LUẬN VĂN: Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng con người Việt Nam - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng
con người Việt Nam

mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề con người và giải phóng con người là vấn đề muôn thủa, một đề tài tưởng
chừng đã cũ nhưng luôn luôn mới, một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học,
bởi lẽ thế giới xung quanh con người, và bản thân con người luôn vận động, biến đổi. Xã
hội ngày càng phát triển, nhận thức của con người ngày càng sâu rộng thì những vấn đề
con người đặt ra cũng ngày càng phức tạp, đa dạng hơn. Con người và giải phóng con
người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, đúng như C.Mác đã
dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất - đó là khoa
học về con người. Trong giai đoạn hiện nay, con người và giải phóng con người đang trở
thành một vấn đề thực tiễn sống động, có ảnh hưởng đến các nền tảng của nhân loại. Vì
vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề con người, giải phóng con người là một trong
những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có một mong muốn tột bậc là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo

KX02.12: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, do
PGS.TS Trịnh Nhu làm chủ nhiệm.
Các đề tài trên đây đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, từ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Qua việc nghiên cứu, các
tác giả đã khẳng định những đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh
vực quan trọng như: Mục tiêu con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc đi
lên chủ nghĩa xã hội; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; về sức mạnh của khối đoàn kết toàn
dân; về chính sách xã hội đối với con người, v.v
- Trong chương trình KHXH.04 (1996-2000) có một số đề tài đề cập đến chủ đề này:
KHXH.01: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và xây dựng con người mới, do GS. Đặng
Xuân Kỳ làm chủ nhiệm.

Liên quan đến nội dung này có một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Tư tưởng Hồ
Chí Minh về quyền con người và vận dụng nó trong điều kiện nước ta hiện nay, (2003), do
TS. Phạm Ngọc Anh làm chủ nhiệm.
Về sách, các luận văn, luận án, đáng chú ý là các sản phẩm: Đỗ Huy: Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, Nxb KHXH Hà Nội, 1999; Hoàng
Trang - Phạm Ngọc Anh (đồng chủ biên): Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo
dục cán bộ đảng viên hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004; Lê Quang Hoan (2001): Tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc phát huy nhân tố con người trong công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học.
Các sản phẩm khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề về
quyền con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản
tư tưởng của Người về văn hoá, về con người, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới;
về nhân tố con người và vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay.
- Liên quan đến vấn đề giải phóng con người có một số bài viết đăng trên các tạp chí,
đáng chú ý là các bài của Nguyễn Văn Tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát
huy nhân tố con người”, Tạp chí Triết học, số 2 (2-2004); Lại Quốc Khánh: “Bản chất
nhân đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng con người “, Tạp chí Cộng sản, số 14

người của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về con người và giải phóng con người.
- Vận dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, các
phương pháp: lịch sử - lôgíc; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp, so sánh; khái quát
hoá… để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.
5. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp
giải phóng con người.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm mục tiêu giải phóng con người trong sự
nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
6. ý nghĩa của luận văn

Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu và giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở bậc đại học và cao đẳng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
gồm 3 chương, 6 tiết.

Chương 1
Vấn đề con người và giảI phóng người việt nam
trong tư duy lý luận của Hồ Chí Minh

1.1. Vấn đề con người Việt Nam trong nhận thức của Hồ Chí Minh
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề con người cũng như bản chất con người đã
được bàn nhiều ở cả phương Tây và phương Đông. Tuỳ thuộc vào thế giới quan, lập

đàn áp những người dân vô tội, bên ngoài thực hiện chính sách bảo thủ, khép kín, bế quan,
toả cảng, khước từ mọi đề án cải cách kinh tế - xã hội. Chính thái độ ươn hèn trước nạn
ngoại xâm của quan, quân triều Nguyễn mà đất nước Việt Nam từng bước rơi vào tay thực
dân Pháp xâm lược qua việc ký Hiệp định Hác Măng (l883), Hiệp ước Patơnốt (1884) đã
chính thức công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam.
Sau khi hoàn thành sự xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách
cai trị thuộc địa: độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nô dịch về văn hoá. Chúng
biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong
kiến, làm cho nền kinh tế thuần nông, đời sống xã hội - giai cấp bị phân hoá sâu sắc. Bên
cạnh mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa
chủ phong kiến, đã xuất hiện mâu thuẫn mới là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam
với thực dân Pháp xâm lược.
Là người dân của một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đi nhiều, tiếp xúc với nhiều tầng
lớp xã hội, Người hiểu hơn ai hết sự cùng khổ của người Việt Nam dưới ách thống trị, bóc
lột tàn bạo của thực dân, phong kiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Sự cùng khổ về mặt chính trị:
Dưới chế độ thống trị của thực dân, phong kiến, mọi người dân Việt Nam đều bị tước
bỏ quyền tự do, độc lập - quyền cơ bản của mỗi một quốc gia dân tộc và quyền được sống,
quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc - quyền thiêng liêng của mỗi con người. Đa
số người dân Việt Nam, nhất là những người lao động phải chịu một kiếp đời nô lệ, cuộc
sống của họ là những chuỗi tháng ngày đấu tranh và khổ nhục không ngừng.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh đã phân
tích nỗi cực khổ của người dân bản xứ về nhiều mặt, trong đó bao trùm nhất là nỗi khổ cực
khi những giá trị nhân phẩm con người bị trà đạp một cách nghiêm trọng.
Theo Hồ Chí Minh, dưới con mắt của những kẻ xâm lược núp dưới danh nghĩa “ khai
hoá văn minh”, thực dân Pháp coi người Việt Nam bản xứ chỉ là những tên “Annamít”, là
bọn “nhà quê” bẩn thỉu, nhân phẩm của họ không đáng giá một đồng xu. Vì vậy, họ không
cần đến một thứ công lý nào hết, cách tốt nhất để cai trị thuộc địa là thống trị bằng sức

mạnh: ba toong, súng ngắn, súng dài. Những thứ đó - theo bọn thực dân - mới là những thứ

kẻ đi xâm lược cũng phải thú nhận rằng: “Chúng ta tới đây không làm cho người An Nam
giàu lên chút nào mà còn gây nên khủng hoảng để di hại lâu dài. Cạnh tranh của người âu
đã bóp chết một số công nghiệp, thuế má nặng nề làm phá sản một số công nghiệp
khác”[43, tr.426].
Dưới chế độ thực dân, phong kiến, người dân Việt Nam bị biến thành những “công
cụ biết nói”, thân phận họ chỉ là những người lao động làm thuê cho giai cấp địa chủ
phong kiến và tư sản mại bản, luôn bị bóc lột, đánh đập giã man. Lao động không còn là
mục đích tự thân mà thực sự biến thành khổ nhục, thông qua nghĩa vụ, trách nhiệm của
người nô lệ đối với những kẻ thống trị. Người Việt Nam đã từng sinh hoạt, lao động trong
những điều kiện tự nhiên thuận lợi, có đức tính cần cù chịu khó trong lao động, họ rất
thông minh và sáng tạo, “ấy thế mà người dân An Nam lại sống đời sống nghèo nàn nhất.
Sự phồn thịnh ấy do bàn tay họ làm nên nhưng không phải để cho họ hưởng”[43, tr.359]
và “dân An Nam không bao giờ được thấy những đồng bạc của mình trắng đen ra sao”[43,
tr.362].
- Sự cùng khổ về văn hoá - xã hội:
Xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã mang đến xứ này thứ văn minh độc hại được
bao bọc bởi một lớp sơn mỹ miều “Tự, do, bình đẳng, bác ái”, mà Hồ Chí Minh gọi mỉa
mai là “Nền văn minh thượng đẳng”. Chính cái văn minh Tây học này làm cho văn minh
Nho học, với nền tảng tư tưởng Nho giáo đã từng chi phối đời sống xã hội Việt Nam bị
lung lay tận gốc rễ. Dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, người Việt Nam không
những không được “khai hoá” bởi những tư tưởng tiến bộ: tự do, bình đẳng, bác ái của
thời kỳ Khai sáng Pháp mà đại biểu là Vônte, Môngtexkiơ, Rutxô, Huy Gô …, trái lại, họ
luôn “ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhằm nhồi sọ, đầu
độc hoá, không lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm”[43, tr.8].
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong nhận thức của kẻ xâm lược, “Truyền học vấn cho bọn
annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng
những súng bắn nhanh để chống lại chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông
thái gây rắc rối hơn là có ích”[43, tr.7]. Vì vậy, người An Nam đều bị biến thành đối tượng
tiêu thụ, bị đầu độc bởi ruợu cồn, thuốc phiện, “có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện
cho một nghìn làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng”[43, tr.26]. Hồ

thêm…Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng

công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền,
thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải, ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh
ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh…là những đặc điểm về bản tính của
người An Nam hình thành từ bao thế hệ [43, tr.425-426].
Vậy mà “Chúng ta đến đây không làm cho người An Nam giàu lên chút nào mà
còn gây nên khủng hoảng để di hại lâu dài” [43, tr.426-427]. “Xã hội cũ An Nam tổ chức tốt
như thế đã bị chúng ta phá huỷ…Khắp nơi, người ta vi phạm luật lệ của người An Nam, coi
thường phong tục, cướp bóc tài sản; mượn cớ đi chấn áp, nên quân lính “được thể” lại tha hồ
cướp phá, giết chóc; thú tính xấu xa nhất lại hoành hành; đến cái vẻ công lý cũng không còn [43,
tr.426-427].
Từ những điều trình bày ở trên, chúng ta thấy rất rõ, Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề
con người Việt Nam trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến bằng cách truy tìm nguyên
nhân gây nên mọi nỗi khổ, sự cùng cực, thậm chí mất nhân tính của người dân Việt Nam là
do sự tồn tại của chế độ tư hữu. Từ đó, Hồ Chí Minh đã đi đến quan niệm về một cuộc
cách mạng triệt để nhất để giải phóng con người là cách mạng vô sản. Tuy nhiên, Người
cũng thấy rõ sự nghiệp vĩ đại ấy là cả một quá trình rất lâu dài, gian khổ, đầy những bước
thăng trầm. Không có chủ nghĩa nhân đạo tự nó, cũng không có tự do dân chủ tự nó mà
phải biến thành chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, tức là phải làm cuộc cách mạng vô sản
nhằm thủ tiêu chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất- mầm mống của sự tha hoá con
người.
Thống nhất với quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí
Minh nhận thức rõ việc xoá bỏ chế độ tư hữu ở đây không phải là chế độ sở hữu nói chung
mà là chế độ sở hữu tư sản và sở hữu phong kiến. Xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản và sở hữu
phong kiến không phải là thủ tiêu nó với tư cách là một giai cấp mà chính là chế độ áp
bức, thống trị về chính trị, bóc lột về kinh tế và nô dịch về văn hoá, giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp và đi đến giải phóng triệt để con người.
1.1.2. Con người là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp
cách mạng

dân tộc quốc gia (quần chúng nhân dân nói chung); giai cấp, tầng lớp (công nhân, nông
dân, trí thức) và cá nhân. Người khẳng định: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời
không gì quý bằng nhân dân”[50, tr.276], “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là

công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội” [51, tr.373]; “phải biết quý trọng sức
người là vốn quý nhất của ta” [52, tr.313].
Coi con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi người phải biết yêu thương
đồng loại. Người cách mạng phải có đức “Nhân”, tức là “phải có lòng bác ái - yêu nước,
yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình” [47, tr.224]. Yêu thương con người theo Hồ Chí
Minh, phải là một tình cảm rộng lớn, trước hết giành cho những người cùng khổ bị áp bức
bóc lột; đó phải là một tình cảm đặc biệt không giống với tình thương kiểu tôn giáo; không
phải từ trên trông xuống, từ ngoài nhìn vào mà ở trong lòng mỗi con người khổ đau bất
hạnh để cảm thông, chia sẻ.
ở Hồ Chí Minh, tình yêu thương con người không chung chung trừu tượng mà thực
sự biến thành động cơ, mục đích, thành khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,
giải phóng con người. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng, ham muốn tột bậc của Hồ Chí
Minh chỉ là đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do, nhân dân ta ai cũng có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc. Khi về nơi vĩnh hằng, trong Di chúc để lại cho hậu thế, vấn đề đầu tiên
Người đề cập đến là vấn đề con người.
Do vậy, Mô-ha-mét La-ma-ri (Mohamed Lamari) - đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước
cộng hoà dân chủ nhân dân An-giê-ri tại Việt Nam đã nhận xét:
ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một
lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc
chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và
nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới [73, tr.49-
50].
Coi con người là vốn quý nhất, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải biết trân trọng sinh mệnh,
phẩm giá con người, tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người; biết khơi dậy khả năng
tiềm tàng của họ, thức tỉnh, giáo dục họ tự giác đứng lên đấu tranh tự giải phóng; phải biết
nâng đỡ con người, làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của
ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó
kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cuớp nước [48, tr.171].

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh
vô địch của quần chúng nhân dân khi được tập hợp tổ chức và giáo dục theo một đường lối
đúng đắn. Người khẳng định: “Ai làm cách mạng? - Nhân dân! Ai kháng chiến thắng lợi? -
Toàn dân” [51, tr.506]. “Không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm
cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm được” [48,
tr.292]. “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực
lượng đó” [46, tr.20].
Vai trò của con người còn được Hồ Chí Minh xác định rõ trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có
những con người xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình
xây dựng nên, “đó là công trình tập thể của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng” [51, tr.291].
1.1.3. Con người và bản chất con người
1.1.3.1. Khái niệm “ con người” trong nhận thức của Hồ Chí Minh
Trước đây, khi đưa ra quan niệm về con người, C.Mác cho rằng, con người được hiểu
là phương thức tồn tại đặc thù của con người, phương thức sinh hoạt tộc loại đặc thù của
con người. Bằng việc “sáng tạo ra một cách thực tiễn thế giới đối tượng”, bằng “việc cải
tạo giới tự nhiên vô cơ”, con người trở thành một thực thể mang tính tộc loại, có ý thức,
một thực thể đối xử với tộc loại như với bản chất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân
mình như với một thực thể có tính chất tộc loại. Qua việc phân tích sự khác nhau giữa hoạt
động của con người với hoạt động của con vật, C.Mác đi đến kết luận: hoạt động sinh sống
của con người là hoạt động sinh sống có ý thức, hoạt động theo phương thức “xây
dựng”vật chất theo quy luật của cái đẹp. Do con người là một thực thể tộc loại, là một sinh
vật có tính loài có ý thức, “đời sống của bản thân con người là một đối tượng đối với con
người”, nên “hoạt động của con người là hoạt động tự do” [37, tr.36].

vàng”, “người da đen”, “người vô sản thuộc địa”, “người vô sản ở chính quốc”, “người
cùng khổ” v.v Như vậy, với Hồ Chí Minh, con người bao giờ cũng thuộc về một dân tộc,
chủng tộc, sắc tộc, thuộc về một quốc gia nhất định. Người khẳng định mọi người dù khác
nhau như thế nào thì vẫn có điểm chung là sinh ra phải được tự do, bình đẳng và mưu cầu
hạnh phúc.

Sau cách mạng tháng Tám 1945, mỗi người dân Việt Nam đã thực sự trở thành chủ
nhân của đất nước, bản chất xã hội đã thay đổi, Hồ Chí Minh thường sử dụng các thuật
ngữ như: “đồng bào”, “quốc dân”, “nhân dân”,v.v, qua đó đặt con người trong sự gắn bó
mật thiết với cộng đồng dân tộc.
Bên cạnh việc nói đến con người dân tộc, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú ý đến con
người giai cấp trong quan niệm về con người. Trong những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí
Minh thường dùng các thuật ngữ “người bị áp bức”, “người bị bóc lột”, “tên tư sản”, “nhà
độc tài” …để chỉ con người. Trong thời kỳ miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí
Minh dùng các thuật ngữ “người làm chủ”, “người làm chủ tập thể”, “lao động trí óc”, “lao
động chân tay”… cho phù hợp với các quan hệ xã hội mới.
Hồ Chí Minh chỉ dùng khái niệm “con người” ở hai thời điểm: Trong Tuyên ngôn
của Hội liên hiệp thuộc địa (1921), Người viết rằng nhân dân thuộc địa bị tước đoạt mất
các quyền lợi gắn liền với “phẩm giá con người”. Trong Lời kêu gọi đăng trên trang nhất,
số đầu tiên báo Người cùng khổ - cơ quan ngôn luận của hội Liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí
Minh viết rằng sứ mệnh của tờ báo là “giải phóng con người”. Năm 1968, trong bản bổ sung
cho Di chúc, Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”.
Đặc biệt, năm 1947, Hồ Chí Minh đã nêu một quan niệm khá độc đáo về con người,
“Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả
nước. Rộng hơn là cả loài người” [46, tr.644]. Con người trong quan niệm của Hồ Chí
Minh vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội. Con người
vừa là một chỉnh thể đơn nhất mang những phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội
mang những phẩm chất của một hệ thống các quan hệ xã hội trong sự thống nhất biện
chứng giữa cái chung với cái đặc thù, cái riêng. Trong cộng đồng con người Việt Nam, rõ
ràng, quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng. Hơn nữa, nét độc đáo trong cộng

chất con người không phải là trừu tượng mà là cụ thể, không phải là tự nhiên mà là lịch sử,
không phải là cái vốn có trong mỗi cá nhân riêng biệt, cô lập, mà là tổng hoà của toàn bộ
các quan hệ xã hội.
Trong thực tế, con người là con người xã hội, con người gắn với xã hội, là những cá
thể nằm trong các quan hệ xã hội nhất định. Nếu tách con người khỏi các quan hệ xã hội
thì con người chỉ còn là một loài sinh vật giống như mọi loài sinh vật khác; và lúc đó sự

gắn bó giữa những cá nhân chỉ mang tính chất bầy đàn sinh vật chứ không có xã hội của
con người.
Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội cũng có nghĩa là tất cả
các quan hệ xã hội đều tham gia vào việc hình thành bản chất con người. Các quan hệ xã
hội vô cùng phong phú, đa dạng, luôn đan xen, tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ sản
xuất đóng vai trò chi phối, quyết định các quan hệ xã hội khác. Nếu quan hệ sản xuất thể
hiện bản chất tầng một của con người, thì các quan hệ xã hội khác thể hiện bản chất tầng
hai của con người và lại được thể hiện thông qua cái bản chất tầng một, tạo nên những
khác biệt giữa con người với con người. Tính chi phối, quyết định của quan hệ sản xuất
đối với các quan hệ xã hội khác là ở chỗ đó.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh luôn đặt con người
và xem xét nó trong các mối quan hệ xã hội nhất định. Con người mang bản chất xã hội, là
thành viên của một cộng đồng xã hội, đó là cộng động năm cấp độ: gia đình - họ tộc - làng
- nước - nhân loại. Con người không phải là những cá thể biệt lập giống như Rôbinxơn
ngoài hoang đảo. Chỉ có trong quan hệ xã hội, trong hoạt động thực tiễn con người mới có
hoạt động lao động, có ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy, mới thực sự trở thành con người
để có thể phân biệt với mọi loài động vật khác.
Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâm, trước hết là những quan hệ đã gắn
bó giữa người với người tạo thành cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ hẹp đến rộng. Từ cộng
đồng gia đình, họ tộc, cộng đồng làng xã cho đến cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân
loại. Đối với người Việt Nam, những cộng đồng gia đình, họ tộc, làng xã, dân tộc đã tạo
thành tính cộng đồng bền vững được bồi đắp qua trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước
góp phần hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa dân tộc chân chính mà có

với con đường phát triển của nhân loại đã chứng minh rõ điều đó.
Thứ hai, theo Hồ Chí Minh con người mang bản chất giai cấp.
Ban đầu, Hồ Chí Minh cũng như phần đông người Việt Nam đều quan niệm một
cách giản đơn rằng loài người được phân biệt bởi những màu da khác nhau. Khi đặt chân
đến nước Pháp trên hành trình tìm đường cứu nước, Người nhận ra rằng ở một nước được
coi là trung tâm văn minh của châu Âu không phải chỉ toàn những người giàu có, mà ở đó
cũng có những người nghèo khổ như Việt Nam, “những người Pháp ở Pháp phần nhiều là
tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo” [72, tr.23].

Vượt qua ranh giới về màu da - một lý thuyết khá thịnh hành về “đồng văn đồng
chủng” ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhận ra rằng: đã là người dân
bị nô lệ, thì dù da là màu gì đi chăng nữa cũng đều là những người “cùng khổ”; đã là kẻ đi
bóc lột, thì dù cho da trắng hay da vàng ở phương Tây hay phương Đông đều có chung bản
chất giống nhau - bản chất xấu xa, độc ác. Người kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau,
trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng
chỉ có một mối tình hữu ai là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [43, tr.266]. “Trên quả đất,
có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và
người ác”[47, tr.643].
Sau khi tiếp cận được với học thuyết Mác-Lênin, nhận thức của Hồ Chí Minh về bản
chất con người dựa trên cơ sở thế giới quan khoa học. Đứng vững trên lập trường duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, Hồ Chí Minh nhận thấy sự phân biệt giữa người với người
không đơn thuần chỉ là vấn đề chủng tộc, dân tộc, mà chủ yếu trên cơ sở nhận thức đúng
đắn vấn đề giai cấp, tức là con người đó đứng về phía giai cấp nào: giai cấp bóc lột hay
giai cấp bị bóc lột? Giai cấp thống trị hay giai cấp bị trị? Sự phân biệt ấy được Hồ Chí
Minh gọi là giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Từ nhận thức về màu da, chủng
tộc, dân tộc rồi đi đến nhận thức về giai cấp là quá trình vận động tuân theo quy luật tư duy
của Hồ Chí Minh về vấn đề bản chất con người.
Trong xã hội có giai cấp, tính giai cấp của con người được thể hiện thông qua các
quan hệ xã hội, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối. Quán triệt sâu sắc quan
điểm của C.Mác và Ph.ăngghen về bản chất con người, Hồ Chí Minh khẳng định quan hệ

phần bỉ tiện, có phần cao đại và phần thấp hèn. Chính cái phần quý trọng và cao đại mới là
tính người, mới là cái phân biệt giữa người và thú. Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho
rằng bản tính con người vốn ác, đó là kết quả của thói hiếu lợi và đố kỵ trong mỗi con
người khi mới sinh ra. Để sửa tính ác thành tính thiện, ông chủ trương cần có sự giáo hoá,
dùng lễ nghĩa và lễ nhạc. Điểm giống nhau giữa Mạnh Tử và Tuân Tử là ở chỗ đã tuyệt đối
hoá tính “thiện” hay tính “ác” trong mỗi con người mà không thấy được sự chuyển hoá
giữa chúng khi các quan hệ xã hội thay đổi.
Sử dụng những thuật ngữ của văn hoá phương Đông nhưng dựa trên cơ sở thế giới
quan khoa học và phép biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh khẳng định bản chất con người

có cả thiện và ác, hai mặt đó luôn tồn tại đan xen trong mỗi con người. Không thể có sự
phân biệt rạch ròi giữa người này “thiện”, người kia “ác”, có chăng chỉ là tương đối do
trạng thái biểu hiện nhiều hay ít của tính “thiện” và tính “ác” trong mỗi con người. Tốt
hay xấu không phải là bản tính vốn có, con người ta sinh ra không phải tự nhiên thành
người tốt hay người xấu. Sự khác nhau đó bị chi phối phần lớn bởi điều kiện hoàn cảnh xã
hội và sự tương tác giữa con người với môi trường xã hội, phần nhiều do giáo dục mà nên.
Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh về bản chất con người hoàn toàn xa lạ với
những quan điểm duy tâm siêu hình cho rằng, bản chất của con người là bất biến đổi với
những loại người khác nhau: quân tử hay tiểu nhân, thượng trí hay hạ ngu, sinh ra để trị
người hay để người trị. Về điều này, C.Mác đã từng khẳng định: Toàn bộ lịch sử chỉ là sự
biến đổi liên tục của bản tính con người; nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ là tìm hiểu
bản chất con người nói chung, mà còn phải thấy bản chất đó thay đổi như thế nào trong
mỗi thời đại lịch sử nhất định. Chính điều này đã giải thích tại sao không ít người thuộc
các giai cấp bóc lột lại có thể từ bỏ giai cấp xuất thân của mình để đi với giai cấp bị bóc
lột, tham gia đấu tranh để giải phóng các giai cấp bị bóc lột, thậm chí trở thành lãnh tụ của
giai cấp vô sản như trường hợp của C.Mác, Ph.ăngghen, V.Lênin và bao nhiêu lãnh tụ
cộng sản khác. Cũng chính từ điều này mà chúng ta hiểu được tại sao C.Mác, Ph.ăngghen,
V.Lênin, Hồ Chí Minh lại đặc biệt coi trọng vấn đề cải tạo con người cũ, xây dựng con
người mới; xây dựng chế độ mới, đời sống mới cho con người, vì con người.
1.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về sự giải phóng người Việt Nam

quốc gia đều do nhân dân Việt Nam tự giải quyết.
Không có gì quý hơn độc lập tự do là lẽ sống và là học thuyết cách mạng của Hồ Chí
Minh, là nguồn động lực ý chí chiến đấu tuyệt vời của Người; đồng thời, là mục tiêu cấp
bách và nóng bỏng nhất của dân tộc Việt Nam đang sống trong cảnh bị đế quốc thực dân
thống trị. Không có gì quý hơn độc lập tự do là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh hàm
chứa nội dung tổng hoà biện chứng, độc đáo và mang đậm bản sắc dân tộc về ba cuộc cách
mạng của thời đại: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Độc lập tự do cho dân tộc là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh, chi phối mọi tư
duy và hành động của Người. Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh chỉ có một
ham muốn tột bậc là đất nước được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng
bào sung sướng hạnh phúc. Đó là mục tiêu và động lực của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt

Trích đoạn Xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam vì mục tiêu phát triển con ngườ Thực hiện chính sách xã hội vì con ngườ Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu Xây dựng và từng bước hoàn thiện chính sách xã hội vì con ngườ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status