LUẬN VĂN: Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Quảng Nam hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa ở
tỉnh Quảng Nam hiện nay

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển của đất nước, vấn đề nông nghiệp - nông thôn - nông
dân có vị trí đặc biệt. Các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng
đều xác định quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn. Giải quyết tốt vấn

của văn hóa đương đại trong việc kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc.
Xây dựng làng văn hóa là sự kế thừa và phát triển làng - xã Việt Nam trong điều
kiện mới phù hợp với sự tiến bộ văn hóa xã hội. Làng là cái nôi văn hóa được ví như tấm
gương phản chiếu sinh động nhất truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc: chủ nghĩa yêu
nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, thuần phong mỹ tục, mối quan hệ xóm giềng, mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tất cả kết thành tinh hoa văn hóa và bản lĩnh
văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa bởi các thế lực xâm lược đô hộ. Tinh hoa ấy cần
được phát huy mạnh mẽ biến thành động lực tinh thần cho công cuộc xây dựng làng văn
hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở nông thôn, làm nền tảng cho việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Làng văn hóa chính là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng và phát triển các giá trị đạo
đức, tình cảm, lối sống của cộng đồng Và đây cũng chính là mảnh đất có khả năng tiềm
tàng trong việc ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng văn hóa tiêu cực đã và đang tác
động dữ dội đến mọi mặt của đời sống xã hội và gây ra những thay đổi đáng kể trong thang
giá trị xã hội ở thời điểm hiện nay.
Mặt trái của kinh tế thị trường đang có nguy cơ phá vỡ những giá trị văn hóa
truyền thống. Bản sắc văn hóa dân tộc có những lúc, những nơi bị xâm hại bởi các sức mạnh
ghê gớm của nó như: chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng Kinh tế thị trường phát triển,
lũy tre làng không còn là vành đai cát cứ. Nhưng tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa, "phép
vua thua lệ làng", tệ cường hào ở nông thôn lại trỗi dậy. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến
sự xáo trộn các mối quan hệ trong làng và giữa các làng, làm nảy sinh hàng loạt vấn đề về ý
thức đoàn kết cộng đồng, diện mạo văn hóa, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Cơ chế thị trường đang len lỏi vào những miền quê xa xôi nhất và có nguy cơ phá
vỡ nét thanh bình của làng - xã xa xưa. "Cây đa, bến nước, sân đình"- hình ảnh tiêu biểu của
làng quê đang có dấu hiệu bị biến dạng. Các tệ nạn xã hội đang có cơ hội và điều kiện
chuyển dịch về nông thôn. Ma chay, cưới xin vẫn có xu hướng quay lại với tập tục rườm
rà, tốn kém, xen lẫn cả mê tín dị đoan
Chính vì vậy, việc xây dựng làng văn hóa là nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị
của văn hóa làng, phát huy tính tích cực của nó. Văn hóa làng vừa là kết quả hoạt động của

ở những công trình trên, các tác giả đã bàn về văn hóa tinh thần và văn hóa vật
chất ở làng xã. Nhiều tác giả đã đề cập đến hội làng, nếp sống, phong tục, tôn giáo, sân
khấu dân gian, văn hóa nghệ thuật dân gian Một số chuyên luận không những có ý kiến
nhận xét về di sản của làng xã, về các mặt kinh tế - xã hội, văn hóa; mà còn nêu lên những
điểm tích cực và cả những tiêu cực của làng xã trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Tuy nhiên, đối với tỉnh Quảng Nam đây là vấn đề tương đối mới vì cuộc vận
động xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam mới được phát động vào ngày 12/7/1997 với
Chỉ thị 04/CT-TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy. Do vậy, đến nay chưa có công trình
nghiên cứu nào mang tính hệ thống dưới dạng một luận văn khoa học giải quyết một cách
thỏa đáng các vấn đề giữa lý luận và thực tiễn xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về văn
hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng làng văn hóa trong xu thế phát triển
toàn diện ở nước ta nói chung và ở Quảng Nam nói riêng; đề xuất những phương hướng
và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam
trong bối cảnh CNH, HĐH đất nước.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Xác định rõ khái niệm văn hóa làng và làng văn hóa làm cơ sở lý luận chung
cho toàn bộ luận văn.
- Khảo sát các làng văn hóa ở Quảng Nam, tiến hành phân loại và rút ra những
đặc trưng của văn hóa làng và làng văn hóa Quảng Nam.

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh cuộc vận
động xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam hiện nay.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Xây dựng làng văn hóa là một nội dung lớn trong sự nghiệp chung của Đảng và Nhà
nước ta trong bối cảnh hiện nay, do đó có rất nhiều vấn đề mới cần đi sâu nghiên cứu. Tuy
nhiên trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ văn hóa, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những
vấn đề lý luận về văn hóa làng và làng văn hóa (chủ yếu tập trung nghiên cứu làng người
Việt - đại diện tiêu biểu nhất của làng Việt Nam); phân tích thực trạng xây dựng làng văn

Chương 3: Thực trạng công tác xây dựng làng văn hóa và phương hướng, giải
pháp đẩy mạnh công tác xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam hiện nay.
Chương 1
Một số vấn đề lý luận
về văn hóa làng và làng văn hóa

1.1. Quan niệm về văn hóa
Thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX trong lịch sử nhân loại cũng là sự kết thúc của
Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997) nhằm thực hiện Nghị quyết 41/87 ngày
9/12/1986 của Liên hợp quốc. Điều đó chứng tỏ sự quan tâm của cả nhân loại ở thế kỷ cuối
cùng của thiên niên kỷ thứ hai đối với văn hóa đã phát triển rất sâu và rộng.
Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa đã thâm nhập vào đời sống xã hội một
cách sâu sắc, làm thay đổi nhận thức của con người trong các hướng tiếp cận mới phù hợp
với xu thế phát triển của khoa học công nghệ. Văn hóa đã và đang trở thành đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn. Từ đó tạo ra những bước ngoặt
quan trọng trong việc hình thành khung lý thuyết mới trên nhiều lĩnh vực có liên quan đến
văn hóa - xã hội.

Khái niệm văn hóa, theo nhà ngôn ngữ học người Đức W. Vun-đơ (W.Wundt)
bắt nguồn từ một động từ tiếng La Tinh "Colere" và sau chuyển thành "Cultura" với
nghĩa là cày cấy, vun trồng. Trong sự vận động của ngôn ngữ, "Cultura" chuyển nghĩa từ
trồng trọt cây cối sang hàm nghĩa trồng trọt tinh thần, trí tuệ; gắn bó với con người dưới
dạng thức mới, được biểu hiện trong mô thức phức tạp hơn song lại hàm chứa nội dung
sâu sắc hơn so với nghĩa ban đầu của nó.
Quan niệm về văn hóa được E.B. Tylor đề cập trong công trình "Văn hóa nguyên
thủy" (1871) trở thành định nghĩa đầu tiên về đối tượng nghiên cứu của văn hóa. Theo
ông, "văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung bao gồm tri
thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói
quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [92, tr.
13],

[24, tr. 10] là sự phát triển các quan niệm về văn hóa của Đảng ta nhằm xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở
thành là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay.
Như vậy, điểm thống nhất trong những quan niệm trên là đều xem lao động sáng
tạo là cội nguồn của văn hóa. Và, chính văn hóa đã đem lại cho con người khả năng suy
xét về bản thân, làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt mang tính nhân bản
sâu sắc, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có lý trí và tình cảm trong khát
vọng vươn tới chân - thiện - mỹ. Và cũng chính nhờ văn hóa mà con người thể hiện được
phẩm chất, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án "chưa hoàn thành",
đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những "ý nghĩa
mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân mình" [95, tr. 5-6].
Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa
hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người,
nhà nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn bộ sáng
tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, được đúc kết
thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng
xử văn hóa của cộng đồng người. Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản

sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat
động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy" [102, tr. 43].
Hoạt động sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người là nhằm hình
thành nên các giá trị văn hóa để từ đó cộng đồng người nói chung và mỗi con người nói
riêng soi vào nó để chiêm nghiệm, đối chiếu và phấn đấu để đạt được những chuẩn mực
giá trị cần thiết mà mỗi cá nhân, gia đình, xã hội đòi hỏi. Vì vậy, có thể hiểu: Văn hóa là
quá trình vận động đặc biệt làm biến đổi liên tục và sâu sắc đến năng lực sáng tạo của
cá nhân và cộng đồng nhằm ngày càng hoàn thiện nhân cách và xã hội, vươn tới sự
thống nhất cao giữa mỗi cá nhân - gia đình - cộng đồng làng xã và toàn xã hội vì sự tồn
tại và phát triển tiến bộ của con người và xã hội.
1.2. Quan niệm về văn hóa làng

cuộc sống của người dân Việt Nam. Lũy tre, cây đa, giếng nước, sân đình là những biểu
tượng đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người Việt Nam.
Làng Việt ra đời vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và hình
thành xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên, tức vào khoảng thiên niên kỷ thứ I Tr. CN.
Đó là công xã nông thôn thuộc loại hình á châu mà đặc trưng cơ bản của nó là toàn bộ
ruộng đất thuộc quyền sở hữu công xã và công xã đem phân chia cho các gia đình nhỏ
cày cấy. Gia đình nhỏ là đơn vị sản xuất, có nhà cửa, vườn ở và công cụ lao động riêng,
có quyền hưởng sản phẩm lao động do mình làm ra, nhưng không có quyền sở hữu ruộng
đất.
Công xã là tập hợp một số gia đình nhỏ sống quây quần trong một khu vực địa lý
nhất định, gắn bó với nhau trong quan hệ láng giềng. Bên trong công xã, bên cạnh quan
hệ láng giềng, quan hệ huyết thống được bảo tồn lâu dài dưới hình thức họ. Mỗi công xã
có thể có một họ, nhưng thường gồm nhiều họ. Mỗi họ bao gồm những gia đình cùng
huyết thống tính theo hệ thống phụ hệ, được coi là con cháu cùng tổ tiên và cấm lấy nhau.
Chế độ sở hữu ruộng đất của công xã cùng với quan hệ láng giềng và quan hệ
huyết thống đã tạo nên sự gắn bó chặt chẽ của các thành viên của cộng đồng và sự tồn tại

bền vững của công xã. Trong tiếng Việt, những công xã nông thôn đó được gọi là chạ, kẻ,
chiềng và sau được gọi phổ biến là làng.
Như vậy, làng là một tổ chức quần cư tự nhiên của những người dân Việt, là nơi
những người dân Việt sống và đoàn kết với nhau chống thiên tai, địch họa, để lao động,
sản xuất và tổ chức đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Làng là nơi thỏa mãn hầu hết
những nhu cầu cơ bản của mỗi người dân. Làng có giới hạn lãnh thổ và môi trường văn
hóa - tín ngưỡng xác định.
ở giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tiến hóa của người Việt, Làng là nơi cư trú của
một dòng họ - Đó là giai đoạn làng công xã thị tộc. Những dấu vết về sự tổ chức làng
theo huyết thống như vậy còn lưu giữ đến ngày nay trong các tên gọi cổ xưa của làng
như: Đặng xá, Ngô xá, Đỗ xá, Trần xá, Nguyên xá, Châu xá, Lê xá Trong đó, "xá" có
nghĩa là nơi ở.
Giai đoạn tiếp theo trong quá trình tiến hóa của làng Việt là giai đoạn làng - công

khai thác thuộc địa đã tác động đến làng Việt và làm làng Việt ít nhiều biến đổi. Nhưng cho
đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản làng Việt vẫn chưa ra khỏi giai
đoạn tiểu nông công tư điền lạc hậu của mình.
Các di chỉ khảo cổ thuộc thời văn minh Đông Sơn cho biết, kiểu làng co cụm trên
những gò đồi giữa miền đồng bằng là kiểu làng xuất hiện sớm và phổ biến nhất. Khi tiến
xuống miền đồng bằng, hệ thống đê điều trị thủy - thủy lợi chưa hình thành khiến người
Việt cổ phải chọn chỗ cao ráo trên các triền đồi, gò nhỏ làm nơi trú ngụ. Hơn nữa, kiểu
làng đó có thế phòng thủ, tiện lợi cho việc chống lại các cuộc tiến công từ bên ngoài vào
khi nền an ninh chưa được đảm bảo. ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần
lớn các con sông đều lên xuống thất thường, nên chỉ sau khi hệ thống đê điều trị thủy đã
khá hoàn chỉnh thì kiểu làng trải dọc theo bờ sông, bờ kênh mới hình thành. Kiểu làng
này trở nên phổ biến hơn sau khi nền an ninh chung đã được đảm bảo bởi quốc gia - nhà
nước. Mãi đến thời cận đại, khi các đô thị cùng hệ thống giao thông đường bộ, đường
thủy đã khá phát triển, khi kinh tế hàng hóa đã xâm nhập và phát triển trong nông thôn,
thì kiểu làng bố trí ở các đầu mối giao thông, các ngã tư, trải dài dọc theo các lộ giao
thông, mới xuất hiện và phát triển. Dọc theo miền duyên hải, có các làng chài co cụm

trên các cồn cát, trên những doi đất ven cửa sông và ven biển, với lối quần cư chật chội
hơn do tính chất của nghề chài lưới.
Một loại làng không phổ biến nhưng khá độc đáo là làng thủy cơ hay còn gọi là
làng vạn chài. Về mặt hình thể thì làng thủy cơ được thành lập trên mặt nước gồm những
chiếc thuyền - nhà của những người làm nghề chài lưới hay chở đò. Làng thủy cơ chưa
bao giờ độc lập về mặt hành chính, mà bao giờ nhà nước cũng ghép nó vào một làng khác
ở trên cạn để quản lý và thu thuế. Về cơ bản, cách thức tổ chức và sinh hoạt cộng đồng
của làng thủy cơ cũng tương tự như các làng Việt khác ở trên cạn.
ở nước ta, cho đến ngày nay, làng thuần nông vẫn chiếm một tỷ lệ áp đảo. Tuy
nhiên, do dân số tăng nhanh, bình quân ruộng đất trên đầu người ngày càng giảm, kỹ
thuật canh tác ngày càng tiến bộ, nên sản xuất nông nghiệp ngày càng tốn ít thời gian
hơn. Vì vậy, các gia đình nông dân có khá nhiều thời gian nhàn rỗi để làm việc khác
ngoài việc trồng trọt. Thực tế cho thấy lưọng thời gian này chủ yếu được dùng để làm các

khoảng 80% dân số và sống trong các làng gọi là ấp. ấp Nam Bộ không hoàn toàn giống
với làng ở miền Bắc: không có hoặc có rất ít ruộng đất công, các quan hệ xóm ấp và luật
tục không phức tạp và chặt chẽ, nên quan hệ giữa người với người thoáng hơn, rộng rãi
hơn. Cư dân có thể dễ dàng di chuyển từ ấp này qua ấp khác để làm ăn, ít phân biệt chính
cư và ngụ cư. Cuộc sống ở ấp Nam Bộ không khép kín. Trong điều kiện kinh tế hàng
hóa, giao thương phát triển, người dân Nam Bộ dễ chấp nhận cái mới, dễ hòa nhập hơn
vào các cộng đồng. Văn hóa của ấp Nam Bộ về cơ bản là văn hóa tổng hợp hài hòa của
cả toàn cộng đồng cư dân miền Nam Bộ, trên cơ sở truyền thống văn hóa Việt Nam. Tất
cả những điều đó đều được phản ánh trong ý thức của người dân ấp Nam Bộ nói chung
và tâm lý cộng đồng ở đây nói riêng.
Như vậy, việc chọn đơn vị làng làm cơ sở xây dựng nông thôn mới theo định
hướng XHCN, chính là chúng ta đã trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc trong ý nghĩa
chân chính của nó. Chúng ta không chỉ tôn trọng những di sản văn hóa của quá khứ mà
còn biết phát huy những giá trị truyền thống của cha ông phục vụ cho sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
Văn hóa làng là một môi trường văn hóa tiềm ẩn nhiều sắc thái, bao quát gần như
toàn bộ những giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc. ở đó, các thành tố, các giá trị văn hóa

dân tộc được sinh thành, lưu giữ và trao truyền tới mỗi cá thể và cả cộng đồng từ thời đại
này sang thời đại khác như một dòng chảy không ngừng.
1.2.2. Quan niệm về văn hóa làng
Văn hóa làng, hàm chứa nhiều nội dung rất phong phú và đa dạng, tạo nên bức
tranh đa sắc của văn hóa dân tộc. Có thể coi văn hóa dân tộc Việt Nam là một đại lượng lớn
được tạo nên bởi văn hóa làng - những đại lượng nhỏ. "Văn hóa làng xã Việt Nam có vị
trí quan trọng trong diễn trình lịch sử phát triển của văn hóa dân tộc. Nó luôn luôn bảo
tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng sức sống trường tồn của văn hóa dân
tộc" [31, tr. 7].
Văn hóa làng Việt Nam qua hàng ngàn năm phát triển với các bản sắc có giá trị
thực sự là một nền văn hóa của nhân dân và trở thành bộ phận ổn định nhất của văn hóa
dân tộc.

Khi đưa ra quan niệm về văn hóa làng không thể không khẳng định tính truyền
thống của nó. Nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân đã nhấn mạnh: "Trong nội dung văn hóa
làng, chúng tôi rất lưu tâm đến tính chất truyền thống. Nói truyền thống ở đây, không nên
hiểu đơn giản là những cái thuộc về quá khứ, xa xưa và do đó đi đến chỗ cho rằng, nó
trở nên lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với hiện tại mà chính là những cái đã được
thử thách qua thời gian, là chuẩn mực toàn thể cộng đồng đã lựa chọn, bảo lưu, giữ gìn
và phát triển nó. Mọi sự vận động bao giờ cũng tuân theo quy luật. Mà khi nói đến quy
luật, tức là phải có sự lặp đi lặp lại. Không như xưa kia con người cần phải có nhân
nghĩa, phải "uống nước nhớ nguồn" còn bây giờ chúng ta không cần những thứ đó "
[63, tr. 33]. Điều đó khẳng định rằng, tính truyền thống tức là những giá trị có tính ổn
định, những cái thuộc quy luật, xưa cũng như nay, cần được bảo vệ và trách nhiệm là
phải phát huy nó, "làm cho nó ngày một đa dạng và phong phú tốt đẹp hơn" [31, tr. 8].
Tổng thể những giá trị của văn hóa làng được biểu hiện qua hàng loạt các nhân tố
vừa biểu hiện vừa trầm tích, vừa dễ bắt gặp vừa ẩn chứa trong mình chúng sự khúc xạ phong
phú và đa dạng. Chính vì thế, chúng ta có thể có nhiều cách tiếp cận để phác họa được cấu
trúc của văn hóa làng. Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận văn hóa làng thông qua sự
biểu hiện của các thành tố.

Thành tố đầu tiên - nổi bật nhất cần đề cập đến trong văn hóa làng chính là thái
độ nghiêm túc, cầu tiến trong việc tạo ra môi trường học tập thuận lợi cho con cháu trong
làng.
Sự ra đời những lớp học, trường học do làng đứng ra thành lập và do một người
có học vấn - hoặc là thành viên của làng hoặc được mời từ nơi khác đến để dạy bảo cho
con cháu trong rất nhiều làng để cho chúng biết làm người, biết ăn ở có nghĩa, có tình, có
nhân, có đức đã in đậm tính nhân bản trong văn hóa làng.
Trình độ học vấn của làng này so với làng khác được thể hiện qua số người đi
học và đỗ đạt, trở thành ông nghè, ông cống và những lễ đón họ vinh quy như những
ngày hội tưng bừng náo nhiệt của cả làng. Đây là một nội dung in đậm bản sắc văn hóa
của làng Việt.
Làm nông nghiệp với trình độ kỹ thuật thô sơ như thời trước thì cần có nhiều

liền với cộng đồng dân tộc, chè chén say sưa dịp tết chỉ làm thỏa mãn thể xác. Muốn
vươn đến tương lai, con người phải đứng vững trên cơ sở quá khứ. Nhân hư đạo bất hư.
Đến đình làng, nào chỉ vì mến mộ, quen thân với những người phụ trách tế lễ, họ có đức
hạnh thì ta tôn trọng, bằng không thì ta bỏ qua. Ta muốn làm trọn phận sự của con người
trước đất nước và vũ trụ, trong hệ thống Thiên, Địa, Nhân, lắm khi linh cảm nhưng
không lý luận được, để rồi lo làm ăn, buôn bán" [60, tr. 22-23].
Triết lý này hướng con người tới thực hiện cái thiện. Và thông qua đó con người
suy ngẫm về quá khứ nhằm mục đích "lo làm ăn, buôn bán" ở
hiện tại.
Trong tổng thể văn hóa làng, đời sống văn hóa tinh thần luôn được duy trì và có
khả năng thâm nhập vào mọi ngõ ngách sâu thẳm của mỗi con người. Đó là những buổi,
những đêm hát đối của những thành viên của phường nón, phường vải, là những cảnh
nông dân vừa làm cỏ lúa, vừa hát cò lả, hát ví, hát trống quân, vừa chèo thuyền trên sông
vừa hò hụi, vừa kéo gỗ, vừa dô ta. Sinh hoạt văn hóa làng có tác dụng một mặt làm đẹp,
làm vui, làm trẻ cho cả cộng đồng làng và những hoạt động chủ đạo của nó. Song mặt
khác, tính chất cộng đồng của văn hóa làng thể hiện là một nền văn hóa chưa được tách
phân, chưa được chuyên môn hóa. Nó hòa quyện, đan xen vào các lĩnh vực khác trước
hết là hoạt động sản xuất vật chất, chứ không phải là sản xuất tinh thần với đầy đủ ý

nghĩa của khái niệm này. Những người tham gia biểu diễn, diễn xuất chính là những
người dân trong làng lấy sản xuất nông nghiệp làm công việc chủ đạo. Sinh hoạt văn hóa
cũng chỉ là một dạng "hoạt động kép" mang tính chất bổ sung chứ chưa phải là một công
việc chuyên nghiệp. Những người tham gia các phường, các hội có liên quan đến sinh
hoạt văn hóa cũng vẫn là những người dân trong làng. Hát xoan, hát chèo, hát tuồng, tế
lễ, rước sách, chạy cờ, đánh trống, khiêng kiệu cũng vẫn là những người nông dân "một
nắng hai sương", chân lấm tay bùn" Kỹ năng, kỹ xảo nổi bật ở họ là cầy cấy, gặt hái,
trồng tỉa chứ chưa phải là hát hay, múa giỏi, diễn tài.
Sinh hoạt mang tính hoành tráng nhất, sinh động nhất ở làng chính là hội làng.
Với ngày hội làng, cái đẹp của lời ăn tiếng nói, cái đẹp của khuôn mặt, của quần áo mới có
dịp được bộc lộ, những khác biệt vừa tinh tế, vừa sắc sảo của cá nhân mới có dịp được phô

và cách điệu, lại vừa phản ảnh những nếp nghĩ, nếp cảm của một tâm hồn bình dị, hồn
nhiên gắn kết với nhau và gắn kết với cuộc sống đời thường. Tính chất bình dị, tự nhiên
còn được thể hiện cả trong việc chế tác các nhạc cụ mà người nông dân thường tự tay làm
lấy để sinh hoạt hát múa. Bộ kèn hơi, bộ gõ, mõ, thanh ba, bộ đàn dây, đàn tranh, đàn cò,
đàn nguyệt cũng đều được làm ra từ gỗ, tre, nứa, từ kim loại sẵn có trong tự nhiên.
Những sắc màu được sử dụng trong các làng làm tranh dân gian cũng là những gam màu
đẹp tự nhiên; là chất liệu lấy từ đất đá, cỏ cây, hoa lá. Màu xanh của mạ, màu vàng của
lúa, màu hồng của hoa sen và màu tím hoa sim được đưa vào tranh để vẽ nên đàn gà, đàn
lợn âm dương, những đám cưới chuột, vợ hứng dừa ý niệm và tính tưởng tượng, biểu
cảm và tư duy về đất trời, về hạnh phúc, về sự sinh sôi và phát triển, về nỗi đau và niềm
vui sướng của con người thấp thoáng sau những âm thanh và màu sắc đầy dáng vẻ tự
nhiên và dung dị. Tất vả đều xoắn xuýt, sum vầy, đoàn tụ trong sinh hoạt của cả cộng
đồng làng vừa thanh bình vừa dân dã.
Nghiên cứu văn hóa làng - văn hóa ngôn từ, văn chương truyền miệng, phong
tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo , nghiên cứu cơ cấu xã hội, môi trường xã hội
Việt Nam trong văn hóa Việt Nam, nhiều học giả cho rằng chính "chủ nghĩa gia tộc" là
cái giải thích tinh thần trọng đạo đức của người Việt Nam, là hệ quy chiếu của mọi giá
trị, chuẩn mực. Giá trị tiềm tàng của hệ quy chiếu này giúp để chúng ta phát huy và phát
triển những giá trị đạo đức mới trong thời đại ngày nay.

Trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa làng, hương ước là một thành tố không
thể thiếu được.
Mỗi làng - xã Việt Nam có một bản sắc riêng làm nên tính đa dạng phong phú,
nên hương ước cho chúng ta một bức tranh nhiều màu vẻ về sinh hoạt tại các làng xã Việt
Nam cổ. Một đặc trưng hiếm thấy là, trong số lượng lớn hương ước (một số đã xuất bản
thành sách, lưu trữ ở Viện Hán Nôm và Viện Thông tin khoa học xã hội) thì hương ước
của mỗi làng xã không bao giờ trùng lặp nhau về nội dung. Mỗi hương ước đều ẩn chứa
tính đa dạng, tính linh hoạt, tính đặc trưng trong tâm tính người Việt ở mỗi vùng đất khác
nhau. GS Đinh Gia Khánh cho rằng, hương ước "là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến
tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong

tính chủ quan của con người mà nội dung của nó bao hàm sự toàn vẹn về mọi mặt trên
cơ sở những đặc điểm tích cực nhất. Về mặt lý thuyết, nếu như văn hóa làng còn có thể
tồn tại những mặt hạn chế thì làng văn hóa phải được hiểu hoàn toàn ngược lại" [63, tr.
44].
Xây dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, lành
mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nông dân, có hệ
thống chính trị vững mạnh, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, tăng cường đoàn
kết và ổn định trong nông thôn, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an
ninh cần phải đặc biệt chú trọng đến nội dung xây dựng làng văn hóa. Bộ Văn hóa - Thông
tin mà trực tiếp là Cục văn hóa Thông tin cơ sở đã đưa ra 4 tiêu chuẩn để công nhận làng văn
hóa là:
"Một làng (thôn, bản, ấp) được công nhận là làng văn hóa cần phải phấn đấu
thực hiện các tiêu chuẩn sau:
a) Có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển.
b) Có đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú.
c) Có môi trường cảnh quan sạch đẹp.
d) Thực hiện tốt pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước" [39, tr. 66].

Trên cơ sở các tiêu chí lớn nói trên của Bộ Văn hóa - Thông tin, theo chúng tôi,
một làng văn hóa được xây dựng trên cơ sở đảm bảo các nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất kinh doanh phát triển, đời
sống nông dân ngày càng được nâng cao.
Đây là nhân tố hàng đầu để huy động rộng rãi nhân dân tham gia cuộc vận động
xây dựng làng văn hóa. Căn cứ vào điều kiện cụ thể và thế mạnh của từng nơi, các cấp ủy
Đảng và chính quyền cần xác định cơ cấu kinh tế của địa phương mình cho phù hợp.
Trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, từng địa phương tiến hành chỉ đạo
các ngành, các cấp khai thác triệt để các nguồn lực, quyết định cơ cấu vốn đầu tư và động
viên nhân dân ra sức phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng từng bước tạo ra cơ cấu
kinh tế hợp lý, tạo ra nguồn lực mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.

Khác với công chức Nhà nước, cán bộ xã có sự kết hợp chặt chẽ cả
bốn yếu tố: người dân, người cùng họ hàng, người đại diện của cộng đồng và người đại
diện cho Nhà nước ở địa phương. Bốn yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung
đột nhau trong con người cán bộ xã, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải
quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân và cộng đồng.
Một thực tế đáng quan tâm là, cán bộ xã nói chung chưa được đào tạo cơ bản về
văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ. Hầu hết cán bộ trưởng thành trong số những thanh niên
"không thoát ly được", hoặc là bộ đội xuất ngũ và một số ít cán bộ Nhà nước đã nghỉ
hưu. Do vậy, trình độ kiến thức và năng lực công tác còn yếu về nhiều mặt. Số cán bộ cơ
sở có trình độ văn hóa dưới phổ thông cơ sở chiếm khoảng 50%, trong đó ở một số nơi
(vùng sâu, vùng xa) còn một số cán bộ mới thoát nạn mù chữ, cá biệt có cán bộ chưa đọc
thông, viết thạo. Do vậy, năng lực tổ chức các hoạt động còn lúng túng chưa đáp ứng
được yêu cầu của thực tiễn. Mặt khác, đội ngũ cán bộ cơ sở ngày càng tăng làm cho bộ
máy quá cồng kềnh. Trong cả nước với 10.500 đơn vị cơ sở có tới trên 2 triệu cán bộ xã,

Trích đoạn Về tổ chức thực hiện xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam Xác định rõ yêu cầu, mục tiêu, tiêu chuẩn xây dựng làng văn hóa là biện pháp cơ bản của việc tổ chức xây dựng làng văn hóa Vận động nhân dân trao đổi, thảo luận qui ước văn hóa; hiểu và thực hiện qui ước là thực sự đi vào chiều sâu của công tác xây dựng làng văn hóa Phương hướng và mục tiêu tổng quát Về xây dựng thị xã văn hóa ở Quảng Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status