LUẬN VĂN:Hồ Chí Minh với đồng bào Việt Bắc (1941 - 1954) doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Hồ Chí Minh với đồng bào Việt Bắc
(1941 - 1954)
Mở đầu


Là một giáo viên lịch sử, đang giảng dạy trên thủ phủ Việt Bắc năm xưa - tôi
thấy mình phải có trách nhiệm tìm hiểu và giáo dục cho thế hệ trẻ những di sản quý báu
của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc Việt Bắc, góp phần thiết thực vào sự
thành công cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" của
Trung ương Đảng phát động.
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi chọn vấn đề Hồ Chí Minh với đồng bào Việt Bắc
(1941 - 1954) làm đề tài luận văn.
Về mặt khoa học, đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề trong thời kỳ Hồ Chí
Minh sống tại Việt Bắc lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (1941 - 1945) và
lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954). Đề tài còn giúp hiểu rõ
hơn vai trò của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ
gắn bó giữa Đảng và dân trong cách mạng giải phóng dân tộc.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài góp phần đánh giá vai trò của lãnh tụ với quần chúng
nhân dân, vai trò của quần chúng nhân dân với lãnh tụ trong lịch sử, thấy rõ mối quan hệ
giữa Đảng và dân trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Qua đó rút ra được
những bài học về việc xác định đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, sức mạnh của
nhân dân trong cách mạng; về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và dân; về xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc; về việc gần dân, quan tâm tới dân, hiểu dân để có những quyết sách
đúng, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi. Trong sự nghiệp đất
nước ta đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đề tài, đã có không ít tác phẩm, hồi ức,
truyện ký, công trình nghiên cứu lịch sử đề cập với các góc độ khác nhau.
Trong tác phẩm: "Căn cứ địa Việt Bắc (1940-1945)" của TS. Hoàng Ngọc La -
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tác giả đề cập đến vị trí chiến lược,
truyền thống đấu tranh trong lịch sử, khẳng định vai trò căn cứ địa Việt Bắc trong lãnh

Quân đội nhân dân, 1995, viết về vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
cách mạng giải phóng dân tộc (1945 - 1954).
Tác phẩm "Bác Hồ ở Việt Bắc", Nxb Việt Bắc, 1975, giới thiệu hoạt động của Bác ba
thời kỳ ở Việt Bắc: trước Cách mạng Tháng Tám; kháng chiến chống Pháp; thời kì hòa bình.
Cuốn sách tập hợp các hồi kí của nhân dân, cán bộ đã vinh dự được gặp, được làm việc và
được Người huấn luyện và đào tạo ở Việt Bắc.
Tác phẩm "Những ngày đầu" của Lê Dục Tôn, Nxb Việt Bắc, 1971, là hồi kí của
một chiến sĩ đã tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức và lãnh đạo cứu quốc quân,
xây dựng khu căn cứ Việt Bắc những ngày đầu cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945.
Tác phẩm "Bác Hồ chăm sóc cán bộ" của Lâm Ngọc Thụ, Nxb Văn học, 1995,
nói về sự quan tâm săn sóc của Bác Hồ đối với cán bộ ngay từ những năm ở chiến khu
Việt Bắc.
Trong tác phẩm "Bác Hồ của chúng ta", tác giả Xuân Diệu đã viết về những kỉ
niệm của nhà thơ về những năm tháng bên Bác ở chiến khu Việt Bắc.
Trong bài "Mệnh lệnh gửi liên khu Việt Bắc chuyển các tỉnh trong liên khu" trong
cuốn "Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Lạng Sơn", Nxb Văn hóa thông tin 1995 tr 38:
Bác viết mệnh lệnh gửi liên khu Việt Bắc ngày 6 tháng 8 năm 1950 yêu cầu các tỉnh
chỉnh đốn phát triển chiến tranh du kích ở các xã.
v.v
Ngoài các sách, còn có nhiều báo và tạp chí có bài viết về Bác Hồ trong thời gian
ở Việt Bắc:
Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh chủ nhật, 7/10/2001 có bài: "Một đám cưới
ở ATK", tác giả Trường Phước kể lại kỉ niệm về đám cưới của ông Nguyễn Anh Tuấn,
hiệu phó, bí thư trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tại ATK Việt Bắc năm 1947. Ông cũng
là người từng được gặp và làm việc với Bác Hồ tại ATK Việt Bắc.
Báo Lâm Đồng, 1998, có bài "Gặp lại người hai lần đưa đường cho Bác Hồ ở
Việt Bắc "Nhớ ông cụ mắt sáng ngời", tác giả Phan Bùi Minh Đạt kể lại kỉ niệm sâu sắc

ngựa", đồng chí Vũ Kỳ kể lại việc Bác Hồ đặt tên cho những người trực tiếp giúp việc
mình như: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi, Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Tạp chí Xưa và Nay, 5/2004 có bài của Triệu Hồng Thắng, nguyên khu ủy viên
khu Việt Bắc kể chuyện những lần được gặp Bác Hồ.
Tạp chí Lịch sử quân sự, 12/ 2006 số 180 tr 34-38 có bài "Căn cứ địa ATK Việt
Bắc "Một sáng tạo trong kháng chiến chống thực dân Pháp", tác giả Nguyễn Xuân Minh
hệ thống lại quá trình xây dựng căn cứ địa Việt Bắc - ATK, trong kháng chiến chống thực
dân Pháp.
v.v
Chuyên đề khoa học: "Tình cảm của Bác Hồ đối với đồng bào các dân tộc miền
núi trong thời gian Người ở Việt Bắc (1941 - 1945 và 1946 - 1954)" của Nguyễn Đình
Lễ; Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam, Hội thảo
khoa học của ủy ban Dân tộc và miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 - 2006 tr270 -
274. Tóm tắt: Gần một nửa thời gian sau 30 năm bôn ba hải ngoại đến khi qua đời, Bác
Hồ đã sống gắn bó với Việt Bắc. Bác yêu và gắn bó với Việt Bắc
Chiến dịch Điện Biên Phủ, trận quyết chiến chiến lược đem đến thắng lợi to lớn
của nhân dân Việt Nam, chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Hơn 60 năm qua, Điện Biên Phủ thu hút không ít người trong cuộc chiến và những học
giả, nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh của Nga, Trung Quốc, Cu Ba, Lào, Anh, Đức, Mỹ
tốn không ít giấy mực để lý giải: Tại sao quân đội viễn chinh Pháp thất bại trên chiến
trường Điện Biên Phủ?
Jules Roy, đại tá không quân cựu chiến binh người Pháp lên tận di tích chiến
trường Điện Biên Phủ, khảo sát thực địa, gặp gỡ phỏng vấn các nhân chứng và các cựu
chiến binh Việt Nam, cựu chiến binh người Pháp, đã cho ra mắt cuốn "Điện Biên Phủ
dưới con mắt người Pháp", Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, dịch và phát hành
năm 2004, đề cập đến quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ từ chiến khu Việt Bắc
mà không đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Việt Bắc

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là vấn đề Hồ Chí Minh với đồng bào Việt
Bắc trong thời kỳ cách mạng 1941 - 1954, rút ra một số đánh giá, nhận xét chung về mối
quan hệ giữa Đảng, Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Việt Bắc trong thời kỳ từ 1941 -
1954.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian Việt
Bắc. Tìm hiểu về các mối quan hệ giữa Bác Hồ với đồng bào Việt Bắc trên nhiều lĩnh
vực trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -
1954)
- Phạm vi thời gian: giới hạn từ 1941 (khi Bác Hồ về nước) đến 1954 (khi Bác
Hồ rời Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội).
5. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
- Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, 3, 4, 6, Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử tập 2, 3,
4, 5, các Văn kiện của Đảng, hồi kí của những cán bộ hoạt động cách mạng bên Bác Hồ
- Những bài viết, bài phát biểu của Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và các đồng chí lão thành cách mạng trong những dịp về thăm và làm việc tại các địa
phương ở Việt Bắc.
- Lịch sử Đảng bộ các tỉnh, huyện trong chiến khu Việt Bắc và nhiều tài liệu
khác.
Những nguồn tư liệu trên được lưu trữ tại Thư viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thư
viện Quốc gia, Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên, Văn phòng Tỉnh ủy Tuyên Quang, Văn
phòng Tỉnh ủy Cao Bằng, Văn phòng Tỉnh ủy Bắc Kạn, Trung tâm Lưu trữ ủy ban nhân
dân tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm lưu trữ ủy ban nhân dân Tỉnh Tuyên Quang, Trung tâm
lưu trữ ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, Sở Văn hóa Thông tin Thái Nguyên, Phòng Lịch sử,
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên, Ban quản lý di tích Hồ Chí Minh tỉnh Cao Bằng.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, để đảm bảo tính chính xác và làm cho nội dung phong

Chương 1
Mảnh đất và con người Việt Bắc

1.1. Mảnh đất Việt Bắc
1.1.1. Lịch sử hình thành
Việt Bắc, cái tên từ lâu đã trở thành thân quen với đồng bào cả nước và cũng
không xa lạ với nhiều người trên thế giới. Qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ
nước, dải đất này của Tổ quốc đã trở thành vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và
chính trị, là nơi từng diễn ra những cuộc giao tranh quyết liệt của dân tộc ta chống quân
xâm lược phương Bắc. Đây từng là cái nôi của Cách mạng Tháng Tám và căn cứ địa của
Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Vào thời kỳ đầu kháng chiến chống
Pháp, Việt Bắc gồm 17 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang,
Hà Giang, Bắc Ninh, Bắc Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Sơn La, Lai
Châu, Quảng Yên, Hải Ninh, Lào Cai và Châu Mai Đà) và Đặc khu Hồng Gai. Phía Đông
giáp đường số 5; tây Nam trải dọc sông Hồng từ Gia Lâm - Trung Hà theo địa giới tỉnh
Sơn La tới giáp biên giới bắc Lào; phía bắc giáp Trung Quốc từ Móng Cái đến Lai Châu.
Diện tích rộng bằng năm phần sáu đất đai Bắc Bộ (gần 100.000 km
2

vôi với những cảnh quan Các-xtơ, biểu hiện rõ nhất là các huyện phía Bắc và Đông Bắc
tỉnh Cao Bằng và Hà Giang, ở độ cao từ 200 mét đến 300 mét so với mặt biển.
Núi chiếm khoảng hai phần ba diện tích tự nhiên, ở độ cao từ 500 đến 600 mét
đến 1.200 mét núi đá xen lẫn núi trùng điệp, hiểm trở. Đó là các sơn khối Bắc Sơn với
dãy Cai - Kinh; cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Sông Gâm với dãy Phja Daj (Pia-y-a)
Phja Bjóc (Pia-u-uắc) và ngọn Tam Tao
"Rừng vàng" cung cấp cho nhân dân nhiều nguồn lợi, từ vật liệu dựng nhà cửa
cho tới măng tươi, nấm hương, mộc nhĩ, củ mài, củ nâu, mật ong, dược liệu rừng còn
nhiều chim muông thú quý.
Địa hình Việt Bắc cao về phía Bắc nhưng lại thấp dần về phía Nam và Tây Nam.
Các huyện phía Nam của địa bàn Việt Bắc, thềm cổ được đồng bằng hóa trở thành vùng
bán sơn địa là cái gạch nối giữa núi và đồng bằng.
Việt Bắc là vùng núi nhưng cũng lắm sông suối, ao, hồ. Sông suối ở Việt Bắc có
ở khắp nơi.
Cao Bằng có sông Bằng Giang, sông Bác Vọng, sông Máng, có hồ Thanh Hen,
không những có nhiều cá tôm mà còn là những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng.
Mặc dầu sông ở Cao Bằng nhỏ hẹp chảy xiết và nhiều thác ghềnh, lưu lượng
nước thấp về mùa khô, song vẫn có thể đi lại bằng thuyền mảng để chuyên chở lâm thổ
sản. Theo sông Máng thuyền nhỏ có thể đi từ mỏ sắt (Sóc Giang) đến Tà Lùng, sát biên
giới Việt -Trung.
Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng, sông Rạng, sông Chung, sông Bắc Khê và sông Văn
Mịch từ Pát Xát (Quảng Ninh) qua thị xã Lạng Sơn sang Trung Quốc. Nhân dân ở vùng
biên giới hai nước thường dùng mảng để chuyên chở hàng hóa.
ở Hà Giang và Tuyên Quang, thuyền nhỏ đi từ Hà Giang theo sông Gâm về Tuyên
Quang, thuyền lớn trên sông Lô ra tới Việt Trì. Tàu nhỏ ngược dòng sông Lô lên tới
Tuyên Quang, thuyền lớn lên tới Bằng Mục Chiêm Hóa
ở Bắc Kạn và Thái Nguyên, ngoài sông Công (Thái Nguyên), có sông Cầu. Đó là

C - 8000
0
C, tùy độ cao; lượng mưa khá dồi dào, nơi thấp
nhất như Lạng Sơn cũng đạt 1.400 mm/năm, nhiều nơi đạt trên 2000 mm/năm Do vậy,
có thể nói rằng đất đai, khí hậu Việt Bắc đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về thực vật và
động vật; hình thành nhiều loại cây trồng, vật nuôi mang tính nhiệt đới và cả ôn đới.
Việt Bắc giàu đẹp lại án ngữ ở phía Bắc Việt Nam, tiếp giáp với đất nước Trung
Quốc bao la, trên một tuyến biên giới ngày nay dài 751 km đi qua 15 huyện 97 xã. Do
vậy ở thời đại nào, Việt Bắc cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng.
Việt Bắc núi rừng hiểm trở, nhiều nơi xung yếu, biên ải xa xôi, nhưng nhờ hệ
thống giao thông đường bộ như những nhành cây trở về thân gốc, nên dù phải trèo đèo,
lặn suối, Việt Bắc đều có thể liên lạc được tương đối nhanh, thuận lợi với trung tâm chính
trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, xưa là Thăng Long nay là thủ đô Hà Nội.
Nổi lên trong quan hệ giao lưu xuôi ngược và sự bang giao trong khu vực là các
tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên.
Hệ thống giao thông thủy bộ trong nội địa và ra nước ngoài của Cao Bằng làm
cho tỉnh Cao Bằng có vị trí quan trọng, có tầm chiến lược ở Việt Bắc không chỉ trên lĩnh
vực kinh tế, xã hội mà trên cả các mặt quân sự, chính trị.
Với Lạng Sơn, hệ thống giao thông mở bốn phương trời làm cho Lạng Sơn có vị
trí quan trọng chiến lược về quân sự và sầm uất cả về kinh tế; là nơi hội tụ, giao lưu, tiếp
xúc xuôi ngược trong ngoài.
Thái Nguyên là cửa ngõ của Việt Bắc, là đầu mối giao thông, nổi lên là chất hội
tụ xuôi ngược, chất tiếp xúc miền xuôi lên, miền ngược xuống. Hội tụ và tiếp xúc là chất
đặc thù về kinh tế và xã hội ở Thái Nguyên. Đồng thời về mặt quân sự, Thái Nguyên còn
là bức phên giậu bảo vệ Thăng Long.
Trong sự khai sinh về mặt địa lý, lãnh thổ và xã hội Việt Bắc có vị trí hết sức
quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử.

Nhiều sự kiện lịch sử quan trọng và chiến công oanh liệt đã gắn liền với các tên
người, tên đất của các địa phương Việt Bắc.
Thế kỷ thứ XV, đồng bào các dân tộc Việt Bắc lại cùng cả nước vùng lên lật đổ
ách thống trị nhà Minh. Vấp phải sự phản kháng quyết liệt ở Cao Bằng, tháng 8 năm
1407, đô đốc giặc là Cao Sĩ Văn khét tiếng dã man, tàn bạo cũng không áp đặt được
chính quyền đô hộ tại đây và đã bị giết trên núi Quảng Nguyên. Tháng 11 năm 1410,
nghĩa quân "áo đỏ"

(nghĩa quân ra trận thường hay mặc áo đỏ mà thành tên gọi) xuất hiện
ở Đại Từ (Thái Nguyên) đã liên tục tiến công giặc Minh buộc chúng phải điều quân từ
Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang đến ứng cứu. Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng,
linh hoạt và phát triển khắp vùng Việt Bắc lan rộng sang Tây Bắc và đến miền núi Thanh
Nghệ. Đây là phong trào đấu tranh rộng lớn và kéo dài của các dân tộc ít người, đã gây
cho địch nhiều tổn thất, khiến chúng không thể nào đặt vững được chính quyền đô hộ trên
vùng núi rừng bao la, hiểm trở của Việt Bắc.
Trong những năm 1812 - 1819, nhân dân Lạng Sơn có sự lãnh đạo của Hoàng
Thiên Hữu, Nguyễn Hách, Nông Văn Lịch đã chiến đấu liên tục giải phóng nhiều vùng. Khi
Lê Lợi dấy binh ở Lam Sơn thì Lưu Nhân Chú, Phạm Cuông (Thái Nguyên), Bế Khắc
Triệu (Cao Bằng) đã nổi lên hưởng ứng. Một số người sau này lập công lớn, trở thành danh
tướng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống quân Minh, tổng binh Liễu Thăng
chỉ huy 10 vạn quân theo đường Lạng Sơn tiến vào nước ta hòng cứu nguy cho đồng bọn
đang bị vây khốn ở Đông Quan (Hà Nội). Khi đến chân núi Mã Yên Liễu Thăng cùng
toàn bộ một vạn quân tiên phong của địch bị tiêu diệt. Trong trận này đội dân binh Chi
Lăng đã lập công xuất sắc.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã
cùng cả nước không cam chịu làm nô lệ, bền bỉ liên tiếp vùng dậy đấu tranh giải phóng

Pháp. Phong trào nghĩa binh lan rất nhanh. Lực lượng có hàng trăm người, liên tục chiến
đấu cho đến năm 1896. Cuộc binh biến này lắng đi thì cuộc khởi nghĩa khác lại bùng lên
ngày càng dữ dội hơn.
Ngày 11 tháng 10 năm 1914, những người tù ở nhà giam Bắc Kạn do Lý Bảo
Long lãnh đạo đã cảm hóa một số lính khố xanh, phá nhà tù, mở kho lấy vũ khí, rồi nổ súng
vào nhà giám binh, dinh công sứ làm chủ thị xã suốt từ sáng đến chiều. Sau đó rút quân
về Na Rì xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng.
Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 8 năm 1917, một cuộc binh biến của binh lính Thái
Nguyên đã nổ ra dưới sự chỉ huy của Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến. Những
người tù chính trị ở nhà giam thị xã phối với binh sĩ yêu nước được nhân dân địa phương
và công nhân các mỏ quanh thị xã ủng hộ và cùng hành động. Những người nổi dậy đã
phá nhà lao thả người tù, chiếm trại lính khố xanh, các công sở, tiến đánh Gia Sàng, chặn
viện từ Hà Nội lên, từ Yên Bái xuống, làm thương vong hơn 100 tên giặc. Nghĩa quân làm
chủ thị xã 6 ngày rồi rút về núi Tam Đảo xây dựng căn cứ.
Dưới ách thống trị của giặc Pháp gần một thế kỷ, nhân dân các dân tộc Việt Bắc
liên tiếp dấy lên tranh đấu, khi lẻ tẻ từng vùng, lúc đồng loạt khắp nơi, khi nông dân vùng
lên, lúc binh sĩ người Việt làm binh biến. Tuy chỉ mới có tinh thần yêu nước, chưa có
đường lối cách mạng chỉ đường, nhưng nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã thể hiện sức
mạnh to lớn và truyền thống đấu tranh bất khuất của mình.
Chính truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của nhân dân các dân tộc
Việt Bắc đã trở thành một trong những cơ sở chủ yếu thuận lợi cho sự tiếp thu chủ nghĩa
Mác Lênin và đường lối cách mạng của Đảng.
Những cuộc đấu tranh tự phát chống thực dân Pháp liên tiếp nổ ra khắp các tỉnh
trước đây, đến khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam dần dần chuyển sang tự
giác ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Năm 1927, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã bí mật tổ chức nhóm thanh niên cách
mạng ở Cao Bằng và Lạng Sơn để tuyển chọn thanh niên đưa ra nước ngoài học tập và


chống bọn hào lý bóc lột thành lập các tổ chức quần chúng cách mạng và các đội tự vệ
chiến đấu.
Mùa thu năm 1940, một bộ phận quân Pháp bị Nhật đánh theo hướng Bình Gia -
Bắc Sơn về Thái Nguyên, dọc đường vứt bỏ súng đạn, quân dụng, cải trang làm thường
dân, vào làng xin ăn. Nhân dân Bắc Sơn dưới sự lãnh đạo của chi bộ địa phương đã kịp
xông ra tước vũ khí của tàn quân Pháp. Ngày 25/9/1940, một số cán bộ, đảng viên thoát
khỏi nhà tù Lạng Sơn, đã cùng chi bộ Bắc Sơn phát động quần chúng nổi dậy, lập ủy ban
khởi nghĩa, vận động các tổng đoàn, xã đoàn và binh lính người Việt trong quân đội Pháp
(vừa chạy về địa phương), theo cách mạng chống giặc cứu nước.
Ngày 27 tháng 9 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, ủy ban khởi nghĩa
huy động lực lượng tự vệ phục kích toán lính Pháp qua đèo Canh Tiến, rồi truy kích
chúng về đèo Dập Dị. 20 giờ, đội tự vệ cùng với trên 600 người thuộc các xã Tam Hoa,
Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Bắc Sơn, Ngũ Viễn vũ trang bằng gậy tre, giáo mác, súng kíp, súng
trường kéo về châu lỵ Bắc Sơn quân khởi nghĩa chia làm ba cánh cùng tiến đánh đồn
Mỏ Nhai. Tên tri châu Bắc Sơn ra lệnh cho lính nổ súng chống cự. Nhưng với khí thế tiến
công, quân khởi nghĩa xốc tới, vừa bắn vừa kêu gọi binh lính trong đồn đầu hàng. Tên tri
châu và cả trung đội lính đầy đủ súng hoảng sợ bỏ chạy. Bọn quan lại của nhiều địa
phương đang tụ tập ở đây cũng tán loạn chạy theo. Trong đó có tri châu Điềm He, Thất
Khê và tri phủ Tràng Định. Tên tri châu Thoát Lãng bị trừng trị tri châu Na Sầm bị dân
bắt. Quân khởi nghĩa chiếm đồn Mỏ Nhài, thu súng đạn. Nhân dân và tự vệ tiếp tục triệt
phá đồn Điềm He, Bình Gia.
Tin chiến thắng truyền tới đâu, hàng ngàn đồng bào nơi đó reo hò, đốt đuốc, cầm
dao, kiếm kéo về châu lỵ hỗ trợ tự vệ san bằng đồn bốt. Mờ sáng ngày 28/9 nhân dân các
xã lân cận và đồng bào châu lỵ cùng nghĩa quân mít tinh mừng thắng lợi. Sau đó đoàn
người tỏa ra khắp các ngả đường tiếp tục chặn đánh tàn quân Pháp, tước súng đạn của
chúng và trấn áp bọn cường hào phản động, phá rã chính quyền địch.
Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đang lan rộng thì giặc Nhật thỏa hiệp với thực dân
Pháp để cho Pháp rảnh tay đàn áp cách mạng Việt Nam. Quân Pháp đã tập trung lực công đồn Mỏ Nhài (Châu lỵ Bắc Sơn) lần thứ hai.
Ngày 28 tháng 10, Đảng bộ Bắc Sơn tổ chức cuộc tuần hành thị uy lớn, có hàng
ngàn người của chín xã, giương cao cờ đỏ, vũ khí thô sơ, và hỗ trợ lực lượng vũ trang
giải phóng châu lỵ. Lợi dụng sơ hở của lực lượng cách mạng, bọn phản động đã dẫn quân
Pháp từ đồng Mỏ Nhai theo đường tắt "đánh úp" cuộc mít tinh. Các chiến sĩ du kích kịp
nổ súng chiến đấu bảo vệ nhân dân chạy thoát rồi phân tán về căn cứ.
Giặc Pháp củng cố xong các vị trí ở Bắc Sơn điên cuồng tiến hành khủng bố
nhân dân. Chúng tập trung quân đi đốt phá, bắt hàng trăm người đem về thị xã bắn giết
cắm cọc bêu đầu ở Bắc Sơn. Chúng dồn làng tập trung quân để kiểm soát phong trào
Bắc Sơn lại gặp khó khăn đội du kích chuyển sang hoạt động phân tán, bám dân, tổ chức
chống khủng bố.
Tháng 11/1940 Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 họp tại làng Đình Bảng
(Bắc Ninh) đã chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng chuẩn bị điều
kiện tiến tới khởi nghĩa. Hội nghị quyết định duy trì và bồi dưỡng lực lượng du kích Bắc
Sơn làm vốn quân sự đầu tiên cho khởi nghĩa vũ trang rộng lớn sau này và quyết định
chuyển hướng hoạt động của đội du kích Bắc Sơn từ quân sự sang chính trị, bí mật gây
cơ sở quần chúng thành lập căn cứ du kích lấy vùng Bắc Sơn -Võ Nhai làm trung tâm.
Một bộ phận du kích rút về Đình Cả, Tràng Xá (Thái Nguyên) hoạt động mở rộng căn cứ
địa.
Tiếng súng Bắc Sơn đã cổ vũ tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước và cùng
với khởi nghĩa Nam Kỳ đã báo hiệu thời kỳ mới của cách mạng, thời kỳ khởi nghĩa giành
chính quyền.
Từ khởi nghĩa Bắc Sơn ra đời đội du kích Bắc Sơn là lực lượng vũ trang do
Đảng ta tổ chức và lãnh đạo, sau này phát triển thành ba trung đội Việt Nam cứu quốc
quân. Đội du kích Bắc Sơn cũng là lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Việt Bắc.
Đồng bào các dân tộc Việt Bắc từ xa xưa đã có truyền thống yêu nước, sẵn sàng
vùng lên đánh giặc khi bản làng, đất nước bị xâm lăng. Tinh thần đoàn kết, yêu nước của


Pháp thắng lợi. Có Bác Hồ chỉ bảo, cuộc sống của đồng bào Việt Bắc được thay đổi, no
ấm, hạnh phúc. Đồng bào ơn Đảng, ơn Bác muôn đời.
1.2.2. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội
ở Việt Bắc có 19 dân tộc anh em, sống xen kẽ nhau. Người Kinh chiếm 65% dân
số, rồi đến dân tộc Tày, Nùng, H’Mông, Dao Các dân tộc cư trú thành từng vùng.
Người Tày, Nùng sống tập trung ở các tỉnh biên giới và một phần ở Bắc Thái. Nhiều gia
đình người Nùng có quan hệ huyết thống, thân tộc với người Trung Quốc ở sát biên giới.
Các dân tộc H’Mông, Dao phần lớn sống trên núi cao hoặc lưng chừng núi. Người
Kinh sống đông đúc ở trung du và đồng bằng, nhất là các khu công nghiệp, thị trấn, thị
xã, thành phố.
Các dân tộc sống gần gũi nhau, thông hiểu phong tục tập quán và hoàn cảnh sinh
hoạt của nhau. Từ thực tế cuộc sống hàng ngàn năm phải dựa vào nhau nên các dân tộc
sớm có truyền thống đoàn kết trong lao động sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên với
xã hội bất công, chống phỉ, chống ngoại xâm để bảo vệ cuộc sống hạnh phúc chung.
Các dân tộc miền núi tính tình chất phác, thủy chung tin yêu, thẳng thắn, căm
ghét sự lừa dối, rất ưu thích không khí vui vẻ hồn nhiên, hoạt động tập thể, nhất là giới
nữ.
1.2.2.1. Kinh tế
Trước Cách mạng Tháng Tám, các dân tộc còn ở những trình độ phát triển khác
nhau, trong đó có thể chia làm hai hình thái kinh tế.
- Kinh tế khai thác thể hiện ở các hình thức như săn bắt hái lượm, con người sống
chủ yếu dựa vào những nguồn thức ăn sẵn có của tự nhiên.
- Kinh tế sản xuất:
Sản xuất nương rẫy; phương thức canh tác là "ngày cây ăn ngọn", nghĩa là phát
rừng, phòng lửa đốt dọn sạch, lợi dụng màu đất và phần tro cây cỏ để gieo trồng, công cụ
tiêu biểu cho phương thức trồng trọt này là con dao phát và chiếc gậy nhọn để chọc lỗ bỏ
hạt. ở một số nơi cách làm nương của đồng bào Mông trên núi có tiến bộ, đồng bào biết

Trích đoạn Tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc Về quan điểm quần chúng Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Tư tưởng về phương pháp cách mạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status