LUẬN VĂN:Nhà ở cho sinh viên – thực trạng và giải pháp doc - Pdf 15


1

LUẬN VĂN:

Nhà ở cho sinh viên –
thực trạng và giải pháp

2


viên là một vấn đề khó khăn và đầy bức xúc. Và thực tế này đòi hỏi Đảng, nhà nước,

3

xã hội cần quan tâm hơn nữa trong việc hỗ trợ sinh viên về chỗ ở nhằm đảm bảo cho
việc học tập của sinh viên được thuận lợi. Qua đó nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo tại Việt Nam.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng em đã chọn đề tài: “Nhà ở cho sinh
viên –thực trạng và giải pháp”. Trong đề tài của mình, chúng em tập trung làm rõ
một số vấn đề sau:
1. Nhà ở và các vấn đề liên quan đến nhà ở Hà Nội hiện nay.
2. Thực trạng cuộc sống sinh viên thuê nhà bên ngoài và ở trong túc xá . 4

Chương I
Những vấn đề chung

I. Quan niệm về nhà ở và xu hướng thiết kế nhà ở
Cùng với sự phát triển của xã hội, trong lĩnh vực nhà ở cũng có sự thay đổi khá

các nước phát triển người ta xây dựng rất nhiều nhà chung cư cao tầng, đó là niềm tự
hào của các quốc gia. Nhưng sau một thời gian khai thác, người ta đã đúc kết được rất
nhiều bất cập, còn cư dân thì dần từ bỏ các loại nhà này để đi tìm chỗ ở phù hợp trong
những loại nhỏ thấp tầng hơn. Từ đó để khắc phục những bất cập nêu trên, các chuyên
gia đã và đang đưa ra những ý tưởng táo bạo về thành phố tương lai. Đó là các thành
phố treo trên không trung, trên mặt biển, thành phố dưới nước, dưới mặt đất, trong vũ
trụ Hiện thực hơn, là thiết kế các đô thị có khả năng hạn chế những tác động xấu từ
môi trường xung quanh, trong đó con người sống trên những chung cư cao tầng giống
như được sống trong các ngôi nhà riêng có sân vườn vậy.
Trong rất nhiều dự án nhà ở cao tầng tương lai, các nhà thiết kế chú ý nhiều đến
khả năng thay đổi các trang thiết bị kỹ thuật. Đây là một hướng đi hiện thực hơn, hợp
với mọi điều kiện và trình độ phát triển của xã hội. Nhưng có một vấn đề luôn luôn
thời sự mà các nhà thiết kế phải để ý đến. Đó là sự biến động về nhu cầu và điều kiện
ở của bất kỳ một gia đình nào. Nghĩa là những nhu cầu biến đổi không gian trong căn
hộ cả về lượng và chất theo thời gian. Về mặt lượng - yếu tố vật thể thì căn hộ có thể
được mở rộng ra hay thu hẹp lại theo nhu cầu về không gian trong các chu trình sống
của từng gia đình cụ thể. Sự thay đổi về lượng trong căn hộ có thể được thể hiện bằng
cách mua hay nhượng một phần không gian của các căn hộ liền kề. Còn về mặt chất -
yếu tố phi vật thể thì luôn luôn có nhu cầu tăng lên, không phụ thuộc vào những thay
đổi trong các chu trình sống của gia đình. Như một quy luật, hao mòn phi vật thễ xảy
ra nhanh hơn nhiều so với hao mòn vật thể, do đó các nghiên cứu trên đây đều xuất
phát từ quan niệm đơn giản này. Trong xã hội phát triển, nếu gia đình nào đó không ưa
thích căn hộ mà mình đang sống nữa thì có thể thay bằng một căn hộ khác hợp với sở
thích và nhu cầu của mình hơn.
Từ xa xưa, tiêu chí hàng đầu về chất lượng nhà ở được các nhà chuyên môn và
cư dân của bất kỳ xã hội nào đều cho là độ bền vững và tính ổn định. Nhưng ngày nay
và cả trong tương lai, tiêu chí về chất lượng nhà ở mà mọi người quan tâm nhiều hơn
là tính chất linh hoạt và di động của các loại không gian và hình khối nhà ở.
Để không gây ra ô nhiễm thêm cho môi trường và tiết kiệm các nguồn tài
nguyên cũng như tận dụng các nguồn năng lượng vô tận trong thiên nhiên, con người

Hiện thủ đô Hà Nội có 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Diện tích đất
nội thành là 8430 ha. Bình quân đất đô thị trong nội thành theo đầu người chưa tới 60
m
2
và phân bố không đều trong các quận. Quận có mật độ dân cư cao như quận Hoàn

7

Kiếm chỉ bình quân khoảng 25 m
2
/ người. Trong khi đó, ở tất cả các quận nội thành
vẫn đang có xu hướng tăng mật độ dân cư. Những xu hướng đó dẫn tới nhu cầu sử
dụng đất xây dựng đô thị ngày càng lớn, do đó phải chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất.
Theo quyết định 1447/QĐ-TTg ngày 9/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Hà Nội đến năm 2010 thì đất nông nghiệp
là 33446 ha, giảm 13166 ha so với năm 2000; đất chuyên dùng là 29770 ha, tăng 9246
ha; đất ở nông thôn là 7909 ha, giảm 908 ha; đất ở đô thị là 5875 ha, tăng 3003 ha.
Như vậy, theo quy hoạch sử dụng đất thành phố Hà Nội giai đoạn 2001-2010 thì quỹ
đất cho xây dựng và phát triển nhà ở sẽ tăng lên, đây là cơ sở để phát triển thị trường
nhà ở một cách hợp lý, đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho mọi thành phần, tầng lớp dân cư.
2. Quỹ nhà ở Hà Nội và thực trạng:
Theo Sở địa chính _nhà đất, Hà Nội hiện có quỹ nhà khoảng 12 triệu m
2
(450000 căn hộ) chiếm 15% quỹ nhà ở cả nước. Trong đó, thuộc sở hữu nhà nước
khoảng 4.5 triệu m
2
, chủ yếu là nhà tại các khu chung cư cũ được xây dựng trong các
giai đoạn 1960-1970, 1970-1980, 1980-1990. Sau 9 năm thực hiện bán nhà theo Nghị
định 61/CP, năm 2003 quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước còn lại là 3542155 m
2

+ Xây dựng thêm nhà chung cư cao tầng hiện đại.
+ Xoá bỏ các khu nhà ở ổ chuột trong nội thành và ven nội.
Nếu thực hiện được đầy đủ các mục tiêu chiến lược nêu trên thì thị trường nhà
ở Hà Nội có nguồn lực dồi dào, điều kiện ở của người dân được cải thiện, thị trường
nhà ở đa dạng, với nhiều loại sản phẩm phong phú như: nhà cho thuê giá cao và giá
thấp, nhà mua bán trả góp nhà mua bán giá thấp và giá rẻ, nhà mua bán giá cao,
Qua 6 năm thực hiện chương trình số 12, Hà Nội đã đạt đựoc nhiều thành tựu
đáng kể. Chỉ trong vòng 3 năm (1998-2000) đã xây dựng được 1,32 triệu m
2
nhà ở các
loại (trong đó, dự án nhà nước là 40 vạn m
2
, chiếm 35%, tư nhân tự xây dựng là 95
vạn m
2
chiếm 65%). Trung bình mỗi năm xây dựng được khoảng 45 vạn m
2
nhà ở mới
(riêng năm 2002 đạt 95 vạn m
2
), gấp 9 năm có số lượng nhà ở xây dựng cao nhất trong
thời kỳ bao cấp trước đây. Bước đầu giải quyết một phần khó khăn về nhà ở và cải
thiện điều kiện ở của nhân dân thành phố, góp phần đổi mới bộ mặt thủ đô. Về phương
diện phát triển nhà ở, Hà Nộ đã có một bước tiến dài. Song về phương diện kiến tạo thị
trường nhà ở thì Hà Nội chưa làm được bao nhiêu. Đơn cử: về mặt pháp luật, tỉ lệ thị
phần nhà ở do nhà nước kiểm soát chỉ chiếm khoảng 50-55%, còn khoảng 45-50%
chưa kiểm soát được. Về cơ cấu sản phẩm nhà ở xây dựng mới, thì loại có giá trung
bình (5 triệu đồng/m
2
) và giá cao (6-7 triệu đồng/m

cao. Những người này không có đủ điều kiện để đầu tư xây dựng mới nhà ở do đó nên
nhu cầu về nhà ở cho thuê và cải tạo nâng cấp nhà ở tại đây là rất cao. Theo số liệu
diều tra mới đây, số lựơng gia đình người có thu nhập thấp và người nghèo sống trong
khu vực nội thành Hà Nội có nhu cầu giải quyết vấn đề nhà ở ước tính 15 vạn hộ,
trong đó số lượng gia đình chưa có chỗ ở cần giải quyết nhà ở ước tính 6 vạn hộ (
chiếm 40%), số lượng gia đình mong muốn được thuê nhà ở ước tính 4,3 vạn hộ
(chiếm 31%) trong đó có khoảng 4,7 vạn hộ ở nhà chung cư. Thêm vào đó, theo dự
báo thì trong giai đoạn 2006-2010 tỉ lệ hộ nghèo tại Hà Nội tăng 4,6%. Như vậy nhu
cầu về nhà ở cho người có thu nhập thấp và người nghèo ngày càng tăng. Từ thực tế
đó thấy rằng việc phát triển thị trường nhà cho thuê là tất yếu để góp phần giải quyết
nhà ở cho những người có thu nhập thấp.
Ngày 6- 5- 2004 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định 76/2004/QĐTG về việc
định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020. Quyết định này chỉ rõ "thúc đẩy phát triển
quỹ nhà ở dành cho người có thu nhập thấp (bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức,
người lao động tại các khu công nghiệp, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và các đối tượng chính sách khác) mua hoặc thuê phù hợp với từng
đối tượng cụ thể Từng bước đổi mới chính sách pháp luật về nhà ở phù hợp với
đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đóng

10

vai trò chủ đạo trong việc hình thành thị trường bất động sản, nhà ở đồng thời có chính
sách hỗ trợ thích hợp để các tầng lớp dân cư có điều kiện cải thiện chỗ ở". Thực hiện
quyết định đó nhà ở dành cho người có thu nhập thấp đã có bước biến đổi tích cực.
Thế nhưng trong thị trường nhà ở vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa xu hướng đầu tư xây
dựng nhà ở để bán và nhà ở để cho thuê. Ngay trong bản thân thị trường nhà ở cho
thuê cũng có sự mất cân đối giữa nhà ở chất lượng thấp ( chiếm 70% quỹ đất đô thị )
và nhà ở chất lượng cao (chiếm 30% quỹ đất đô thị). Cụ thể hiện nay Hà Nội có gần
10 dự án xây dựng căn hộ và văn phòng cho thuê loại cao cấp. Theo nhận xét của các
chuyên gia bất động sản, tiềm năng thị trường nhà cao cấp cho thuê là rất lớn vì Việt

Những sinh viên tỉnh lẻ ở quê lên thành phố trọ học, họ ăn ở ra sao? Ước muốn
những gì? Phía quản lý KTX và chủ các nhà trọ có ý kiến như thế nào? Đó là những
câu hỏi còn làm cho rất nhiều người phải đau đầu.
Niềm vui chưa trọn:
Ngay sau khi đậu đại học, niềm vui của những tân sinh viên tỉnh lẻ cũng như
những thành viên trong gia đình chưa kịp thăng hoa thì họ đã phải lo làm sao cho có
được một nơi để con em mình sống suốt mấy năm theo học trong trường đại học.
Cung và cầu về ký túc xá hiện nay rất cách biệt, cung thường thấp hơn cầu rất
nhiều. Bởi vậy việc tìm một nơi ăn ở cho sinh viên trở thành nỗi lo chính không chỉ
của riêng sĩ tử nào (của rất nhiều bạn) vào mùa nhập học.
Do khả năng đáp ứng phòng cho sinh viên của Ký túc xá các trường có hạn nên
bao giờ cũng vậy, để có thể đăng ký vào ở trong Ký túc xá, sinh viên phải có đủ một
số điều kiện sau: là người ngoại tỉnh, thuộc diện chính sách, con nhà nghèo học giỏi
Hiện nay, ở nước ta hầu như chỉ có các trường công lập mới có ký túc xá cho
sinh viên, còn một số trường dân lập mở ra nhưng không có ký túc xá cho sinh viên
của trường mình. Vì vậy, nhu cầu về nhà ở của sinh viên đang rất cao.
Đây là thực trạng cần được quan tâm và có hướng giải quyết, khắc phục. Theo
thống kê thực tế hiện nay, Hà nội có trên 300.000 sinh viên có nhu cầu về chỗ ở vẫn
chưa được đáp ứng.
* Cung thấp hơn cầu:
- Tại TP. Hồ Chí Minh, thống kê năm nay cho thấy trong tổng số 350.000 sinh
viên, có chừng 200.000 sinh viên hiện đang cần phòng ở để học tập. Thế nhưng tính
gộp số phòng của các dự án Ký túc xá đang xây dựng tại thành phố cũng chỉ đáp ứng
được chừng 60.000 chỗ ở cho sinh viên (đáp ứng được 30%).
- TP. Đà Nẵng nơi có 35.000 sinh viên cũng chỉ có chừng 10% sinh viên được
vào ký túc xá, số còn lại phải tự đi tìm nhà ở bên ngoài.

12

- ở Đà Lạt nơi có 13.000 sinh viên đang theo học tại Đại học Đà Lạt thì Kỹ túc

13

Các khu trọ cách xa nhau và xa trường nên sinh viên ít có điều kiện gặp gỡ, trao
đổi, giao lưu học hỏi lẫn nhau, ít quan hệ, khó trau dồi kiến thức, việc tra cứu tìm tòi,
tự học trên thư viện là rất ít.
* Giá nhà trọ tăng cao:
Vào đầu năm học mới này, chỉ riêng ở thành phố Đà Lạt giá nhà trọ dành cho
sinh viên đồng loạt tăng ở mức dao động từ 15% đến 30%, tuỳ theo địa điểm và chất
lượng phòng. Trong quá trình thuê, giá cả thị trường lên xuống thất thường cũng khiến
chủ nhà tăng giá. Với túi tiền của sinh viên thì việc tăng giá nhà ảnh hưởng rất lớn đến
cuộc sống của sinh viên, nhưng việc tìm một nhà trọ thay thế lại là một việc hết sức
khó khăn. Vậy sinh viên sẽ phải ở đâu cho thuận tiện?
Đây chính là cơ hội kinh doanh cho các chủ đầu tư đầu tư vào dự án xây dựng
nhà cho sinh viên, đáp ứng nhu cầu bức thiết của sinh viên_thế hệ trẻ tương lai, những
con người cần có môi trường tốt để học tập và tu luyện bản thân.
2. Khả năng đáp ứng của trị trường
Trước cầu thị trường đã xuất hiện cung, thế nhưng cung hiện nay vẫn thấp hơn
rất nhiều so với cầu.
Ngoài các khu KTX của các trường Đại học, Cao đẳng - người dân thành phố đã
biết tận dụng nguồn đất của mình để xây dựng nên các phòng trọ cho sinh viên thuê.
Những căn phòng chỉ vẻn vẹn 8 -10m
2
nhiều khi có đến 03 sinh viên thuê ở chung một
phòng.
Khả năng đáp ứng nhà ở cho sinh viên ở các tỉnh thành:
+ Tỉnh Nghệ An: nhà trọ gần Trường Đại học Vinh - Trường Thi - Thành phố
Vinh, 3708 - Yên Thành với giá cho thuê 120.000 -200.000đ/phòng
+ TP. Hồ Chí Minh: địa chỉ Cống Quỳnh - Nguyễn Cư Trình - 801 Quận 1,
Phường 11 Quận 10 - 807 - Quận 10; Cách mạng tháng 8 - 15 - 807 - Quận 10; 811 -
Bình Thạnh, Tôn Đức Thắng - 801 - Quận 1; Huỳnh Văn Chinh - Quận 11 - 808 -

các sinh viên dễ cảm thông với nhau, chia sẻ cùng nhau, trao đổi với nhau những kinh
nghiệm sống, kinh nghiệm học tập. Hơn thế nữa, môi trường này còn rèn luyện cho
sinh viên ý thức sống vì tập thể, lối sống độc lập, khả năng thích nghi với mọi điều
kiện, giúp cho sinh viên dễ hòa nhập hơn sau này.
+ Kí túc xá đảm bảo chỗ ở ổn định cho sinh viên, tạo tâm lý yên tâm cho sinh
viên trong học tập với mức giá thuê phù hợp với khả năng chi trả của sinh viên. Trung

15

bình giá thuê ở kí túc xá là từ 50 000đ đến 70 000đ/người/tháng, với mức giá này hiện
nay sinh viên không thể tìm được một chỗ ở nào để thuê ngoài.
+ ở trong kí túc xá sinh viên được hưởng những dịch vụ công cộng với mức giá
thấp do được hưởng trực tiếp một phần hỗ trợ của nhà nước và nhà trường. Chẳng hạn,
mỗi tháng sinh viên được sử dụng miễn phí 10 số điện/1 tháng, 4 m
3
nước/1tháng. Nếu
vượt quá số điện nước định mức sinh viên phải nộp thêm tiền nhưng với giá tính thấp:
điện là 900đ/1 số, nước là 2800đ/1 m
3
.
Ngoài ra, sinh viên còn được cập nhật mọi thông tin về trường lớp một cách
nhanh nhất, sinh viên trong kí túc xá luôn luôn là “đường dây nóng” liên lạc với các
sinh viên khác trong lớp.
Với những ưu điểm đó của kí túc xá, đã có những thời kỳ ở kí túc xá của nhiều
trường đã sử dụng với công suất tối đa, nhiều sinh viên nộp đơn xin được vào kí túc xá
mà không được duyệt.
b. Những tồn tại của Kí túc xá:
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm nảy sinh nhiều bất cập về kí
túc xá, khiến cho một lượng lớn sinh viên lao đao về chỗ ở.
+ Về mặt diện mạo kiến trúc: Hầu hết các kí túc xá hiện nay đều là các ngôi

nơi, mọi chỗ của khu nhà. Nhưng biết làm sao khi sinh viên không có chỗ để phơi mà
nhu cầu này lại quá lớn và rất thường xuyên.
- Các khu kí túc xá hầu như 100% không có nơi dành cho sinh viên tiếp khách
hoặc tổ chức sinh nhật, phòng ở lại quá chật chội, có phần bừa bãi nên khi có khách
sinh viên buộc phải dẫn ra quán -> tăng thêm chi phí của sinh viên.
+ Về cung cấp các dịch vụ và cơ chế quản lý kí túc xá:
- Dịch vụ nhà ăn: có rất nhiều trường không có hệ thống nhà ăn phục vụ sinh
viên: ngoại thương, mở (không có cả kí túc xá), sân khấu điện ảnh,… Và như thế có
nghĩa là buộc sinh viên phải sử dụng hệ thống dịch vụ tư sau trường cho dù chất lượng
các dịch vụ đó như thế nào.
Đối với những trường có hệ thống nhà ăn phục vụ sinh viên thì chất lượng phục
vụ cũng không khá hơn là bao. Nhà ăn thuộc diện đã được xây dựng từ rất lâu, cơ sở
cũ nát, chất lượng thực phẩm ít được quan tâm mà chỉ chú trọng đến mặt số lượng nên
không đảm bảo, số lượng mặt hàng phục vụ lại không đa dạng. Chính điều này đã dẫn
tới một thực trạng là sinh viên nấu ăn trộm trong phòng ở rất nhiều, từ đó gây ra nhiều
hậu quả khác như: nguy cơ quá tải nguồn điện, nguy cơ về cháy nổ cao. Và như vậy
khiến cho sinh viên không yên tâm học tập.
- Điện nước: Nước được bơm theo giờ nhưng giờ bơm lại không hợp lý: sáng từ
6h-8h, trưa từ 11h-12h, chiều từ 16h-19h, thường thì trong những khoảng thời gian
này sinh viên phải đi học. Đã thế chất lượng nước lại kém, có rất nhiều cặn, váng,
không đảm bảo an toàn vệ sinh cho sinh viên, bể nước không được cọ rửa thường
xuyên lại chỉ có nắp đậy nửa bể nên nước có rất nhiều bụi. Một thực trạng đáng nói

17

nữa ở đây là tình trạng mất nước xảy ra thường xuyên, có lúc còn mất đến 4,5 ngày,
gây rất nhiều khó khăn cho sinh hoạt hàng ngày của sinh viên.
- Cơ chế quản lý kí túc xá lỏng lẻo: Thể hiện:
Tất cả mọi người có thể ra vào kí túc xá một cách tự do mà không bị kiểm tra.
Điều này dẫn đến rất việc rất nhiều sinh viên trong kí túc xá bị mất đồ và tiền.

số sinh viên/1 phòng ở đông(10 người/phòng), các dịch vụ cung cấp: điện nước, dịch
vụ ăn uống,chất lượng thấp, Thế nhưng hiện nay, diện mạo kí túc xá của trường đã
hoàn toàn thay đổi. Được sự ủng hộ, giúp đỡ của bộ Giáo dục &Đào tạo, bộ Kế hoạch
&Đầu tư, bộ tài chính & các cơ quan hữu quan, Đảng ủy, ban giám hiệu trường đại
học KTQD đã quyết định xây dựng và thực hiện dự án đầu tư, sửa chữa, nâng cấp , mở
rộng khu kí túc xá sinh viên các nhà 1,2,3,4 bằng cách cấy ốp các công trình phụ khép
kín vào các phòng ở sinh viên. Ngày 2/10/2001 bộ trưởng bộ giáo dục &đào tạo đã ký
quyết định số 5445 QĐ/BGD&ĐT-KHTC phê duyệt dự án đầu tư, cải tạo mở rộng 4 kí
túc xá sinh viên trường đại học KTQD với tổng diện tích cải tạo 4 kí túc xá cũ là
10446 m
2
, trong đó, diện tích cải tạo khu vệ sinh cũ thành diện tích sinh hoạt chung là
1051 m
2
, tổng diện tích xây dựng mới khu vệ sinh là 4053 m
2
, với tổng mức đầu tư là
11179368000 đồng, xây dựng bằng 100% vốn ngân sách nhà nước cấp. Đến đầu năm
2003, dự án hoàn thành. Giờ đây, toàn bộ khuôn viên kí túc xá đã được quy hoạch tách
rời với các khu vực hành chính, gồm 5 nhà: nhà 1,2,3,4 vừa được cải tạo lại, nhà 11
vừa được xây dựng mới hoàn toàn, 1 nhà ăn 3 tầng cũng vừa được khánh thành, cộng
thêm 2 căngtin nhỏ phục vụ sinh viên và 1 sân thể dục rộng rãi đã đáp ứng được cơ
bản nhu cầu nhà ở của sinh viên. Ngoài ra , trong kí túc xá còn co 2 khu nhà để xe
phục vụ sinh viên có nhu cầu.
Khu kí túc xá nhà 11- khu nhà được xây dựng mới hoàn toàn gồm 5 tầng khang
trang, sạch sẽ, có khuôn viên rộng, thoáng và nhiều cây xanh.
+Tầng 1 là tầng dành riêng cho các phòng hành chính: hội sinh viên, ban giám
đốc trung tâm dịch vụ, phòng ban quản ký sinh viên, phòng tiếp khách của sinh viên
và có khoảng 4 đến 5 phòng dành để phục vụ chỗ ngủ cho người nhà sinh viên khi đến
thăm.

tiên đặc biệt mới được ở đây chẳng hạn như sinh viên thuộc khu vực 1,2 nông thôn,
sinh viên hệ KV.
Đối với sinh viên khu kí túc xá nhà 1,2,3,4, nhờ dự án tu sửa, nâng cấp nhà ở kí
túc xá của trường nên cả 4 khu nhà này đã được tân trang lại, mang một diện mạo mới.
Bốn khu nhà này được sắp xếp thành 2 dãy đối xứng nhau, giữa là sân thể dục, sân này
vừa là chỗ học thể dục cua sinh viên trong trường, vừa là nơi để sinh viên tập luyện, tổ
chức các hoạt động. Vì thế có thể nói đây là khu vực rất náo nhiệt.
Bốn khu nhà có cấu trúc tương tự nhau, gồm 4 tầng, mỗi tầng có 14 phòng ở
khép kín + 1 phòng học chung. Diện tích phòng ở khoảng 20 m
2
+ khu công trình phụ
khoảng 6m
2
+ 1 ban công dùng để phơi phóng. Phòng dành cho 10 người ở, giá thuê là
60 000đ/người/tháng chưa kể điện nước. Mỗi khu nhà cũng có một phòng quản lý và
luôn có người trực 24/24h.
Về việc quản lý sinh viên trong kí túc xá: nhà trường rất chú trọng đến công tác
này và đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện có hiệu quả:

20

+ Cả 5 khu nhà kí túc xá được xây dựng nằm trong một khuôn viên kín, chỉ để 1
lối vào kí túc xá. Do đó nên việc quản lý sinh viên trở nên đơn giản hơn. Ban quản lý
thực hiện kiểm tra những người ra vào kí túc xá tại cổng kí túc, thực hiện giờ đóng
cổng kí túc: 23h30’ đối với ngày thứ 7 và 23h đối với những ngày còn lại trong tuần.
Giờ giấc tập luyện, chơi thể thao cũng được quy định rõ trong nội quy ở kí túc xá.
+ Sắp xếp chỗ ở cho sinh viên một cách hợp lý: Sắp xếp theo lớp ,theo khoa và
theo khoá. Mỗi khoá sẽ được xếp ở 1 nhà: nhà 11 dành cho sinh viên năm thứ nhất và
sinh viên hệ KV, nhà 1 dành cho sinh viên năm thứ 4, nhà 2 dành cho sinh viên năm 2,
nhà 3 dành cho sinh viên năm 3 và một nửa là sinh viên năm 2, nhà 4 là dành cho sinh

Hiện trạng này cũng giống như kí túc xá của trường đại học Ngoại ngữ - đại học
quốc gia HN, trường này có 3 dãy nhà: 2 dãy được cải tạo lại, 1 dãy được xây dựng
mới do Nhật đầu tư. ở dãy nhà cải tạo lại cũng vẫn tồn tại việc bố trí phòng ở không
hợp lý: công trình phụ ở phía trước, cạnh cửa ra vào, thậm chí ở đây còn không co ban
công để phơi phóng.
Nói tóm lại, hiện nay, kí túc xá sinh viên đã có nhiều biến đổi về chất lượng
phòng ở cũng như dịch vụ phục vụ, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn
đề bất cập cần phải dược giải quyết để đáp ứng tốt hơn, đủ hơn chỗ ở cho sinh viên,
tạo ra môi trưòng thuận lợi cho sinh viên học tập và rèn luyện.
2. Thực trạng nhà thuê ngoài của sinh viên :
Sinh viên từ các tỉnh khác khi về Hà Nội nhập học nhìn chung là rất bỡ ngỡ với
cách sống, cách sinh hoạt ở Hà Nội. Việc hoà nhập với môi trường mới là cả vấn đề
với họ. Khác với khi ở quê hương, bản quán được sự nâng niu, trợ giúp của của gia
đình, khi lên Hà Nội nhập học họ phải tự lập, tự lo chỗ ăn, chỗ ở cho mình. Do đó, lúc
đầu cách giải quyết chỗ ăn ở tốt nhất, an toàn nhất cho họ là ở trong kí túc xá. Khi sinh
viên ở trong kí túc xá họ sẽ được nhà trường quan tâm giám sát, quản lý nên gia đình
sinh viên cũng an tâm hơn. Thêm vào đó là giá cả trong kí túc xá rẻ hơn rất nhiều so
với bên ngoài. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ tiêu chuẩn ở kí túc xá cũng như
không phải ai cũng muốn ở kí túc xá nên sinh viên vẫn đi thuê nhà bên ngoài. Và thực
tế là con số này khá lớn, ước tính số này chiếm đến 4/5 tổng số sinh viên nhập học, và
hiện nay Hà Nội có trên 300.000 sinh viên có nhu cầu về chỗ ở. Với số sinh viên này
vấn đề ăn ở được giải quyết như thế nào?
a. Hướng chọn nhà của sinh viên :
Hầu hết sinh viên khi thuê nhà ở ngoài thường chọn các khu vực cho thuê gần
các trường nơi mình theo học như khu: Trung Hoà, Nhân Chính, Cầu Giấy, Mai Dịch,
Minh Khai , Trương Định ở các khu vực tập trung nhiều trường đại học , cao đẳng thì

22

đồng thời cũng tập trung nhiều sinh viên thuê nhà trọ và có nhiều nhà trọ. Sở dĩ như

23

Loại này thường tập trung ở các làng sinh viên , nơi mà có mật độ sinh viên
cao. Đặc điểm của những nhà cho thuê này là:
 Chủ nhà có diện tích lớn, trước đây chủ yếu sống bằng nông nghiệp nay
chuyển sang xây nhà cho sinh viên thuê.
 Các phòng trọ thường được xây dưới dạng nhà cấp 4, nhà dãy.
+ Mỗi dãy có nhiều phòng, số lượng phòng tuỳ thuộc diện tích đất của nhà chủ,
nó dao động từ 5 ->10 phòng.
+ Diện tích mỗi phòng là 8->12 m
2
thường chỉ ở được 2 người.
+ Trong phòng chỉ có 1 cái phản dùng để làm giường, ngoài ra không có cơ sở
vật chất gì thêm.
+ Các phòng trọ ở đây sử dụng chung một công trình phụ.
+ Các phòng trọ ở đây thường được xây dựng rất thô sơ, kiến trúc không đẹp,
phần nhiều mang tính chất tạm bợ, vào mùa hè thì nóng (phòng nào không có cửa sổ
thì rất ngột ngạt ), mùa mưa có những nơi còn bị dột.
 Giá cho mỗi phòng là: 200.000->250.000 đ/tháng đối với phòng 8m
2
, 300.000 -
>350.000 đ/tháng đối với phòng 12m
2
.
 Điện nước ở đây được dùng thoải mái nhưng tuỳ từng nơi mà mức giá tính
cũng có sự khác nhau. Thường là 1000->1500đ/1 số điện, 2200đ/m
3
nước (tính cho
trước kia) và bây giờ là 2800đ/m
3

Số lượng loại này ít chỉ chiếm 5% tổng số sinh viên đi thuê nhà bên ngoài. Đặc
điểm của nó là:
 Chủ nhà thường là những người có nhiều hơn 1 nhà do đó họ ở một nhà và một
nhà cho thuê; Hoặc chủ nhà là những người mua nhà nhưng không ở do phải đi công
tác, học tập xa nhà; Hoặc những nhà đang trong diện giải toả chờ ngày giải toả, những
nhà đang đợi bán. Do đó, tuỳ mục đích cho thuê của chủ nhà mà tính chất ổn định của
những nhà thuê này cũng khác nhau. May mắn thì sinh viên sẽ thuê được những ngôi
nhà ổn định lâu dài nhưng nhiều thì cũng chỉ được 2 năm sau đó lại phải đi tìm nhà
mới.
 Diện tích những ngôi nhà hay căn hộ này cũng không cố định thường là 45-
>80m
2
, có khuôn viên cách biệt giữa các phòng nên rất tiện lợi cho sinh hoạt hàng
ngày. Hơn nữa do họ xây nhà với mục đích để ở là chính chứ không phải cho thuê nên
nhà được xây dựng chắc chắn và đẹp.
 Nhà thuê này thường phân tán ở các nơi, không tập trung cụ thể ở đâu.
 Đối tượng thuê nhà loại này thường là các sinh viên quen biết và thân thiết
nhau từ trước. Có 5 ->6 người họ muốn ở chung với nhau và những sinh viên này có
điều kiện kinh tế không khó khăn cho lắm.

25

 Giá của những căn hộ hay ngôi nhà kiểu này thường từ 800.000 -
>1.200.000đ/tháng.
 Giá điện nước được tính theo giá hộ gia đình sử dụng chứ không phải theo giá
điện nước kinh doanh như ở các khu nhà dãy.
 Các sinh viên này sống tự giác là chính, không chịu sự quản lý của chủ nhà, chỉ
bị quản lý bởi chính quyền địa phương nơi sinh viên thuê trọ.
Ưu điểm của loại nhà này:
+ Giá cả điện nước thấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status