LUẬN VĂN: Những điểm mới cơ bản trong phần tài sản và quyền sở hữu của BLDS năm 2005 doc - Pdf 15

LUẬN VĂN: Những điểm mới cơ bản trong
phần tài sản và quyền sở hữu
của BLDS năm 2005
lời nói đầu

BLDS
(*)

quy định về tài sản và phân loại tài sản trong BLDS là cần thiết để phân biệt với tài sản
theo quan niệm thông thường. Theo quy định của BLDS thì tài sản gồm vật, tiền, giấy
tờ có giá và các quyền tài sản.
Quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra để điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tư liệu sản
xuất, tư liệu tiêu dùng.
Trong BLDS năm 1995 những quy định về tài sản và quyền sở hữu có bộc lộ một
số hạn chế nhất định. Trong các quy định về quyền sở hữu ngoài những quy định mang
tính nguyên tắc chung, chưa đầy đủ cụ thể, chưa thể đủ điều kiện phát huy tác dụng,
hiệu lực trong thực tế thì còn có những vấn đề chưa được quy định hoặc quy định chưa
phù hợp với thực tiễn xã hội. Để khắc phục những hạn chế đó BLDS năm 2005 đã có sự
sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước.
BLDS năm 2005, nội dung tài sản và quyền sở hữu được quy định tại phần thứ
hai gồm 7 chương (từ chương X đến chương XVI) với 117 Điều (từ Điều 163 đến Điều
279). Phần này có những quy định chung về quyền sở hữu (chương X), các loại tài sản
(chương XI), nội dung quyền sở hữu (chương XII, các hình thức sở hữu (chương XIII),
xác lập, chấm dứt quyền sở hữu (chương XIV), bảo vệ quyền sở hữu (chương XV),
những quy định khác về quyền sở hữu (chương XVI).
Trong phần này, có nhiều quy định được giữ nguyên như quy định của BLDS
năm 1995 như: chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài
sản của mình theo quy định của pháp luật. Đây là những quyền dân chủ cụ thể của chủ
sở hữu; ba quyền năng trên hợp thành nội dung của quyền sở hữu (Điều 164); theo pháp
luật, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng
không được gây thiệt hại hay làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 165); không ai có thể bị hạn chế, bị
tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình (Điều 169). Trong trường
hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia thì Nhà nước

của các chủ thể. Khi quyền sở hữu đã thuộc về một chủ thể thì về nguyên tắc, tất cả các
chủ thể khác phải thừa nhận, tôn trọng quyền sở hữu của chủ thể đó. Để mọi chủ thể,
mọi người biết về quyền sở hữu của mình thì phải có cơ chế công khai quyền này.
Nhiều nước trên thế giới trong vấn đề này có áp dụng hai cơ chế riêng (cho bất động sản
và động sản) như: đối với bất động sản: đăng ký là biện pháp công khai hoá các quyền
đối với nó. Đối với động sản: chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu.
ở Việt Nam nội dung quy định tại Điều 167 của BLDS năm 2005 là phù hợp với
thông lệ quốc tế. Đăng ký với bất động sản là biện pháp công khai hoá quyền sở hữu đó
là một cơ chế pháp lý nhằm làm cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, minh
bạch đảm bảo cho các chủ thể có sự an toàn khi tham gia vào giao dịch bất động sản
(hay thị trường bất động sản). Đây là một nguyên tắc rất cơ bản trong việc thực hiện
quyền sở hữu và một số quyền khác đối với bất động sản. Đối với "động sản" thì chiếm
hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu, chỉ trừ những trường hợp mà pháp luật có
quy định rõ phải đăng ký với loại tài sản đó. Ví dụ như: ô tô, xe máy chẳng hạn. BLDS
chỉ quy định khái quát như vậy, còn những vấn đề cụ thể như trình tự thủ tục đăng ký,
cơ quan đăng ký sẽ do luật khác quy định.
3. Về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168 BLDS năm
2005)
Điều 168 quy định:
1- "Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm
đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
2- "Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động
sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
Điều này có sự kế thừa các quy định của BLDS năm 1995 và phù hợp với các
văn bản pháp luật hiện hành (như luật đất đai) về nguyên tắc đăng ký. Đăng ký là điều
kiện làm phát sinh hiệu lực của chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên nguyên tắc này bị loại
trừ trong trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, nếu như trước đây vấn đề

đồng; nếu không thì chủ sở hữu phải chịu rủi ro.
6. Về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản (Điều 173)
Điều này được giữ lại nội dung như BLDS năm 1995 "Người không phải là chủ
sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của
mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định pháp luật (Khoản 1).
Điều này được bổ sung thêm 4 Khoản mới.
- Liệt kê các loại quyền của người không phải là chủ sở hữu với tài sản gồm:
quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề; các quyền khác theo
thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2).
- Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn
cứ để chấm dứt các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đó theo
quy định của Khoản 8 Điều này (Khoản 3).
- Các quyền đối với tài sản mà đã được quy định tại Khoản 2 Điều 173 được bảo
vệ theo cách thức bảo vệ quyền sở hữu (Khoản 4).
- Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký bao
gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo thoả thuận và
các quyền khác theo quy định của pháp luật.
7. Về bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu và của người chiếm hữu ngay tình
(Điều 169)
Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận
và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài
sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật. (Trừ trường hợp khác theo
Điều 169). Đây là nguyên tắc chung rất cơ bản trong việc bảo vệ của chủ sở hữu. Trong
một số trường hợp, tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình
được giải quyết như thế nào? Vấn đề này trong BLDS năm 1995 chưa được đề cập và

10. Về xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập (Điều 236)
Khoản 1 Điều 236 BLDS năm 2005 giữ nguyên quy định tại Khoản 1 Điều 224
BLDS năm 1995.
Khoản 2 Điều 244 BLDS năm 1995 được sửa đổi bổ sung thành 2 khoản (Khoản
2, 3) của Điều 236 BLDS năm 2005. Việc bổ sung, sửa đổi này cần thiết là vì: cần phân
biệt tài sản sáp nhập là động sản hay bất động sản để có cách thức xử lý cho phù hợp
công bằng.
11. Về xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm
thấy (Điều 240) và xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ
quên (Điều 241). Điều 240, 241 BLDS năm 2005 có hai điểm được sửa đổi so với Điều
248, 249 BLDS năm 1995.
Thứ nhất, về xác định giá trị của vật: giá trị của vật được xác định cụ thể để
thuận lợi hơn trong việc áp dụng pháp lụât (Khoản 2 Điều 240) xác định về thời hạn của
vật nhặt được (Khoản 2 Điều 241).
Thứ hai, nếu Điều 248, 249 BLDS năm 1995 quy định: vật được tìm thấy (hoặc
vật bị đánh rơi, bị bỏ quên) là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hoá thì thuộc Nhà nước;
còn theo quy định tại Điều 240, 241 BLDS năm 2005 thì bỏ cụm từ "cổ vật", có nghĩa là
cổ vật không chỉ thuộc sở hữu Nhà nước mà còn có thể thuộc sở hữu các chủ thể khác.
Phần thứ ba
kết luận

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng "tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý
thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội". BLDS năm 1995 đã khẳng định vai
trò, ý nghĩa của nó trong gần 10 năm mà đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng
trong lịch sử lập pháp Việt Nam. Xã hội sau 10 năm có nhiều thay đổi (tồn tại xã hội),
do đó việc thay thế BLDS năm 1995 (ý thức xã hội) bằng BLDS năm 2005, đặc biệt là
những nội dung được bổ sung, sửa đổi, thay thế, phát triển của phần thứ hai về "tài sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status