1
Hồ Chí Minh với cuộc vận động nông dân
từ năm 1930 đến năm 1954
Nguyễn Thị Kim Dung
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Lịch sử
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học; Mã số: 60 31 27
Người hướng dẫn: PGS.TS.Vũ Quang Hiển
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Tìm hiểu vị trí, vai trò của nông dân Việt Nam thời thuộc địa. Nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và cuộc vân động nông dân từ năm 1930 đến năm
1954. Đánh giá hiệu quả cuộc vân động nông dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm
1930 đến năm 1954. Đưa ra phương hướng và biện pháp vận dộng nông dân trong bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Keywords. Tư tưởng Hồ Chí Minh; Vận động nông dân; Giai đoạn 1930-1954
Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, đại bộ phận dân cư là nông dân. Có thể nói,
lịch sử phát triển của đất nước là lịch sử của phát triển văn minh nông nghiệp, trong đó
nông dân là chủ thể làm nên những trang lịch sử hào hùng suốt hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc.
Dưới chế độ phong kiến, nông dân là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược, lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc
địa là nông dân và công nhân, nhưng đông đảo nhất vẫn là nông dân. Đế quốc và
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và vận động nông dân đã có
nhiều công trình nghiên cứu như:
*Về vấn đề nông dân, có một số công trình đáng chú ý sau:
- Nguyễn Văn Hiệp (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân và sự
vận dụng của Đảng trong sự nghiệp đổi mới (1981-1991), Luận văn thạc sĩ khoa học
lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đoàn Thế Hanh (1996), Một số vấn đề nông dân qua báo chí tiếng Việt trong
những năm 1936-1939 : Luận án PTS KH lịch sử.
- Vũ Ngọc Kỳ (2005), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, hội
nông dân ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp.
- Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (1990.) Nxb Khoa học xã hội.
3
- Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông
dân, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.
- Hội Nông dân Việt Nam(2000), Bác Hồ với nông dân, nông dân với bác Hồ.
Nxb Chính trị Quốc gia.
- Hội Nông dân Việt Nam (2008), Hồ Chí Minh với giai cấp nông dân, NXB
Lao động - Xã hội
*Về vận động nông dân, có một số công trình đáng chú ý sau:
- Mai Phương Thảo, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông vận với công tác vận động
nông dân ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học. ĐH KHXHNV, HN.
- Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, HN.
- Ban dân vận Trung ương (2005), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công
tác dân vận trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, HN
- Lê Kim Việt, Công tác vân động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước : LA TS KH Lịch sử.
- Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay (2000), Nxb
Chính trị Quốc gia.
- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và cuộc vận động nông dân từ
năm 1930 đến năm 1954.
- Đánh giá hiệu quả cuộc vận động nông dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh từ
năm 1930 đến năm 1954.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân và vận động nông
dân trong cách mạng và kháng chiến (1930 - 1954).
- Hiệu quả cuộc vận động nông dân trong các thời kỳ 1930 - 1945 và 1945 -
1954.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: từ 1930 đến năm 1954 là thời kỳ cả nước thực hiện
một chiến lược cách mạng chống đế quốc và tay sai, giành và giữ độc lập dân tộc.
- Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu cuộc vận động nông dân phục vụ sự nghiệp giải
phóng dân tộc 1930 - 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954.
5. Cơ sở và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Tác giả dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng
sản Việt Nam về nông dân và vận động nông dân để nghiên cứ nội dung của đề tài.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh, trong đó đáng chú ý là quan điểm
thực tiễn và sự thống nhất lý luận với thực tiễn.
- Sử dụng các phương pháp: lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, đối
chiếu…. để giải quyết các nội dung liên quan đến đề tài.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn trình bày khách quan, khoa học nhận thức của Hồ Chí Minh về nông
dân, đặc biệt là nông dân Việt Nam dưới thời thuộc địa.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động nông dân, biện pháp vận động nông dân
hiện như sau:
- Nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc
- Giai cấp nông dân Việt Nam có ý thức cộng đồng sâu sắc và tinh thần yêu
nước nồng nàn, là đội quân chủ lực của cách mạng
- Giai cấp nông dân Việt Nam gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân, là
đồng minh của giai cấp công nhân.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vận động nông dân trong cách mạng
giải phóng dân tộc
Để huy động được đông đảo nông dân tham gia vào cách mạng giải phóng dân
tộc cần phải tuyên truyền vận động nông dân, làm cho họ hiểu được mục tiêu của cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa họ vào một tổ chức để giác ngộ, khơi gợi tinh thần
yêu nước từ phía họ.
Hồ Chí Minh cho rằng “vận động nông dân, là phải vận thế nào cho toàn thể
nông dân động nghĩa là làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình,
làm cho nông dân vào Hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của
mình và tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc”
1.3. Vận động nông dân tham gia cách mạng giải phóng dân tộc (1930 -1945)
1.3.1.Vận động nông dân tham gia phong trào cách mạng 1930 – 1931
Nét nổi bật của Việt Nam đầu những năm 1930 là ảnh hưởng nặng nề của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới tới đời sống kinh tế xã hội. Đời sống của người nông dân
vô cùng cực và khốn đốn. Đó là những nguyên nhân trực tiếp là bùng nổ phong trào
cách mạng 1930 - 1931.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chí Minh, phong trào đấu tranh của công
nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động bùng lên mạnh mẽ. Cao trào cách
mạng diễn ra trên 25 tỉnh thành khắp cả nước và đạt tới đỉnh điểm trên đất Nghệ Tĩnh.
7
Phong trào đấu tranh của quần chúng công nông, đặc biệt là việc thành lập các
Xô Viết tại Nghệ An - Hà Tĩnh được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm theo dõi. Tuy ở
xa Tổ quốc, nhưng Người tìm mọi cách liên lạc với Ban Lãnh đạo của Đảng ở trong
8
Quốc), xác định yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân Đông Dương là tự do, dân chủ,
cải thiện đời sống. Đảng phải nắm lấy những yêu cầu đó để phát động quần chúng đấu
tranh, tạo tiền đề đưa cách mạng tiến lên bước cao hơn sau này.
Phong trào Đại hội Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng hoàn toàn phù hợp
với nguyện vọng tự do dân chủ của nông dân và được nông dân hưởng ứng sôi nổi. Ở
nông thôn, các hình thức tổ chức của nông dân rất đa dạng: hội cấy, hội gặt, hội hiếu
hỉ, hội góp họ, phường đi săn, hội chèo, nhóm học chữ quốc ngữ… Những hình thức
này đã thu hút đông đảo nông dân lao động đoàn kết trong một tổ chức, cùng đấu tranh
giành quyền lợi của giai cấp mình.
Như vậy, phong trào đấu tranh của nông dân trong những năm đầu vận động
dân chủ đã tạo nên sức mạnh đánh thẳng vào quyền lợi kinh tế của kẻ thù buộc chúng
phải lùi bước, làm cho nông dân và nhân dân lao động gắn bó, tin tưởng vào Đảng và
chủ tịch Hồ Chí Minh.
1.3.3.Vận động nông dân tham gia cao trào cách mạng 1939 - 1945
Bước vào cuộc vận động tiến tới giành chính quyền đầy khó khăn, thử thách, vai
trò quan trọng và sự hy sinh to lớn của giai cấp nông dân ngày càng thêm nổi bật.
Hội nghị tháng 11-1939 và hội nghị lần thứ VII Ban Chấp Hành Trung ương
Đảng 6-11-1940 đánh dấu sự thay đổi chiến lược và phương pháp cách mạng, mở đầu
cho thời kỳ vận động cách mạng mới.
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước sau 30 năm hoạt động ở nước
ngoài. Người đã triệu tập hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương họp tại Pắc Pó, Cao Bằng (5-1941) xác định “cần phải thay đổi chiến
lược”, tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Thực hiện chủ trương của Đảng, nông dân các huyện trong cả nước đã tiến hành
phá kho thóc chia cho dân bị đói. “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” là khẩu hiệu đấu
tranh kinh tế và đấu tranh chính trị, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân
dân đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân.
Qua đó, chứng tỏ Đảng và Hồ Chí Minh không những nắm vững nghệ thuật chỉ
của lịch sử dân tộc Việt Nam. Giai cấp nông dân từ kiếp nô lệ bước lên địa vị người
làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Tuy nhiên, cũng như nhân dân cả
nước, giai cấp nông dân Việt Nam sau ngày đất nước độc lập, đứng trước những khó
khăn rất lớn.
Chính sách cai trị của thực dân Pháp đã để lại hậu quả nặng nề, sản xuất nông
nghiệp lạc hậu, đất bị bỏ hoang, nạn đói hoành hành. Nền tài chính kháng kiệt…Về
mặt xã hội, các di hại của nền văn hóa nô dịch rất nặng nề, hơn 90% dân số, mà đại đa
10
số là nông dân mù chữ, tạo nên một mặt bằng dân trí thấp để cho những tệ nạn xã hội
có điều kiện thâm nhập vào đời sống nhân dân. Nạn cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, mê
tín dị đoan…có ở nhiều nơi từ nông thôn đến thành phố.
Cùng với những khó khăn chồng chất về kinh tế, xã hội và đời sống, nông dân
Việt Nam còn đứng trước những khó khăn to lớn về chính trị, quân sự, đó là nguy cơ
bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bên ngoài nô dịch.
2.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vận động nông dân trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945 - 1954)
Hồ Chí Minh cho rằng nhiệm vụ trước mắt là “Loài người ai cũng dĩ thực vi
tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn), nước ta thì “dĩ nông vi bản” (Nghề nông làm gốc)”.
Dân muốn no thì phải giồng giọt nhiều. Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông
nghiệp” [33, tr. 114].
Với quan điểm đó nên ngay từ khi mới giành được chính quyền, Đảng, Chính
phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khắc
phục những khó khăn, cải thiện đời sống của người lao động. Bởi để phát huy sức
mạnh của nông dân trong cuộc chiến đấu mới trước tiên phải làm cho nông dân có
cuộc sống ấm no.
Vai trò của nông dân và nông nghiệp còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định một lần nữa trong bức thư gửi điền chủ nông gia đề ngày 11-4-1946: “Việt Nam
là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong
công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào
dân hăng say lao động, sản xuất. Những cố gắng đó làm cho: sản xuất nông nghiệp trở
thành phong trào thi đua sôi nổi, sản lượng lương thực tăng rõ rệt. Những kết quả trên
không chỉ có giá trị thiết thực về mặt kinh tế, xã hội mà còn có ý nghĩa chính trị hết
sức to lớn. Đó chính là tính ưu việt của nền sản xuất nông nghiệp trong chế độ mới,
khả năng sản xuất to lớn của người nông dân khi họ thực sự làm chủ vận mệnh của
mình.
Cùng với việc ra sức tăng gia sản xuất, cứu đói, giai cấp nông dân tích cực
tham gia cuộc “vận động xây dựng đời sống mới” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát
động. Cuộc vận động này nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, lòng yêu lao động, yêu
chính nghĩa, căm ghét bóc lột, xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư”. Cuộc vận động đã làm thay đổi diện mạo của những vùng nông thôn lạc hậu trước
kia thành những làng bản có nhiều sinh hoạt cộng đồng lành mạnh.
Song song với phong trào “Đời sống mới”, nông dân các địa phương trong cả
nước nô nức tham gia phong trào chống nạn mù chữ, diệt trừ “giặc dốt” mà người
12
nông dân là nạn nhân số một. Ngày 8-9-1945, Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh về việc
học chữ quốc ngữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Muốn giữ vững độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,
Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình,
phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, trước hết
phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” [33, tr. 36].
Kết quả của phong trào xóa nạn mù chữ đã góp phần thiết thực tạo điều kiện để
người nông dân mở mang kiến thức, tham gia quản lý nhà nước, xây dựng đời sống
mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hệ thống chính quyền
nhân dân các cấp được hình thành, mang đến những quyền lợi cơ bản về vật chất và
tinh thần, biến khát vọng từ ngàn đời của người nông dân thành hiện thực, tạo điều kiện
để người nông dân phát huy nội lực của mình trong kháng chiến và kiến quốc.
Đáp ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nông dân cả nước đã bước vào
cuộc kháng chiến với lòng tự tin ở thắng lợi cuối cùng. Thể hiện quyết tâm kháng
chiến nông dân cả nước vừa tích cực thi đua lao động sản xuất, vừa trực tiếp bảo vệ
quê hương, góp phần tạo nên những thắng lợi của quân và dân ta trên phạm vi toàn
quốc.
Thực hiện Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, nông dân các vùng có chiến sự
thực hiện “vườn không nhà trống”, “phá hoại để kháng chiến” và “tản cư” để duy trì
lực lượng.
Hàng triệu đồng bào trong đó đa số là nông dân đi theo tiếng gọi của Đảng, của
Bác Hồ, tự nguyện hy sinh tài sản, nhà cửa để bước vào kháng chiến với quyết tâm
“không hợp tác với địch”. Có người tự đốt nhà mình để ra vùng tự do tham gia kháng
chiến.
Cùng với việc tích cực lao động sản xuất đóng góp ngày càng nhiều cho kháng
chiến, giai cấp nông dân còn chủ động bảo vệ sản xuất, bảo vệ xóm làng.
CHƢƠNG 3
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.1. Vai trò của Hồ Chí Minh đối với cuộc vận động nông dân trong cách mạng
Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954
-Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống Pháp đã
chứng tỏ nhận thức của Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân là hoàn toàn đúng đắn.
14
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đã cho thấy sự sáng tạo
của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc, dân
chủ, giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp cho thấy Hồ Chí Minh đã có chủ
trương, biện pháp và hình thức vận động nông dân đúng đắn, phù hợp với tình hình
mới
nông nghiệp, nông thôn.
- Thay đổi nhận thức của nông dân về việc làm và thu nhập; nâng cao trình
độ dân trí cho nông dân
- Có chính sách động viên mọi tiềm năng của nông dân để phát triển nông
nghiệp nông thôn.
- Ban hành và thực hiện một số chính sách bối dưỡng nông dân.
- Ban hành và thực hiện một số chính sách bối dưỡng nông dân.
KẾT LUẬN
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định vững chắc vai trò
của giai cấp nông dân cùng với giai cấp công nhân là chủ lực trong cách mạng giải
phóng dân tộc Việt Nam.
Nhờ có đường lối đúng đắn, sáng tạo mà Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã
huy động được lực lượng hùng hậu của nông dân, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa
đấu tranh vũ trang để bảo vệ nền độc lập, vừa bồi dưỡng sức dân, tìm các bước đi và
cách làm thích hợp để thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
Việt Nam.
Từ rất sớm, Người nông dân Việt Nam đã nhận thức rõ độc lập dân tộc là vô
cùng thiêng liêng và quý giá, kế đó là lợi ích của mình, trước hết là ruộng đất, nguồn
sống chính của họ. Sống dưới ách thống trị của chế độ thực dân, một chế độ thống trị
kết chặt chẽ và hà khắc hai hình thức bóc lột, áp bức của tư bản chủ nghĩa và phong
kiến trung cổ, thì hai nguyện vọng độc lập dân tộc và người cày có ruộng thêm nồng
cháy. Trong hơn nửa thế kỷ, từ nửa sau thế kỷ XIX đến hai thập niên đầu thế kỷ XX,
các nhà tiền bối tuy nêu cao khẩu hiệu cứu nước, chống chủ nghĩa thực dân nhưng
chưa đề cập đến nhiệm vụ giải phóng nông dân, một lực lượng đông đảo nhất của dân
tộc. Trong lúc đó, để chiến thắng kẻ thù hùng mạnh và nham hiểm là chủ nghĩa đế
quốc không chỉ dựa vào nguồn lực vốn có của giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân
dân khác, mà phải thực hiện các chủ trương bồi dưỡng sức dân, để nhân lên gấp bội
sức mạnh của nhân dân.
1. Bác Hồ với nông dân Hà Nội (1990), Hội Nông dân Sở Văn hoá và thông tin Hà
Nội.
2. Ban công tác nông thôn Trung ương, Nông dân Việt Nam trước và sau cách mạng
tháng, Nxb Nông thôn.
17
3. Ban Chấp hành hội Nông dân Hải Dương (2000), Lịch sử phong trong trào nông
dân và Hội nông dân Hải Dương (1930-1996), Nxb Chính trị quốc gia HN.
4. Ban chấp hành Hội Nông dân Hà Nội (1993), Lịch sử phong trong trào nông dân và
Hội nông dân Hà Nội(1930-1992), Nxb Chính trị quốc gia HN.
5. Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị quốc gia HN.
6. Báo cáo của Việt Minh về hoạt động của Chính phủ từ ngày Độc lập (2-9-1945), 7-
1949. Trung tâm lưu trữ QG I, phông Bộ Nội vụ, hồ sơ 636 H 065
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội.
9.Trường Chinh - Võ Nguyên Giáp (1959), Vấn đề dân cày, Nxb Sự thật Hà Nội.
10. Chiến thắng Điện Biên Phủ sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại (1994), Nxb
Quân Đội nhân dân.
11. Lê Duẩn (1965), Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam
Nxb Sự thật HN,
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị
quốc gia HN (Đĩa CD ROM).
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị
quốc gia HN (Đĩa CD ROM).
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 4 Nxb Chính trị
quốc gia HN (Đĩa CD ROM).
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị
sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
29. Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975 (1997), Nxb Quân đội
nhân dân HN.
30. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, (Đĩa CD
Rom).
31. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
32. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom)
19
33. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
34. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
35. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
36. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
37. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
38. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
39. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
40. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
41. Hồ Chí Minh Toàn tập (2009), tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, Đĩa CD
Rom).
42. Hồ Chí Minh (2003), Về tài nguyên đất đai và phát triển nông nghiệp nông thôn,
57. Nghị quyết quân sự của Đảng 1930 -1960, (1959), NXb Quân đội nhân dân HN.
58. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) (2002), Tiến trình lịch sử Việt Nam, (tái bản lần
3), Nxb Giáo dục.
59.Vũ Oanh, Đổi mới công tác dân vận của Đảng, chính quyền Mặt trận và các đoàn
thể.
60. Tìm hiểu vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam (2005),
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
61. Mai Phương Thảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông vận với công tác vận
động nông dân ở nước ta hiện nay, Luận văn ThS Triết học.
62. Minh Tranh (1953), Lực lượng vĩ đại của nông dân (In lần thứ 2), Nxb Sự thật.
63. Minh Tranh (1961), Một số ý kiến về nông dân Việt Nam, Nxb sự thật.
64. Phạm Hồng Tung (2008), Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở
Việt Nam (1936-1939),Nxb chính trị Quốc gia.
65. Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954 (1996), Nxb Quân
đội Nhân dân.
66. Thành tích của nông dân trong mười năm xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa (1955), Ban Liên lạc nông dân toàn quốc xuất bản.
21
67. GS. Song Thành (chủ biên) (2010), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia,
HN.
68. Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1950) (1986), Nxb Sự
thật, HN, tập 1.
69. Vấn đề nông dân (1955), (Trích dịch tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin, Stalin,
Mao Trạch Đông), Nxb Sự thật.
70. Lê Kim Việt (2002), Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh.
71. Lê Văn Yên (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại hội Đảng, Nxb Chính trị
quốc gia, HN.