LUẬN VĂN:
Văn hoá doanh nghiệp và vai trò
Công đoàn trong việc xây dựng Văn
hoá doanh nghiệp Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước mà đại hội IX của Đảng cộng sản
Việt Nam đã đề ra là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, vì
mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đưa nước ta
thành một nước văn minh hiện đại.
Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã đề ra nhiều nghị quyết nhằm phát huy nhiều
nguồn lực để tăng trưởng kinh tế. Trong đó có Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
Ba, về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp Nhà nước. Nghị
quyết khẳng định: “Doanh nghiệp nhà nước đã chi phối được các nghành, lĩnh vực then
của Thủ đô xã hội chủ nghĩa” và quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá Thủ đô”. Thực hiện Nghị quyết trên một số doanh nghiệp nhà nước ở
Hà Nội đã làm ăn có lãi, đứng vững trong cơ chế thị trường, đã tạo cho mình một diện
mạo mới, cung cách làm ăn mới. ở những doanh nghiệp đó tổ chức Công đoàn phát huy
được tinh thần sáng tạo và đóng góp của mọi thành viên trong doanh nghiệp, khẳng định
vai trò của mình trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiêp.
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đến lợi nhuận, coi lợi
nhuận như là một “tiêu chuẩn duy nhất” để tồn tại doanh nghiệp, không quan tâm đến
việc xây dựng “Văn hoá doanh nghiêp”. Từ đó dẫn đến lương tâm, phẩm giá của người
lao động bị giảm sút, nạn ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội, các bệnh hiểm nghèo
cũng phát triển theo. Một số doanh nghiệp khác cũng không quan tâm xây dựng VHDN
nên làm ăn kém hiệu quả, chất lượng sản phẩm không đảm bảo, trình độ quản lý, kinh
doanh kém, cạnh tranh không lành mạnh, không trả lương, trả thưởng cho người công
nhân đúng thời hạn, không đảm bảo vệ sinh an toàn lao động, làm cho người lao động
không hứng thú làm việc, không không gắn bó với doanh nghiệp. Tất cả những điều ấy
cho thấy, các doanh nghiệp thiếu hẳn vai trò của văn hoá trong sản xuất kinh doanh.
Hay nói một cách khác là các doanh nghiệp chưa thực sự hình thành cho mình một
VHDN.
Do vậy, vấn đề đặt ra cho Đề tài này là phải khảo sát thực tiễn, rút ra bài học kinh
nghiệm, về xây dựng mô hình VHDN gắn với vai trò của tổ chức Công đoàn trong các
doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội, nhằm phát huy được vai trò của DNNN
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Về mặt lý luận và thực tiễn việc nghiên cứu VHDN ở nước ta chưa được chú ý.
Hiện nay, mới có một số nhà nghiên cứu chỉ đề cập đến VHDN trên bình diện văn hoá
trong kinh doanh, hoặc khai thác một vài khía cạnh của VHDN như: Tinh thần doanh
nghiệp, Đạo đức kinh doanh, Triết lý kinh doanh, chưa có đề tài nào nghiên cứu VHDN
trên bình diện chung. Đặc biệt chưa có đề tài nào nghiên cứu xây dựng VHDN trong các
doanh nghiệp nhà nước gắn với vai trò của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp nhà
kinh tế. Chúng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của văn hoá trong phát triển kinh
tế. Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát phát triển kinh tế - xã hội. Mãi đến
năm 1995, tại Hà Nội, Trung tâm Khoa học xã hội - Nhân văn Quốc gia cùng với Uỷ
ban Quốc gia Unesco của Việt Nam mới phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo "Văn hoá và
kinh doanh”. Trong Hội thảo này các Đại biểu quốc tế và Việt Nam đều nhất trí và
khẳng định rằng, giữa văn hoá và kinh tế có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau,
đồng thời chỉ ra rằng, trong kinh doanh yếu tố văn hoá đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Đến năm 2001, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương phối hợp với Bộ Văn hoá -
Thông tin và viện Quản trị Doanh nghiệp, xuất bản cuốn sách Văn hoá và kinh doanh.
Trong cuốn sách này các tác giả không đề cập đến “Văn hoá doanh nghiệp” mà chỉ nói
đến văn hoá trong kinh doanh, quan hệ giữa văn hoá với kinh doanh. Đây chỉ là những ý
kiến gợi mở để chúng ta có thể tham khảo, đồng thời bước đầu làm cơ sở cho việc xây
dựng lý luận về hình thành VHDN.
Ngoài ra, còn có một số công trình đã được nghiên cứu về VHDN và được công bố
như: Văn hoá và triết lý kinh doanh của tiến sĩ Đỗ Minh Cương (Xuất bản năm 2000).
Trong tác phẩm này, tiến sĩ Đỗ Minh Cương đã đưa ra định nghĩa về VHDN và cấu trúc
của nó. Nhưng tiến sĩ Đỗ Minh Cương lại không đi sâu hướng nghiên cứu này, mà chỉ
chọn vấn đề triết lý kinh doanh để nghiên cứu.
Năm 2003, tác giả Trần Quốc Dân đã cho ra đời cuốn sách” Tinh thần doanh
nghiệp giá trị định hướng của kinh doanh Việt Nam”.
Tác giả xác định: Tinh thần doanh nghiệp chính là giá trị định hướng của văn hoá
kinh doanh Việt Nam. Như vậy tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu một yếu tố trong văn
hoá doanh nghiệp đó là “Tinh thần”. Ngoài ra có nhiều bài viết liên quan đến VHDN, được
đăng rãi rác trên các tạp chí khoa học. Nỗi bật hơn cả là bài: Bàn về Văn hoá và Văn hóa
kinh doanh của GS -TS Hoàng Vinh, đăng trong “ Thông tin Văn hoá và phát triển” của
Khoa Văn hoá XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2004. GS -TS Hoàng Vinh đã đưa ra một quan niệm, muốn xây dựng thuật ngữ “Văn hoá kinh
doanh”.
nghiệp phát triển một cách toàn diện và bền vững.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt dược mục đích trên, luận văn cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Làm rõ khái niệm VHDN trên cơ sở phân biệt các khái niệm liên quan như Văn
hoá, Văn hoá kinh tế, VHKD. Luận văn sẽ đưa ra một cách chia cấu trúc VHDN hợp lý,
để nắm bắt được thực chất “Văn hoá doanh nghiệp”và mô tả đầy đủ các yếu tố của nó.
Đồng thời chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của VHDN trong sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng VHDN của một số doanh nghiệp nhà nước ở thủ đô
Hà Nội. Đưa ra một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
VHDN ở Thủ đô Hà Nội gắn với vai trò của tổ chức Công đoàn cơ sở trong doanh
nghiệp
4. Phạm vi nghiên cứu luận văn
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là một số doanh nghiệp nhà nước tiêu biểu trên
địa bàn thủ đô Hà nội, trong đó có cả doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa
phương.
5.Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu luận văn
5.1. Cơ sở lí luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về doanh
nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong tình hình mới.
Ngoài ra Luận văn còn tham khảo một số quan điểm lý luận trong các văn kiện của
Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân thành phố Hà nội, Liên đoàn Lao động Hà
nội về phát triển kinh tế Thủ đô trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đồng thời luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu của tập thể và các cá
nhân liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn sử dụng phương pháp biện chứng của chủ nghĩa duy vật Mác - Lênin về
hành với con người trên tất cả mọi phương diện: hoạt động và sáng tạo. Hoạt động
nhằm bộc lộ sức mạnh bản chất người và hoàn thiện nhân tính. Sáng tạo như một đặc
trưng bản chất của con người, cái thước đo phân biệt tồn tại người với tồn tại vật, giữa ý
thức tự giác của người với bản năng tự phát của động vật, giữa tất yếu và tự do. Nhờ có
sáng tạo mà nhân tính mới được khẳng định và hoàn thiện, con người mới biểu hiện như
một chủ thể hoạt động và sáng tạo giá trị.
Văn hoá thống nhất trong đa dạng, thống nhất bao hàm bởi nhiều sự khác biệt. Nhờ
nó, tự bản chất nó, văn hoá mang thuộc tính một động lưc phát triển và mang ý nghĩa
của sự hoàn hảo, không ngừng vươn tới sự hoàn hảo. Bản chất văn hoá gắn liền với bản
chất con người. Dưới tác động của văn hoá, đặc biệt là văn hoá đạo đức và văn hoá
thẩm mỹ, con người có thể nảy nở khát vọng, nhu cầu trở nên tốt đẹp, cái mà từ lâu,
Mác gọi là sự nãy nở nhân tính, làm cho hoàn cảnh có tính người ngày càng nhiều hơn.
Giữa con người và văn hoá có quan hệ mật thiết với nhau. Khi nói văn hoá hay
nói con người, chỉ là những phạm trù tách ra để nhận thức, chúng là những đối tượng
được khu biệt trong nhận thức. Nhưng trong tính hiện thực bản thể của chúng, văn hoá
và con người luôn gắn liền với nhau, biểu hiện lẫn nhau. Không có con người và hoạt
động người thì không có văn hoá. Bởi không có một giá trị, một sản phẩm văn hoá nào
ra đời nếu không có bàn tay và khối óc của con người tạo nên. Ngược lại không có văn
hoá con người sẽ không thể tồn tại như một sinh thể xã hội.
Trong đời thường, từ văn hoá dùng để đánh giá, chỉ phẩm chất ưu việt của một con
người, một hiện tượng hay một sự vật nào đó. Chẳng hạn khi nói anh ấy cư xử rất văn hoá (nghĩa là có lễ độ, đúng phép lịch sự) hoặc buổi diễn thuyết hôm nay rất văn hoá
(nghĩa là ý tưởng dồi dào, diễn đạt lưu loát, được đa số tán thưởng).
Đã có nhiều cách giải thích từ “Văn hoá”. Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số
điểm chung mà mọi người đều thừa nhận rằng: “Văn hoá” là phương thức tồn tại đặc
hữu của loài người, khác cơ bản với tổ chức đời sống các quần thể sinh vật trên trái đất.
Nó là cái do con người học được mà có, chứ không phải là cái bẩm sinh do di truyền.
Bàn về văn hoá, Viện sĩ người Pháp Teihard de Chardin có đưa ra một nhận định,
đồng là toàn bộ tri thức, kinh nghiệm, giá trị, phương thức ứng xữ…mà cả cộng động
cùng chia sẽ và chấp nhập, đã trở thành truyền thống của cộng đồng ấy. Định nghĩa văn
hoá của E Mayor vừa nêu trên chính là nói về nội dung và đặc điểm của Văn hoá công
đồng.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá với tư cách là một khoa học xã hội ra đời rất
muộn. Nhưng những nhận định, quan niệm về văn hoá thì có từ rất sớm, gắn với những
tên tuổi các học giả như Lê Quý Đôn (1773), Phan Kế Bính (1915), Đào Duy Anh
(1938), Nguyễn Văn Huyên (1944)…
Nhìn chung, các công trình của các ông được các nhà văn hoá hiện nay đánh giá là
viết theo hướng lịch sử văn hoá, mang tính chất miêu tả là chủ yếu, nhưng rất công phu
và tỷ mỷ.
Giữa thế kỷ 20 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm về văn hoá mà đến
nay người ta cho vẵn còn nguyên giá giá trị: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn,
mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hoá.
Hiện nay, đất nước ta ngày càng đổi mới. Đảng và Nhà nước ta thực sự quan tâm
đến các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là đầu tư cho lĩnh vực nghiên cứu về văn
hoá, giáo dục. Bởi vậy, những công trình nghiên cứu văn hoá ngày càng nhiều và mang
lại hiệu quả thiết thực, phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiến đất nước, nâng cao
mức sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Những công trình nghiên cứu về văn hoá
ấy đã giúp cho chúng ta nhận thức một cách đầy đủ hơn về văn hoá, văn minh thế giới
cũng như nhận thức một cách sâu sắc hơn về văn hoá dân tộc Việt Nam. Ví dụ như công trình nghiên cứu của GS-TS Hoàng Vinh đã tóm lược và giới thiệu 12 nhóm định nghĩa
về văn hoá, từ đó giúp chúng ta nhận biết về các khái niệm văn hoá một cách đầy đủ
hơn sâu sắc hơn và toàn diện hơn.
12 nhóm định nghĩa bao gồm:
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trường, nhằm đạt
lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế tối đa. Nghĩa là, doanh nghiệp bao gồm tất cả các cơ sở
sản xuất - kinh doanh, từ các Tổng Công ty, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia… đến
các hộ gia đình kinh doanh cá thể nhỏ lẻ.
Theo nghĩa hẹp: Doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở thuộc khu vực chính thức, có
đăng ký tư cách pháp nhân theo các Luật Doanh nghiệp và kinh doanh hiện hành.
Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Doanh nghiệp đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp như
sau; “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở, giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh”.
ở Việt Nam chúng ta hiện nay, tuỳ theo đặc điểm về hình thức sở hữu, về lĩnh vực
sản xuất, về quy mô tổ chức sản xuất, người ta có thể phân ra các loại hình doanh
nghiệp theo hình thức sở hữu như sau:
Doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hửu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước,
Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn.
Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo những loại hình sau:
Công ty nhà nước, là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành
lập tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước.
Công ty nhà nước có hai loại: Công ty Nhà nước độc lập và Tổng Công ty Nhà
nước.
Công ty Cổ phần nhà nước là Công ty Cổ phần, mà toàn bộ cổ đông là các công ty
Nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động
theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là Công ty trách nhiệm hữu
hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt
động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
trong tổng số các doanh nghiệp hiện có. Ngược lại, doanh nghiệp có số lao động nhỏ
chiếm tỷ trọng khá lớn cụ thể như sau:
Doanh nghiệp - có từ 5 đến 9 lao động chiếm 28,3% trong tổng số 62.9 doanh
nghiệp
Doanh nghiệp có 10 đến 49 lao động chiếm 32,94%
Doanh nghiệp có 50 đến 199 lao động chiếm 11,99%
Doanh nghiệp có 200 đến 299 lao động chiếm 2,15 %
Như vậy, số doanh nghiệp có quy mô lao động vừa và nhỏ hiện nay ở Việt Nam vẫn
chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp, điều đó phản ánh nguồn vốn, công nghệ,
trình độ quản lý của doanh nghiệp chưa cao. Nhưng với việc phát triển các loại hình
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giải quyết một phần rất lớn lao động cho xã hội và đóng
góp vào nền kinh tế quốc dân một phần ngân sách không nhỏ.
- Xét theo quy mô vốn
Tại thời điểm 31/12/2002 tổng số vốn doanh nghiệp là 1.441 nghìn tỷ đồng, số vốn
này gấp 7 lần tại thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 1995 và gấp 1,3 lần cùng thời điểm năm
2000.
Từ số liệu trên chúng ta thấy, lượng vốn đầu tư vào phát triển sản xuất, kinh doanh của
các doanh nghiệp ngày càng tăng lên, góp phần mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi dây
chuyền công nghệ, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội.
Trong tổng số vốn của doanh nghiệp hiện có, doanh nghiệp nhà nước, (DNNN)
chiếm 62,1% tổng số vốn doanh nghiệp (895 nghìn tỷ đồng), doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, (DNNQD) chiếm 16,5% (237 nghìn tỷ đồng) và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (ĐTNN) chiếm 21,4% (308 nghìn tỷ đồng). Hiện tại và trong thời gian tiếp
theo, vốn của doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của
doanh nghiệp nói chung. Mặc dù đã có chủ trương chuyển đổi cơ cấu, sắp xếp, tổ chức
lại và đổi mới phương thức quản lý, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp nhà nước mà trọng tâm là thực hiện cổ phần hoá DNNN.
Đến năm 2005 Chính phủ quy định sẽ có 40% số lượng DNNN sẽ được cổ phần
hoá, nhưng vốn của các doanh nghiệp này chỉ chiếm 16% trong tổng nguồn vốn của
họ tuân theo những quy định cụ thể nào đó và thực hiện những nghi thức nhất định…
Theo ý nghĩa này, mỗi doanh nghiệp là một cộng đồng xã hội hoặc một không gian văn
hoá cụ thể.
Mỗi doanh nghiệp được thành lập để thực hiện mục đích do nhà kinh doanh đặt ra.
Phương thức thực hiện mục đích kinh doanh trong doanh nghiệp đã tạo cho doanh
nghiệp một sắc thái riêng, một màu sắc riêng, một vị thế riêng. Xét từ góc độ ấy, chúng
ta có thể xác định VHDN như một hệ thống đặc thù, đặc trưng cho tổ chức đó, một hệ
thống các mối liên hệ, các hành động, các tác động qua lại và các mối quan hệ được
thực hiện trong khuôn khổ một hoạt động kinh doanh cụ thể.
Nhà xã hội học người Mỹ E.N.Schein cho rằng:
Văn hóa doanh nghiệp hoặc Văn hoá tổ chức là tổng thể những thủ pháp
và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thích ứng bên trong các
nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vẫn cấp thiết trong
hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc
các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích
hợp. Các thành viên của tổ chức không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những
quy tắc và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu [1, tr.150].
Còn nhà xã hội học Pháp N.Đemetr cho rằng:
Văn hóa doanh nghiệp đó là hệ thống quan niệm, những biểu tượng,
những giá trị và mẫu hành vi được tất cả các thành viên chia sẻ. Điều đó có
nghĩa là trong doanh nghiệp, tất cả các thành viên đó đều gắn bó vơí nhau
bởi quan điểm chung về những vấn đề như doanh nghiệp đó là gì, vai trò
kinh tế và xã hội của nó như thế nào, nó chiếm vị trí ra sao đối với những
doanh nghiệp cạnh tranh với nó, những nghĩa vụ của nó đối với khách hàng
là gì…Chức năng văn hoá tổ chức là tạo ra cảm giác thống nhất của mọi
thành viên, tạo ra hình ảnh cái “chúng tôi” tập thể [1, tr.151].
ở Việt Nam theo tiến sĩ Đỗ Minh Cương trong cuốn sách: "Văn hoá và triết lý kinh
doanh" Xuất bản năm 2000, Ông đã đưa ra một khái niệm VHDN như sau: “Văn hoá
kinh doanh là việc sử dung các nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của
thành tố cấu thành của VHDN đã được nêu ở trên. Vậy, cơ cấu VHDN được bao gồm
các thành tố sau: 1.1.3.1. Đạo lý, triết lý kinh doanh
Việc đưa “đạo đức” vào hoạt động kinh doanh không phải là điều mới mẻ. Về
phương diện lịch sử, các nhà doanh nghiệp Mỹ là những người đầu tiên quan tâm đến
đạo đức. Ngay từ năm 1913, doanh nghiệp Penny Company đã có một “Bộ luật” về đạo
đức. Các tín đồ giáo phái Quây-cơ là những người đầu tiên thực hiện đầu tư theo tiêu
chuẩn đạo đức bằng cách khước từ đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất vũ khí và
thuốc lá. Xu hướng này đã lan rộng ra toàn xã hội trong những năm 50, các Hiến
chương về đạo đức liên tiếp được đưa ra. Các ấn phẩm văn hoá về đạo đức ngày càng
phong phú, đã có nhiều Tạp chí đề cập đến lĩnh vực này như:
“Nhật báo về đạo đức trong kinh doanh, Nhật báo về đạo đức trong kinh doanh
và nghề nghiệp”.
Ngay từ lúc mới thành lập, Trường Đại học Harvard đã đưa vào giảng dạy môn “ Luân
lý trong thương mại”. Nội dung chính của môn học này nhằm giải quyết những vấn đề nan
giải về luân lý mà các nhà quản lý thường gặp. Tại thị trường chứng khoán New york, các
tín đồ Dòng Tên đã mở một trung tâm nghiên cứu về luân lý phục vụ các chủ ngân hàng và
các nhà lãnh đạo Cơ đốc giáo. Business ethics là lý thuyết cơ bản về đạo đức kinh doanh ở
Hoa Kỳ. Lý thuyết này bắt nguồn từ một lôgích thực dụng, kết hợp luân lý, pháp luật và
khế ước.
ở Pháp, đạo đức trong kinh doanh trở thành đối tượng nghiên cứu ở nhiều Hiệp hội,
nhiều học giả từ những năm 60. Cũng chính trong những năm đó, Trung tâm giới chủ
Cơ đốc giáo của Pháp (CFPC), Hiệp hội cán bộ lãnh đạo (AcaDi) đã cho xuất bản nhiều
ấn phẩm, tổ chức nhiều Hội thảo về chủ đề này. O. Geliner (1991), Chủ tịch danh dự
của Cegos, là người đầu tiên đã xuất bản một cuốn sách về đạo đức trong kinh doanh
với tựa đề: "Đạo đức trong kinh doanh, chú ý kẻo chệch hướng”. Sau khi cuốn sách ra
đời đã được độc giả và các nhà quản lý doanh nghiệp đón nhận nhiệt liệt [31, tr.30].
Như vậy, một điều khẳng định rằng các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến các quy
mình đã đạt được. Phải có hoài bảo lớn, không chịu khuất phục trước thách thức, quyết tâm
vươn lên để thành đạt trong kinh doanh.
Bốn là, phải biết đương đầu với thử thách: Không ngại khó khăn gian khổ, biết
lường trước những tình huống có thể xảy ra mà nghề kinh doanh thường gặp phải. Năm là, coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội, hiệu quả kinh tế là thước
đo thành công, thành đạt trong kinh doanh. Muốn tiếp tục phát triển, doanh nghiệp
không những nâng cao hiệu quả, hiệu suất trong hoạt động kinh doanh mà còn phải làm
tốt công tác xã hội, gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội.
Còn một yếu tố quan trọng trong hệ thống tổ chức - công nghệ để từ đó hình thành
VHDN, đó là vấn đề ứng xử với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. ứng xử hài
hoà với tự nhiên, bảo vệ môi trường tự nhiên là nét đẹp truyền thống của con người Việt
Nam. Nhưng hiện nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh nghiệt ngã, nhiều doanh
nghiệp vì mục đích lợi nhuận đã không quan tâm đến sự bảo vệ mội trường tự nhiên.
Nạn phá rừng khắp cả nước, những bải rác thải để không đúng chổ trong các thành
phố lớn, đã dẫn đến sự ô nhiễm không khí, lụt lội tàn phá mùa màng, những trận sạt
lở đất ở Hà giang, Quảng Ninh, Yên Bái gần đây nhất, đã làm hàng chục người thiệt
mạng.
Qua đây chúng ta thấy rằng, một trong những thành tố để xây dựng VHDN đó là
bảo vệ mội trường quan trọng biết nhường nào.
1.1.3.2. Hệ thống tổ chức - công nghệ
Tổ chức là bố trí, sắp xếp công việc làm sao cho thật hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất.
Ví dụ bố trí sắp xếp cán bộ trong cơ quan, doanh nghiệp, đặt mọi người thật đúng vị trí
công việc để ai cũng có thể phát huy hết năng lực, trí tuệ của mình, góp phần xây dựng cơ
quan, doanh nghiệp ngày càng phát triển.
Như vậy, việc bố trí sắp xếp cán bộ cũng như sắp xếp các dây chuyền sản sản xuất
công nghệ trong doanh nghiệp là một yếu tố thực sự quan trọng, nó góp phần quyết định
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Công nghệ là một tập hợp bao gồm các quy trình, phương pháp, kỹ năng, bí quyết,
vị, doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm trước một số quy định của cộng đồng. ở
Việt Nam chúng ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, có nhiều doanh nghiệp
đang phấn đấu thực hiện các phương thức quản lý tiên tiến như: ISO 9000, ISO 9002,
ISO 14.000, và tiêu chuẩn SA 8000. Theo như các chuyên gia nghiên cứu của Viện
nghiên cứu Quản lý kinh tế TW, SA 8000 là một hệ thống tiêu chuẩn quy định về điều
kiện làm việc của người lao động, được xem như một giải pháp khẳng định về giá trị
đạo đức của sản phẩm. Cụ thể nó quy định rõ về trách nhiệm xã hội, liên quan đến lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khoẻ của người lao động, môi trường sản xuất,
tính phân biệt đối xử và kỷ luật về giờ giấc lao động vv…Tóm lai tạo môi trường lao
động tốt, có kỷ luật, nhưng phải đảm bảo yếu tố nhân đạo trong quản lý lao động. Còn
ISO 9000 và ISO 9002 quy định về chất lượng sản phẩm, còn ISO 14.000 là quy định
trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên…
Như vậy, với ý nghĩa hệ thống tổ chức - công nghệ như là một yếu tố quan trọng tác
động tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thì máy móc, dây chuyền sản xuất
hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ, sẽ tạo ra một môi trường sản xuất, kinh doanh
thuận lợi, nâng cao năng suất lao động, sản phẩm đạt chất lượng cao. Tuy nhiên trong
thực tế nhiều người chưa hiểu, họ cho rằng đấy là yếu tố đơn thuần về vật chất, không
liên quan gì đến VHDN.
Song ở đây, chúng ta xét những yếu tố đó với tư cách là một trong những yếu tố cơ
bản thuộc VHDN. Bởi vì, đây là sự kết tinh của tri thức, là trình độ, là nghệ thuật vận
hành dây chuyền sản xuất, là tay nghề, kinh nghiệm, kỹ thuật, kỹ năng, kỷ xão trong
lĩnh vực sử dụng máy móc và các thiết bị khoa học công nghệ dãn đến chất lượng sản
phẩm và uy tín của doanh nghiệp.
Yếu tố tổ chức - công nghệ trong VHDN còn bao gồm các yếu tố như: Marketing,
quảng cáo. Đây là con đường ngắn nhất để đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến với
người tiêu dùng đồng thời tìm kiếm đối tác trong làm ăn. Nhưng quảng cáo như thế nào
đây để vừa hấp dẫn, mang đậm yếu tố văn hoá là một điều hơi khó đối với các doanh
nghiệp. Hiện nay trên đường phố Hà nội có nhiều biển quảng cáo loè loẹt, thiếu văn hoá
giúp doanh nghiệp dễ dàng tuyển mộ nhân lực có tài năng hơn, đồng thời nó tăng sức
lôi cuốn của doanh nghiệp đối với các thị trường nhà đầu tư và tài chính.
Chúng ta có thể thấy thương hiệu sẽ mang về các lợi cho Công ty có thương hiệu
mạnh:
1. Dẫn đến các kết quả kinh doanh tốt hơn: doanh thu, tiền lời và luồng
tiền mặt.
2. Dẫn đến nguồn tài chính tốt hơn.
3. Có thể hưởng một giá cao hơn mức bình thường.
4. Xây dựng được lòng trung thành của khách hàng.
5. Tạo cho tiếp thị hiệu quả hơn.
6. Tạo sự phân biệt giữa các nhà cạnh tranh. 7. Giúp Công ty tuyển dụng và giữ được người tài năng hơn.
8. Có thể đứng vững và vượt qua các cuộc khủng hoảng dễ dàng hơn.
9. Làm chậm hay ngăn chặn sự xói mòn của thị phần.
10. Giảm thiểu các trận chiến sống còn của Công ty, do mọi người đang
làm việc trên các mục tiêu chung.
11. Lôi cuốn các thị trường nhà đầu tư và tài chính.
12. Giúp định hình các quyết định phức tạp của những nhà điều tiết [31,
tr.32].
Hiện nay ở Việt Nam các công ty đang từng bước xây dựng thương hiệu của mình.
Như Công ty May 10, Công ty giày Thượng Đình ở Hà Nội, Công ty Tàu biển Nam
Triệu ở Hải phòng, Hãng Hàng không Việt Nam Airlines Công ty Chiếu sáng và thiết bị
đô thị Hà Nội…Tuy nhiên điều quan trọng khi mỗi doanh nghiệp xây dựng cho mình
một thương hiệu mang bản sắc riêng thì phải đăng ký quyền bảo hộ thương hiệu, đồng
thời phải đưa hình ảnh của doanh nghiệp đến với quần chúng rộng rãi để quảng bá cho
doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, VHDN còn được thể hiện qua các Lễ hội truyền thống, kỷ niệm sự ra
đời của Công ty hay giỗ tổ nghề hoặc giao lưu văn hoá vv… để nâng cao uy tín và vị thế