văn hóa, lịch sử, đất nước, con người Việt Nam tới với thế giới, mà đặc
biệt là cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của VTV4 trong việc quảng
bá hình ảnh văn hóa Việt Nam tới với cộng đồng NVNONN, tác giả đã mạnh
dạn chọn và nghiên cứu đề tài “Quảng bá văn hóa Việt Nam cho người Việt
Nam ở nước ngoài qua kênh truyền hình VTV4” nhằm làm sáng tỏ hơn nữa
vai trò và tầm quan trọng của việc quảng bá văn hóa Việt Nam cho NVNONN
trên kênh VTV4. Cũng như tổng kết lại những ưu điểm và các mặt còn hạn
chế trong các chương trình về văn hóa trên VTV4.
11
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đối với cộng đồng NVNONN, Đảng ta đã khẳng định đây là một bộ
phận không tách rời, là nguồn lực quan trọng của các dân tộc Việt Nam và là
cầu nối hữu nghị, hợp tác có ý nghĩa của nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc
tế. Chính vì vậy trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ
thị, nghị quyết, quyết định về vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài cũng như
công tác thông tin đối ngoại cho NVNONN. Đồng thời, cũng có nhiều cuốn
sách nghiên cứu về NVNONN như: “Về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, NXB TPHCM, 1990, “ Người Việt nam
ở nước ngoài” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, NXB Chính trị quốc gia
năm 1997 hay cuốn “ Người Việt ở nước ngoài không chỉ có Việt kiều” Trần
Trọng Đăng Đàn, NXB Chính trị quốc gia năm 2005. Dựa trên công tác khảo
cứu về người Việt Nam ở nước ngoài theo từng vùng kiểu cư: Tây Âu, Bắc
Mỹ, Liên Xô trước đây và Đông Âu ; theo từng nhóm người: trí thức, sinh
viên, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, lao động… Những công trình này đã nghiên
cứu một cách công phu với hệ thống tư liệu phong phú, sinh động đề cập đến
nhiều vấn đề trên các mặt, các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế,
Văn Quảng đã khẳng định vai trò quan trọng của thông tin đối ngoại đối với
công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ra thế
giới. Tác giả cũng đã chỉ ra những mặt thành công, hạn chế và rút ra bài học
kinh nghiệm trong công tác thông tin đối ngoại cho NVNONNN trên các
phương tiện truyền thông đại chúng.
Ở phạm vị hẹp hơn, tập trung làm rõ vai trò của kênh truyền hình đối
ngoại VTV4 trong công tác chuyển tải thông tin tới kiều bào ở nước ngoài
cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như:
13
Khóa Luận “ Công tác biên tập các chuyên mục dành cho người Việt
Nam ở nước ngoài trên kênh VTV4 – Đài THVN” của tác giả Hoàng Hồng
Hạnh, khoa Báo chí – Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Thông qua khảo sát
hai chuyên mục “Gặp gỡ khán giả VTV4” và “Kết nối cộng đồng”, tác giả tập
trung nghiên cứu về công tác biên tập các chuyên mục dành cho NVNONN
của các phóng viên, biên tập viên và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất
lượng biên tập nội dung các chuyên mục trên VTV4.
Với đề tài “Nâng cao hiệu quả chương trình thời sự đối ngoại của Đài
Truyền hình Việt Nam” trong luận văn thạc sỹ báo chí, tác giả Đào Huy Hoàng
đã đi sâu vào nghiên cứu các bản tin thời sự bằng tiếng nước ngoài phát trên
kênh VTV1, VTV2 và VTV4 của Đài truyền hình Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra
nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng là NVNONN. Từ đó nhấn mạnh vai
trò của các bản tin, đặc biệt là các bản tin thời sự trên VTV4. Được phát sóng
bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như: tiếng Anh, Pháp, Trung…các bản tin thời
sự của VTV4 là chiếc cầu nối hơn 4 triệu kiều bào đang sinh sống, học tập và
làm việc tại nước ngoài với các sự kiện thời sự, chính trị, văn hóa ở trong nước.
Ngoài ra, Đề án “Nâng cao chất lượng kênh truyền hình VTV4” của
Ban tuyền hình đối ngoại – Đài THVN, đánh giá những hoạt động nổi bật của
VTV4 cũng như những hạn chế còn tồn đọng, từ đó đề án cũng đã đưa ra
phương hướng, chiến lược tổng quát phát triển dài hạn của VTV4 trong giai
số giải pháp thúc đẩy quảng bá văn hóa Việt Nam tới NVNONN.
Và mới đây nhất là công trình luận văn thạc sỹ báo chí của tác giá Lý
Thị Hải Yến với đề tài “ Kênh VTV4, báo trực tuyến và công chúng người
Việt Nam ở nước ngoài” đã nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về nhu
cầu tiếp nhận của công chúng NVNONN ( cụ thể ở Hàn Quốc, Nga, Mỹ), chỉ
ra sự quan tâm của công chúng với các vấn đề trong nước để truyền tải, đồng
15
thời luận văn cũng đã đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông
tới đối tượng là NVNONN.
Đây là những tài liệu hết sức quý giá cho công trình nghiên cứu về quảng
bá hình ảnh Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chưa thật sự có 1 đề tài nào đi
sâu vào nghiên cứu thực trạng hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam trên
kênh VTV4. Vì vậy, đề tài mong muốn làm rõ hơn các kết quả của các nghiên
cứu trước đó và phát hiện một số vấn đề mới phục vụ cho công tác quảng bá
hình ảnh văn hóa Việt Nam tới cộng đồng NVNONN.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn: Nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn chương
trình truyền hình dành cho NVNONN của kênh truyền hình VTV4. Qua đó
rút ra những ưu nhược điểm của các chương trình, đề xuất kiến nghị một số
giải nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình truyền hình phù hợp
với đối tượng công chúng là NVNONN.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát, tổng hợp, phân tích giá chất lượng hiệu quả
của các chương trình truyền hình về văn hóa dành cho NVNONN trên sóng
VTV4, Đài THVN. Khảo sát hoạt động nghề nghiệp của những người tham gia
vào quy trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho
NVNONN; tổng kết, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Chương trình quảng bá văn hóa Việt
Nam cho NVNONN trên kênh truyền hình VTV4
Phạm vi nghiên cứu: là một số chương trình văn hóa trên kênh VTV4,
Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình
truyền hình dành cho đối tượng công chúng là NVNONN.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
17
Trên cơ sở tổng hợp, khảo sát ý kiến khán gải qua thư điện tử gửi về
chương trình nhằm rút ra những kinh nghiệm thực tiễn và một số vấn đề lý
luận nhằm nâng cao chất lượng các chương trình trên VTV4 nói chung, các
chương trình thông tin về văn hóa Việt Nam nói riêng.
Làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong việc hoạch định những
chính sách và xây dựng quy trình sản xuất phù hợp nhằm nâng cao chất lượng
chương trình truyền hình dành cho NVNONN.
Làm tư liệu tham khảo cho các đồng nghiệp và sinh viên báo chí
7. Kết cấu của Luận Văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quảng bá văn hóa Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quảng bá văn hóa Việt Nam trên kênh truyền hình
VTV4 – Đài truyền hình Việt Nam
Chương 3: Kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng
hiệu quả chương trình quảng bá văn hóa Việt Nam dành cho người VNONN
hay một cá nhân bất kỳ trong nền văn hóa ấy.
19
Về mặt thuật ngữ khoa học Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh
“Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng được dùng theo nghĩa Cultus Agri là
"gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự
giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người".
Theo tự điển của Viện Hàn lâm Pháp, từ “văn hóa” được định nghĩa là:
“Toàn bộ những thủ đắc về văn chương, nghệ thuật, thủ công nghiệp, kỹ
thuật, khoa học, phong hóa, luật lệ, cơ chế, tục lệ, truyền thống, những cách
suy nghĩ và những cách sống, những cách ứng xử thuộc mọi lãnh vực, những
lễ nghi, những thần thoại và tin tưởng tạo nên một di sản cộng đồng và cá
tính của một nước, một dân tộc hay một sắc dân, một quốc gia”.
Tại Việt Nam, ngay từ những thập niên khởi đầu xây dựng Văn học
Quốc Ngữ của Việt Nam, nhà sử học Đào Duy Anh đã hiện ra như một học
giả với tác phẩm giáo khoa uy tín từ năm 1938: “Việt Nam Văn Hoá sử
cương”. Ngay trang đầu, theo lối tác phẩm tư tưởng Âu Mỹ, ông xác định từ
ngữ “Văn hóa là gì”, và theo ông Văn hóa tức là sinh hoạt “Văn hoá chính là
toàn bộ sinh hoạt của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội để tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [1, tr.11].
Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới ra đời cũng đã rất chú trọng tới
vai trò của văn hoá đối với sự phát triển xã hội. Bắt đầu từ đề cương văn hoá
của Đảng và bắt đầu từ định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hoá, lĩnh vực độc
đáo này đã được nhận thức theo nghĩa rộng nhất: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [24, tr. 431]
Trong định nghĩa của Hồ Chí Minh, đặc trưng quan trọng nhất của văn
hoá chính là sáng tạo và phát minh, cụm từ đã được nhấn mạnh tới 2 lần. Nội
21
có hệ giá trị được vun bồi, chắt lọc, nâng cao qua nhiều thế hệ, nên vừa gắn với
truyền thống vừa gắn với thời đại. Do vậy, văn hóa không đứng ngoài phát
triển, nó nằm bên trong sự phát triển, là yếu tố nội sinh, là động lực và mục tiêu
của sự phát triển. Mọi quá trình phát triển đều bao hàm nội dung văn hóa.
Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm
đặc sắc nhất của con người tạo ra trong quá trình lao động. Có thể nói văn hóa
là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con
người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã
hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại. Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn
minh cao hay thấp đều có những văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của
mình. Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất
được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bản sắc riêng của một dân
tộc. Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế hệ sau và trở
thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước.
Vậy, truyền thống văn hóa là gì? Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm
cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những
kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và
tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng
những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” [ 34, tr. 35]
Truyền thống văn hóa dân tộc được coi là yếu tố nội sinh cơ bản của sự
phát triển của một dân tộc của một quốc gia, một cộng đồng. Thông qua
truyền thống văn hóa của một dân tộc, sức mạnh cội rễ của một dân tộc, ý
thức dân tộc, sức mạnh tinh thần của văn hóa, của một dân tộc sẽ được lưu
giữ, truyền lại và phát triển. Các quốc gia, các dân tộc trên thế giới đều có
nguồn gốc giống nhau song không thể có nền văn hóa dân tộc giống nhau
được. Các đặc điểm riêng của các nền văn hóa dân tộc được xác định một
cách tương đối nhờ các yếu tố sau:
- Hoàn cảnh địa lý, tự nhiên xã hội
"Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận
khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là
cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu
hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Thuật ngữ bản sắc
thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc. Nói đến dân tộc là nói đến
văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân
tộc. Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất
của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được
biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa [ 9, tr. 45].
Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống – ý thức của
một cộng đồng, bao gồm : cội nguồn, cách tư duy, cách sống, dựng nước, giữ
nước, sáng tạo văn hóa. Trong quá trình tồn tại và phát triển, bản sắc văn hoá
là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử
thách của lịch sử. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng và có những giải pháp
cụ thể trong quá trình phát triển.
Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng,
khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc
dân tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Mỗi
dân tộc đều có một nền văn hóa bản sắc riêng. Không phụ thuộc hẳn vào số
dân và diện tích, giá trị văn hóa được hình thành và phát triển với nhiều
nhân tố, lịch sử nguồn cội dân tộc, dân trí, ngôn ngữ, ý thức thẩm mỹ. Dấu ấn
của dân tộc in đậm nét trong bản sắc văn hóa và chính những giá trị văn hóa
góp phần trực tiếp làm nên sự bên vững của dân tộc. Chính vì vậy, bản sắc
văn hóa dân tộc là cái "hồn", là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn cước của
mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu
24
lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và
hội nhập.
61]. Đó là nhân tố đầu tiên và cũng là nhân tố làm nên đặc trưng gốc của
văn hoá Việt Nam.
Với vị trí địa lý giao điểm của các luồng văn hóa, quá trình phát triển
lịch sử - xã hội của Việt Nam đã bị chi phối mạnh mẽ bởi các quan hệ giao
lưu văn hóa rộng rãi, sớm tiếp xúc với các nước khác- tức cũng là các nền văn
hoá khác, như Trung Hoa, Ấn Độ (từ rất sớm), sau đó là tiếp xúc với văn hoá
phương Tây…Trong bối cảnh đó, dù sớm hay muộn, dù nhiều hay ít, văn hoá
Việt Nam cũng đã có những ảnh hưởng nhất định và đã tiếp nhận các nền văn
hoá này ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là với văn hoá Trung Hoa. Đây
là nhân tố thứ hai, góp phần làm nên đặc trưng văn hoá Việt Nam.
Tuy vậy, với điều kiện môi trường tự nhiên khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, với một không gian xã hội được định hình rất sớm, nên đặc trưng gốc
văn hoá nông nghiệp lúa nước vẫn bảo lưu, làm thành mạch ngầm xuyên suốt
chiều dài không gian và thời gian dân tộc Việt; và đây chính là đặc tính trội
nhất khi nói về bản sắc văn hoá Việt Nam, về lịch sử dân tộc Việt Nam.
Hình thành trên nền của văn hóa bản địa Nam Á và Đông Nam Á, trải
qua hàng ngàn năm giao lưu với văn hóa khu vực, văn hoá Việt Nam dù tiếp
thu với nhiều nền văn hoá khác, nhưng vẫn mang bản sắc riêng thống nhất
trong đa dạng của 54 dân tộc, với phổ hệ xã hội là gia đình, làng xã và đất
nước; với hoàn cảnh thường xuyên phải chống giặc ngoại xâm; với tinh thần
đoàn kết, gắn bó cộng đồng, trọng tình, ứng xử mềm dẻo, khoan dung hòa
hiếu, hướng tới sự hài hòa…Tất cả là nét tâm lý chủ đạo và đồng thời cũng là
bản sắc văn hóa Việt Nam. Nghị quyết TW5 (khóa VIII) khẳng định “Bản sắc
dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các
26
dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường
của dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình,
làng xã, Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính
đất nước Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến. Ở một vùng địa lý của cư dân
trồng lúa nước giữa trung tâm của khu vực Đông Nam Á, dân tộc ta đã làm
nảy sinh và hình thành và phát triển một nền văn hóa giàu tính nhân văn, một
bộ phận quan trọng của hình ảnh đất nước Việt Nam phong phú giàu đẹp.
Hệ giá trị văn hoá Việt Nam là bản sắc văn hoá Việt Nam, do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo nên, được sàng lọc và tích luỹ trong
chiều dài lịch sử của những cuộc đấu tranh sinh tồn để dựng nước và giữ
nước, kết tinh trí tuệ và tình cảm, quan niệm đạo đức và lý tưởng thẩm mỹ
của cả cộng đồng dân tộc. Và bản sắc văn hoá dân tộc không phải là cái
ngưng đọng, bất biến mà luôn phát triển một cách biện chứng theo xu hướng
tích lũy, thu nạp những điều tốt đẹp, tiến bộ, sa thải cái xấu, cái lạc hậu không
phù hợp với thời đại. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử văn hoá Việt Nam đã
vượt qua thế bị động để tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm
bản sắc của mình.
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa tộc người, nhưng lại là một
nền văn hóa thống nhất. Văn hóa Việt Nam có truyền thống lâu đời, giàu sắc
thái, mang tính đa dân tộc, biểu hiện toàn bộ đời sống xã hội, từ ngôn ngữ, tôn
giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, hành vi, lối sống. Trong cái mẫu chung
của nền văn hóa Việt nam, có những diện mạo văn hóa riêng của mỗi dân tộc,
mối tộc người được phân bố theo các vùng địa lý khác nhau. Có thể thấy rằng
bản sắc địa phương hòa đồng trong bản sắc dân tộc đã tạo ra một nền văn hóa
truyền thống của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng.