Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Quảng Nam hiện nay - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển của đất nước, vấn đề nông nghiệp - nông
thôn - nông dân có vị trí đặc biệt. Các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
VII, VIII, IX của Đảng đều xác định quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước phụ thuộc rất lớn vào quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp - nông thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp - nông thôn
và nông dân đã, đang và sẽ là bài toán then chốt tạo tiền đề cơ bản cho chúng
ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH. Với khoảng 80% dân số sinh
sống trên địa bàn nông thôn, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia
hay từng khu vực đều phải đặt nông nghiệp - nông thôn như một khu vực kinh
tế - xã hội trọng điểm và giàu tiềm năng, có tính quyết định đối với sự phát
triển. Trong bối cảnh này, nếu giải quyết tốt các vấn đề văn hóa ở nông thôn
chúng ta sẽ có những tiền đề và điều kiện cơ bản để giải quyết các vấn đề về
phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa khu vực, bởi phát triển văn hóa vừa là
mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương,
khu vực và cả nước.
Văn hóa phải được gắn kết với quá trình phát triển kinh tế - xã hội với
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động văn hóa ở nông
thôn phải có mục tiêu, nội dung, các biện pháp và bước đi thích hợp để thực sự
đóng vai trò là động lực và mục tiêu của sự phát triển nông nghiệp - nông
thôn. Đây là những vấn đề có tính chiến lược mà nếu giải quyết tốt sẽ là
những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho sự phát triển văn hóa, phát
triển kinh tế - xã hội ở nước ta nói chung và Quảng Nam nói riêng trong giai
đoạn sắp tới.
1
Cuộc vận động xây dựng làng văn hóa của Đảng và Nhà nước ta đã và
đang được phát động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển văn
hóa, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Nông thôn là một khu vực bao gồm hai thực thể xã hội cơ bản: làng -
xã và các thị tứ, thị trấn; trong đó làng xã là thực thể xã hội cơ bản, tiêu biểu

dụng...Kinh tế thị trường phát triển, lũy tre làng không còn là vành đai cát cứ.
Nhưng tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa, "phép vua thua lệ làng", tệ cường hào
ở nông thôn lại trỗi dậy. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự xáo trộn các mối
quan hệ trong làng và giữa các làng, làm nảy sinh hàng loạt vấn đề về ý thức đoàn
kết cộng đồng, diện mạo văn hóa, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội...
Cơ chế thị trường đang len lỏi vào những miền quê xa xôi nhất và có
nguy cơ phá vỡ nét thanh bình của làng - xã xa xưa. "Cây đa, bến nước, sân đình"-
hình ảnh tiêu biểu của làng quê đang có dấu hiệu bị biến dạng. Các tệ nạn xã
hội đang có cơ hội và điều kiện chuyển dịch về nông thôn. Ma chay, cưới xin
vẫn có xu hướng quay lại với tập tục rườm rà, tốn kém, xen lẫn cả mê tín dị
đoan...
Chính vì vậy, việc xây dựng làng văn hóa là nhằm bảo vệ và phát huy
các giá trị của văn hóa làng, phát huy tính tích cực của nó. Văn hóa làng vừa là
kết quả hoạt động của những con người ở làng, đồng thời là môi trường, động
lực làm cho từng thành viên trong cộng đồng làng giữ gìn những giá trị văn hóa
truyền thống và tiếp tục tạo ra những giá trị văn hóa tiên tiến. Và, chỉ khi đó
làng văn hóa mới thực sự khẳng định vai trò góp phần điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong cơ chế thị trường, làm động lực phát triển nông thôn ở nước ta hiện
nay.
3
Quảng Nam cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước đã và
đang thực hiện chủ trương xây dựng làng văn hóa. Cuộc vận động xây dựng
làng văn hóa ở Quảng Nam tuy mới được chú trọng từ khi tái lập tỉnh (1997),
song đã đóng góp một phần tích cực vào nhiệm vụ chính trị của địa phương,
được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình hưởng ứng. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện đã bộc lộ những vướng mắc về lý luận và thực tiễn, chưa
tạo ra được những mô hình đảm bảo chắc chắn và phù hợp với từng miền,
vùng dân cư, diện của phong trào còn hạn chế... Xác định tầm quan trọng và
tính bức thiết hiện nay của cuộc vận động xây dựng làng văn hóa, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu "Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa ở tỉnh

thực tiễn xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng làng văn hóa
trong xu thế phát triển toàn diện ở nước ta nói chung và ở Quảng Nam nói
riêng; đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh
công cuộc xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam trong bối cảnh CNH, HĐH
đất nước.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Xác định rõ khái niệm văn hóa làng và làng văn hóa làm cơ sở lý
luận chung cho toàn bộ luận văn.
- Khảo sát các làng văn hóa ở Quảng Nam, tiến hành phân loại và rút
ra những đặc trưng của văn hóa làng và làng văn hóa Quảng Nam.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh
cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở Quảng Nam hiện nay.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
5
Xây dựng làng văn hóa là một nội dung lớn trong sự nghiệp chung của
Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh hiện nay, do đó có rất nhiều vấn đề mới cần
đi sâu nghiên cứu. Tuy nhiên trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ văn hóa,
chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về văn hóa làng và làng
văn hóa (chủ yếu tập trung nghiên cứu làng người Việt - đại diện tiêu biểu
nhất của làng Việt Nam); phân tích thực trạng xây dựng làng văn hóa ở
Quảng Nam và đề xuất các phương hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục đẩy
mạnh việc xây dựng làng văn hóa và đời sống văn hóa cơ sở ở Quảng Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
5. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa làng và làng văn hóa.
- Phân tích cơ sở lý luận chung về xây dựng làng văn hóa trong thời
kỳ CNH, HĐH.

VỀ VĂN HÓA LÀNG VÀ LÀNG VĂN HÓA
1.1. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA
Thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX trong lịch sử nhân loại cũng là sự
kết thúc của Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997) nhằm thực hiện
Nghị quyết 41/87 ngày 9/12/1986 của Liên hợp quốc. Điều đó chứng tỏ sự quan
tâm của cả nhân loại ở thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai đối với văn
hóa đã phát triển rất sâu và rộng.
Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa đã thâm nhập vào đời sống xã
hội một cách sâu sắc, làm thay đổi nhận thức của con người trong các hướng tiếp
cận mới phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ. Văn hóa đã và
đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và
7
nhân văn. Từ đó tạo ra những bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành
khung lý thuyết mới trên nhiều lĩnh vực có liên quan đến văn hóa - xã hội.
Khái niệm văn hóa, theo nhà ngôn ngữ học người Đức W. Vun-đơ
(W.Wundt) bắt nguồn từ một động từ tiếng La Tinh "Colere" và sau chuyển
thành "Cultura" với nghĩa là cày cấy, vun trồng. Trong sự vận động của ngôn
ngữ, "Cultura" chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối sang hàm nghĩa trồng trọt
tinh thần, trí tuệ; gắn bó với con người dưới dạng thức mới, được biểu hiện
trong mô thức phức tạp hơn song lại hàm chứa nội dung sâu sắc hơn so với
nghĩa ban đầu của nó.
Quan niệm về văn hóa được E.B. Tylor đề cập trong công trình "Văn
hóa nguyên thủy" (1871) trở thành định nghĩa đầu tiên về đối tượng nghiên
cứu của văn hóa. Theo ông, "văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc
người học, nói chung bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật
pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm
lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [92, tr. 13],
Trong thế kỷ XX, những nhà nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đã
tiếp tục đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau. Theo kháo sát của PGS. Phan Ngọc, cho đến nay đã có trên

xã hội" [24, tr. 10] là sự phát triển các quan niệm về văn hóa của Đảng ta
nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành là nền tảng tinh thần của xã hội, là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu cao cả của
chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay.
Như vậy, điểm thống nhất trong những quan niệm trên là đều xem lao
động sáng tạo là cội nguồn của văn hóa. Và, chính văn hóa đã đem lại cho con
người khả năng suy xét về bản thân, làm cho chúng ta trở thành những sinh
9
vật đặc biệt mang tính nhân bản sâu sắc, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân
một cách có lý trí và tình cảm trong khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ. Và
cũng chính nhờ văn hóa mà con người thể hiện được phẩm chất, tự ý thức
được bản thân, tự biết mình là một phương án "chưa hoàn thành", đặt ra để
xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những "ý nghĩa
mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân mình" [95, tr.
5-6].
Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm
của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người,
nhà nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn
bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã
hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua
vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người. Hệ giá trị xã
hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó
có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat động của những con người
sống trong cộng đồng xã hội ấy" [102, tr. 43].
Hoạt động sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người là
nhằm hình thành nên các giá trị văn hóa để từ đó cộng đồng người nói chung
và mỗi con người nói riêng soi vào nó để chiêm nghiệm, đối chiếu và phấn
đấu để đạt được những chuẩn mực giá trị cần thiết mà mỗi cá nhân, gia đình,
xã hội đòi hỏi. Vì vậy, có thể hiểu: Văn hóa là quá trình vận động đặc biệt

nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp tự túc, mặt
khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông,
với gia đình - tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã
hội nông nghiệp ấy. Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai
11
nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ. Một mặt, làng có sức sống mãnh liệt; mặt
khác, xét về cấu trúc, làng là một cấu trúc động, không có bất biến. Sự biến đổi
của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của những mối
liên hệ làng và siêu làng" [81, tr. 130].
Làng Việt - một thực thể xã hội - dựa trên quan hệ láng giềng kết hợp
với quan hệ huyết thống, là môi trường sinh hoạt văn hóa - xã hội từ bao đời
nay đã gắn bó với cuộc sống của người dân Việt Nam. Lũy tre, cây đa, giếng
nước, sân đình... là những biểu tượng đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi
người Việt Nam.
Làng Việt ra đời vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thủy
và hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên, tức vào khoảng thiên
niên kỷ thứ I Tr. CN. Đó là công xã nông thôn thuộc loại hình Á châu mà đặc
trưng cơ bản của nó là toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu công xã và công
xã đem phân chia cho các gia đình nhỏ cày cấy. Gia đình nhỏ là đơn vị sản
xuất, có nhà cửa, vườn ở và công cụ lao động riêng, có quyền hưởng sản
phẩm lao động do mình làm ra, nhưng không có quyền sở hữu ruộng đất.
Công xã là tập hợp một số gia đình nhỏ sống quây quần trong một khu
vực địa lý nhất định, gắn bó với nhau trong quan hệ láng giềng. Bên trong
công xã, bên cạnh quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống được bảo tồn lâu
dài dưới hình thức họ. Mỗi công xã có thể có một họ, nhưng thường gồm
nhiều họ. Mỗi họ bao gồm những gia đình cùng huyết thống tính theo hệ
thống phụ hệ, được coi là con cháu cùng tổ tiên và cấm lấy nhau.
Chế độ sở hữu ruộng đất của công xã cùng với quan hệ láng giềng và
quan hệ huyết thống đã tạo nên sự gắn bó chặt chẽ của các thành viên của cộng
đồng và sự tồn tại bền vững của công xã. Trong tiếng Việt, những công xã

13
át được văn hóa Việt. Văn hóa Việt được bảo lưu, phát triển trong các làng.
Làng Việt không những là "cái nôi" nuôi nấng văn hóa Việt, mà còn là thành
trì vững chắc chống lại các cuộc xâm lăng và đồng hóa văn hóa.
Từ thế kỷ thứ X trở đi, làng Việt dần dần bị phong kiến hóa. Ruộng
đất của làng về mặt danh nghĩa trở thành ruộng đất của vua. Nhưng nó vẫn
được giao cho làng quản lý, phân phối cho dân cày cấy chủ yếu theo tục "lệ
làng" có tham khảo "phép nước". Trong quá trình phát triển, bên trong làng
phong kiến quá trình tư hữu hóa ruộng đất diễn ra ngày càng mạnh. Đến thế
kỷ XVII-XVIII thì ở phần lớn các làng ruộng đất tư đã lấn át ruộng đất công.
Phần ruộng đất công còn lại chỉ đủ để dành cấp cho binh lính, chức sắc hay
đấu thầu chi dùng cho các sinh hoạt cộng đồng. Cùng với quá trình tư hữu hóa
ruộng đất, quá trình phân hóa giai cấp, đẳng cấp và quá trình phong kiến hóa
các mặt đời sống của làng cũng diễn ra mạnh mẽ. Có thể gọi giai đoạn phát
triển này của làng là giai đoạn làng tiểu nông phong kiến công tư điền.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và chiếm đóng nước ta, chính
sách cai trị và khai thác thuộc địa đã tác động đến làng Việt và làm làng Việt ít
nhiều biến đổi. Nhưng cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ
bản làng Việt vẫn chưa ra khỏi giai đoạn tiểu nông công tư điền lạc hậu của
mình.
Các di chỉ khảo cổ thuộc thời văn minh Đông Sơn cho biết, kiểu làng
co cụm trên những gò đồi giữa miền đồng bằng là kiểu làng xuất hiện sớm và
phổ biến nhất. Khi tiến xuống miền đồng bằng, hệ thống đê điều trị thủy -
thủy lợi chưa hình thành khiến người Việt cổ phải chọn chỗ cao ráo trên các
triền đồi, gò nhỏ làm nơi trú ngụ. Hơn nữa, kiểu làng đó có thế phòng thủ,
tiện lợi cho việc chống lại các cuộc tiến công từ bên ngoài vào khi nền an
ninh chưa được đảm bảo. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phần
lớn các con sông đều lên xuống thất thường, nên chỉ sau khi hệ thống đê điều
14
trị thủy đã khá hoàn chỉnh thì kiểu làng trải dọc theo bờ sông, bờ kênh mới

khi giao lưu kinh tế trong và ngoài nước được mở rộng. Thông thường mỗi
làng nghề có một nghề thủ công chính và một số nghề phục vụ cho nghề
chính đó. Ngày nay, nghề thủ công ở các làng nghề bắt đầu được cơ khí hóa
và công nghệ hóa ở một số công đoạn. Nhưng tính chất thủ công và bí mật gia
truyền vẫn còn đóng một vai trò quan trọng.
Các làng buôn xuất hiện muộn hơn, khi nền kinh tế hàng hóa đã phát
triển ở mức độ khá. Trước đây, sự phát triển của các làng nghề, làng buôn bị
níu kéo bởi nhiều trở lực: từ chính sách trọng nông, ức thương, coi nghề nông
là nghề cơ bản ("dĩ nông vi bản") của nhà nước phong kiến đến tâm lý coi
thường thương nghiệp, kỹ nghệ cũng như truyền thống giữ bí mật nghề
nghiệp "gia truyền" một cách thái quá... Trong các làng nghề, làng buôn cách
tổ chức đời sống, lối sống, các sinh hoạt cộng đồng... đến cung cách làm ăn
vẫn còn in đậm dấu ấn của làng thuần nông. Mặc dù ở đó, so với làng thuần
nông, quan hệ kinh tế, lưu thông hàng hóa diễn ra mạnh hơn.
Từ đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ tiến vào phía Nam, người Việt
mang mô hình làng đến những vùng đất mới. Làng ở ba miền có nhiều nét
chung cơ bản. Tuy nhiên, do môi trường địa lý tự nhiên, văn hóa xã hội có
nhiều khác biệt và không gian ngăn cách, giao thông thủy bộ chưa phát triển...
nên làng ở phía Nam có nhiều nét khác biệt so với làng Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ. Chúng khác biệt trong kiểu bố trí, trong cách thức làm ăn, trong văn hóa,
lối sống, trong tổ chức cuộc sống và các sinh hoạt cộng đồng. Càng đi vào Nam,
tính cô lập, cách biệt giữa các làng càng giảm bớt. Làng miền Nam thường
trải dài theo các kênh rạch, đường giao thông, thuận lợi cho việc giao lưu trong
một vùng đất luôn có nền kinh tế hàng hóa khá phát triển. Ở Nam Bộ, người
Việt chiếm khoảng 80% dân số và sống trong các làng gọi là ấp. Ấp Nam Bộ
16
không hoàn toàn giống với làng ở miền Bắc: không có hoặc có rất ít ruộng đất
công, các quan hệ xóm ấp và luật tục không phức tạp và chặt chẽ, nên quan hệ
giữa người với người thoáng hơn, rộng rãi hơn. Cư dân có thể dễ dàng di
chuyển từ ấp này qua ấp khác để làm ăn, ít phân biệt chính cư và ngụ cư.

cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của làng
với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động,
cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục, tập quán, tôn
giáo, tín ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những
đặc trưng riêng của nó" [63, tr. 16].
Xét tổng thể ở nước ta không có sự đối lập văn hóa giữa làng với làng,
giữa làng với nước. Mặc dù, giữa làng này với làng khác có nhiều nét khác
nhau trong tập quán, cả giọng nói song đó chỉ là sắc thái. Giao lưu văn hóa đã
làm cho văn hóa làng có nét chung, đồng dạng về tư tưởng, về tín ngưỡng, về
kiến trúc, điêu khắc, giáo dục và thẩm mỹ.... Từng khu vực cư trú có những
yếu tố, những sắc thái văn hóa khác nhau, vùng Nam Bộ khác vùng Bắc Bộ,
nhưng cấu trúc tổng thể văn hóa làng tương đối giống nhau. Chúng ta có thể
tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu Thu Linh, khi cho rằng: "Văn hóa
làng là một nền văn hóa thuộc về cộng đồng và mang tính chất cộng đồng.
Chủ thể làng, tập thể làng chính là tác giả, là người tạo dựng, sáng lập nên
nền văn hóa ấy. Ở Việt Nam, một làng với tư cách là một làng, được xác định
không chỉ qua địa bàn cư trú, hoạt động nghề nghiệp, lịch sử hình thành, kết
cấu kinh tế, quan hệ xã hội, mà còn qua cả sinh hoạt văn hóa có bản sắc riêng
của nó nữa" [51, tr. 110].
Do vậy, văn hóa làng là một trong những tiêu chí hàng đầu để xác
định và phân biệt diện mạo của làng này với làng khác. Người sáng tạo ra
những giá trị của văn hóa làng chính là những thành viên của làng. Họ chính
là những người vừa tham gia sáng tạo, vừa tổ chức thực hiện và cũng đồng
thời là người chiêm ngưỡng, hưởng thụ những giá trị văn hóa do chính bản
18
thân mình gây dựng nên. Chính vì vậy, tính nhân dân của văn hóa làng càng
được tô đậm ở tính chất cộng đồng, tính tập thể của nó. Làng là chủ thể tập
thể của văn hóa và thông qua văn hóa làng chúng ta có thể khám phá ra diện
mạo văn hóa chung của cả làng. Đây cũng chính là điều khá lý thú để phân
biệt làng này với làng khác nhằm khẳng định "cái ta" của làng mình. Sự

trong văn hóa làng.
Trình độ học vấn của làng này so với làng khác được thể hiện qua số
người đi học và đỗ đạt, trở thành ông nghè, ông cống và những lễ đón họ vinh
quy như những ngày hội tưng bừng náo nhiệt của cả làng. Đây là một nội
dung in đậm bản sắc văn hóa của làng Việt.
Làm nông nghiệp với trình độ kỹ thuật thô sơ như thời trước thì cần có
nhiều nhân lực. Gia tộc gồm nhiều người ở các thế hệ khác nhau trong một/
nhiều nhà, do đó có vai trò quan trọng hơn là gia đình hạt nhân. Các cụ trước
đây, và cả đến ngày nay, rất tự hào vì con đàn cháu đống, nhất là có đến bốn
thế hệ sống chung dưới một mái nhà (tứ đại đồng đường). Điều này phản ánh
hai sở nguyện lớn; ngoài việc có nhiều nhân lực để làm ruộng, còn có sở
nguyện làm cho con cháu kế tục nền nếp gia phong, khẳng định và làm rạng
danh tông tộc đến muôn đời. Dân gian có câu:
"Con nhà tông
không giống lông cũng giống cánh"
"Con hơn cha là nhà có phúc"
Đó là người ông, người bố muốn con cháu mình không chỉ là bản sao
chân thực của chính mình mà còn muốn nó không ngừng tiến bộ để làm rạng
danh cho tông tộc và để đời đời nối dõi tông đường. Quan hệ gia tộc là quan
hệ hàng dọc, tạo ra tính tôn ti nghiêm ngặt, khép kín. Dù về sau, khi đại gia
20
đình vỡ ra thành những gia đình hạt nhân thì ý thức gia tộc vẫn có một tác
động quan trọng trong nếp ứng xử của con người vốn sống với đồng ruộng.
Nhà thờ họ, giỗ họ là những nơi, những lúc các thành viên trong gia tộc có
dịp suy ngẫm sâu sắc về bản thân mình, tưởng nhớ đến công ơn, lời dạy của
các bậc tiên tổ để giữ gìn, kế tục và phát triển gia phong.
Trong tâm thức, người Việt luôn hướng về tổ tiên, những người có công
trạng đối với gia đình mình, làng mình, đất mình. Đình làng là nơi "linh
thiêng" nhất đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng người ở làng. Hướng đình,
vị trí, qui mô to nhỏ, kiểu cách kiến trúc của nó được xác định và xây dựng

lĩnh vực khác trước hết là hoạt động sản xuất vật chất, chứ không phải là sản
xuất tinh thần với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này. Những người tham gia
biểu diễn, diễn xuất chính là những người dân trong làng lấy sản xuất nông
nghiệp làm công việc chủ đạo. Sinh hoạt văn hóa cũng chỉ là một dạng "hoạt
động kép" mang tính chất bổ sung chứ chưa phải là một công việc chuyên
nghiệp. Những người tham gia các phường, các hội có liên quan đến sinh hoạt
văn hóa cũng vẫn là những người dân trong làng. Hát xoan, hát chèo, hát
tuồng, tế lễ, rước sách, chạy cờ, đánh trống, khiêng kiệu cũng vẫn là những
người nông dân "một nắng hai sương", chân lấm tay bùn"... Kỹ năng, kỹ xảo
nổi bật ở họ là cầy cấy, gặt hái, trồng tỉa chứ chưa phải là hát hay, múa giỏi,
diễn tài.
Sinh hoạt mang tính hoành tráng nhất, sinh động nhất ở làng chính là
hội làng. Với ngày hội làng, cái đẹp của lời ăn tiếng nói, cái đẹp của khuôn mặt,
của quần áo mới có dịp được bộc lộ, những khác biệt vừa tinh tế, vừa sắc sảo của
cá nhân mới có dịp được phô diễn trước cộng đồng. Và, cũng chỉ qua hội
22
làng, tất cả những gì còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc vừa phôi thai mới có dịp được
biểu hiện và thi thố. Đó chính là giọng hát bổng trầm trong những làn điệu
dân ca, là tài đối đáp; là tố chất nhanh nhẹn, mưu trí, dẻo dai trong những
cuộc thi cờ, đấu vật... Nếu ngày thường chúng được bộc lộ một cách thầm
lặng thì trong ngày hội làng được biểu hiện với tất cả dáng vẻ riêng và bản sắc
riêng.
Những đêm hội trống chèo róng rả, nhặt khoan cũng là tiếng gọi cư
dân các làng lân cận đến chia vui, thưởng thức lan tỏa ra khắp các làng quê.
Sân đình là nơi diễn ra lễ hội, ngoài phần tế lễ, chẳng bao giờ có ranh giới
phân chia đâu là chỗ của người làng mình, của dân làng lân cận. Tất cả đều
hòa đồng trong niềm vui lễ hội, trong niềm vui văn hóa hào hùng và rực sáng.
Vì thế, những hội mà ý nghĩa của nó vượt ra khỏi ranh giới của làng thì có
khả năng dần dần trở thành hội lễ của toàn quốc và được gọi là quốc lễ. Từ
những hội ban đầu xuất hiện ở một làng thuộc một địa phương và từ các vị

dương, những đám cưới chuột, vợ hứng dừa... Ý niệm và tính tưởng tượng,
biểu cảm và tư duy về đất trời, về hạnh phúc, về sự sinh sôi và phát triển, về
nỗi đau và niềm vui sướng của con người thấp thoáng sau những âm thanh và
màu sắc đầy dáng vẻ tự nhiên và dung dị. Tất vả đều xoắn xuýt, sum vầy,
đoàn tụ trong sinh hoạt của cả cộng đồng làng vừa thanh bình vừa dân dã.
Nghiên cứu văn hóa làng - văn hóa ngôn từ, văn chương truyền miệng,
phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo..., nghiên cứu cơ cấu xã hội,
môi trường xã hội Việt Nam trong văn hóa Việt Nam, nhiều học giả cho rằng
chính "chủ nghĩa gia tộc" là cái giải thích tinh thần trọng đạo đức của người
Việt Nam, là hệ quy chiếu của mọi giá trị, chuẩn mực. Giá trị tiềm tàng của hệ
24
quy chiếu này giúp để chúng ta phát huy và phát triển những giá trị đạo đức
mới trong thời đại ngày nay.
Trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa làng, hương ước là một thành
tố không thể thiếu được.
Mỗi làng - xã Việt Nam có một bản sắc riêng làm nên tính đa dạng
phong phú, nên hương ước cho chúng ta một bức tranh nhiều màu vẻ về sinh
hoạt tại các làng xã Việt Nam cổ. Một đặc trưng hiếm thấy là, trong số lượng
lớn hương ước (một số đã xuất bản thành sách, lưu trữ ở Viện Hán Nôm và
Viện Thông tin khoa học xã hội) thì hương ước của mỗi làng xã không bao
giờ trùng lặp nhau về nội dung. Mỗi hương ước đều ẩn chứa tính đa dạng, tính
linh hoạt, tính đặc trưng trong tâm tính người Việt ở mỗi vùng đất khác nhau.
GS Đinh Gia Khánh cho rằng, hương ước "là bản ghi chép các điều lệ liên quan
đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình
thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết" [44, tr. 62].
Hương ước gồm các điều hay qui ước về nhiều mặt của đời sống làng
xã như: cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội, sản xuất nông nghiệp và bảo vệ
môi trường, thờ cúng, khuyến học, bảo đảm nghĩa vụ với Nhà nước, bảo vệ an
ninh... Những qui ước đó được tuân thủ qua nhiều thế hệ, trở thành những
"thông lệ pháp lý" và là "cương lĩnh" về nếp sống của từng cộng đồng cư dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status