LUẬN VĂN:
Nguồn gốc của gia đình của chế
độ tư hữu và của nhà nước
đặc điểm chung của xã hội đó. Ph.Ăngghen giải thích đặc điểm của sự phát triển
những quan hệ gia đình ở các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, vạch rõ nguồn gốc
và bản chất của Nhà nước, ông chỉ ra quy luật tất yếu của sự phát triển của sản xuất,
của sự phát triển kinh tế là sẽ tiến tới một xã hội cộng sản văn minh trong đó chế độ
tư hữu, giai cấp và nhà nước không còn tồn tại. Chúng ta có thể khẳng định rằng đây
là một tác phẩm tuyệt vời của Ph.Ăngghen viết về gia đình, về chế độ tư hữu và về
nhà nước. Đánh giá về tác phẩm, Lênin đã viết: "Có thể tin vào từng câu, có thể tin
rằng mỗi một câu không phải được nói một cách lần lượt, mà được viết trên cơ sở
những đống tài liệu lịch sử và chính trị khổng lồ" [V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb
Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.67]. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu một số tác phẩm
kinh điển của Mác và Ăngghen tôi chọn tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế
độ tư hữu và của nhà nước" để nghiên cứu, tìm hiểu và viết tiểu luận cho môn học.
Trong nội dung tiểu luận viết về tác phẩm này sẽ phân tích về hoàn cảnh ra
đời, về những nội dung cơ bản của tác phẩm từ đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm và vận
dụng những giá trị của tác phẩm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Phần nội dung
2.1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Vào những năm của giữa thế kỷ 19 khi mà chưa có đủ những điều kiện để
giải thích được giai đoạn tiền sử của thời đại văn minh thì nhà Bác học Mỹ Luy xơ
hen ri Mooc gan đã viết tác phẩm "Xã hội thời cổ hay các cuộc khảo cứu những con
đường tiến bộ của loài người từ thời đại mông muội qua thời đại dã man đến thời đại
văn minh". Tác phẩm này làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử trước khi loài người
và 9 chương.
Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất, Ăngghen nêu rõ mục đích viết
tác phẩm là nhằm hoàn thành nhiệm vụ của Mác để lại, dùng công trình của Moóc
gan để chứng minh quan điểm duy vật lịch sử của hai ông. Ăngghen khẳng định
công lao của Moóc gan đối với khoa học, là tìm ra: "chìa khóa để mở những điều bí
ẩn hết sức quan trọng cho đến nay vẫn chưa giải đáp được của lịch sử Hy Lạp, La
Mã và Đức cổ đại" [Các Mác và Ph.ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Sự thật,
Hà Nội, 1995, tr.45].
Mặt khác, Ăngghen phê phán thái độ không đúng đắn của các nhà khoa học
đương thời vừa sử dụng kết quả khoa học, vừa dìm công lao, thành tích khoa học của
Moóc gan.
Trong lời tựa thứ hai viết cho lần xuất bản thứ 4 năm 1891, do trong tình
hình mới đã xuất hiện những công trình nghiên cứu các hình thức nguyên thủy của
gia đình đã đạt được những thành tựu mới nên Ăngghen đã giới thiệu kỹ hơn những
công trình này nhất là về lịch sử phát triển của gia đình của Bacophen, Maclenna
song Ăngghen vẫn khẳng định công lao đều thuộc Moóc gan. Trong lời tựa này,
Ăngghen đã làm rõ những điểm mà ông tán thành, những điểm mà ông chưa đồng ý,
những điểm mà ông phê phán Moóc gan do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách
quan của xã hội đương thời.
Chương 1:
Những giai đoạn văn hóa tiền sử Ăngghen viết về lịch sử loài người phát
triển qua các giai đoạn từ thấp đến cao từ thời đại mông muội, thời đại dã man đến
thời đại văn minh và sự phát triển ấy nó luôn gắn liền với sự phát triển của trình độ
lao động sản xuất. Ăngghen đã giới thiệu sự sắp xếp thời kỳ tiền sử của loài người
theo hệ thống của Moóc gan, qua đó nó đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh của xã
hội loài người đồng thời chỉ ra những hạn chế của Moóc gan trong cách phân kỳ
này. Chỉ ra nguồn gốc phát triển của xã hội loài người là do trình độ phát triển của
định nhà nước là một hình thức của giai cấp thống trị, bảo vệ quyền lợi của giai cấp
cầm quyền.
Chương 5: Sự ra đời của nhà nước A-ten và chương 6: Thị tộc và nhà nước ở
La Mã, Ăngghen đã phân tích về mặt lịch sử những biến đổi về xã hội trong xã hội
thị tộc dẫn tới sự hình thành và phát triển của nhà nước A-ten và Nhà nước La Mã,
phân tích hai phương thức hình thành nhà nước khác nhau. Nhà nước A-ten nảy sinh
chủ yếu và trực tiếp từ những sự đối lập giai cấp ngay trong nội bộ xã hội thị tộc,
một hình thức ra đời nhà nước thuần túy nhất, cổ điển nhất thì Nhà nước La Mã là
kết quả của cuộc đấu tranh gay gắt giữa những người bình dân sống ngoài thị tộc La
Mã với những người quý tộc La Mã. Tuy có sự khác nhau về phương thức hình
thành nhà nước song Ăngghen vạch rõ nguyên nhân chính làm cho xã hội nguyên
thủy sụp đổ chính là sự xuất hiện và phát triển những mâu thuẫn về kinh tế - xã hội.
Chương 7: Thị tộc của người Kentơ và người Giec-manh.
Chương 8: Sự hình thành nhà nước của người Giec-manh, Ăngghen giới
thiệu đây là sự ra đời của nhà nước trong trường hợp đặc biệt, không phải là kết quả
trực tiếp của những biến đổi kinh tế - xã hội mà là kết quả của hành động bạo lực.
Song suy cho cùng thì sự xuất hiện nhà nước này vẫn xuất hiện từ nguồn gốc sâu xa,
tất yếu từ sự biến đổi của kinh tế xã hội.
Chương 9: Thời đại dã man và thời đại văn minh.
Ăngghen tổng hợp lại và chỉ rõ quá trình phát triển của loài người từ thời đại
dã man sang thời đại văn minh trên cơ sở phát triển của sản xuất, của sự phát triển
kinh tế - xã hội và Ăngghen cũng chỉ ra những đặc trưng của thời đại văn minh và
khẳng định tính tất yếu trong sự phát triển của lịch sử là ở chỗ xã hội hiện đại phải
được thay thế bằng chế độ mới mà ở đó không còn chế độ tư hữu, không còn giai cấp
và nhà nước sẽ tự tiêu vong và mọi người sống trong bình đẳng - tự do và hạnh phúc
thực sự.
2.2. Những nội dung chủ yếu của tác phẩm
những điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triển của tâm lý, đạo đức, tình cảm của con
người. Trong đó sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định.
Do đó gia đình đã chuyển từ gia đình huyết tộc (gia đình cùng dòng máu)
sang gia đình Pu na lu an, gia đình cặp đôi (gia đình đối ngẫu) và cuối cùng là gia
đình 1 vợ, 1 chồng.
Gia đình quần hôn là hình thức đầu tiên trong lịch sử nó bắt nguồn từ chế độ
quần hôn với hai loại gia đình tương ứng là gia đình huyết tộc và gia đình Pu na lu
an.
Gia đình huyết tộc đó là giai đoạn đầu của gia đình, ở đây các tập đoàn hôn
nhân đều phân theo thế hệ trong phạm vi gia đình, tất cả ông và bà đều là vợ chồng
với nhau, các con của họ cũng đều là vợ chồng với nhau, rồi đến lượt conc ái của
những người này cũng hợp thành nhóm vợ chồng chung thứ ba Cứ như vậy trong
hình thức gia đình này chỉ có giữa những tổ tiên và con cháu, giữa cha mẹ và con cái
không là vợ chồng với nhau còn các anh em tria, chị em gái ruột, anh em và chị em
họ bậc thứ nhất, bậc thứ 2 và những bậc khác nữa đều là anh em, chị em với nhau và
chính vì thế họ đều là vợ chồng của nhau.
Gia đình Pu-na-lu-an là hình thức gia đình dựa trên cơ sở tiến bộ hơn, đó là
anh chị em ruột không lấy nhau. Theo Moóc gan bước tiến đó là "Một sự minh hoạ
rất tốt về tác động của nguyên tắc đào thải tự nhiên" [Sđd, tr.68]. Như vậy từ hình
thức mà Moóc gan gọi là gia đình Pu nu lu an tức là chị em gái ở bậc thứ nhất, thứ
hai và những bậc khác đều là vợ chung của những người chồng chung trừ những anh
em trai của họ ra, những người chồng đó không gọi nhau là anh em nữa mà gọi nhau
là "Pu na lu a" nghĩa là bạn thân. Cũng như thế thì những anh em trai cùng mẹ hoặc
xa hơn đều lấy chung một số vợ không phải là chị em gái của họ và những người vợ
ấy cũng đều gọi nhau là Pu na lu a. Tuy hình thức quần hôn này không thể xác định
được ai là cha đứa trẻ mà chỉ xác định được mẹ của đứa trẻ mà thôi.
Gia đình đối ngẫu (gia đình cặp đôi) được hình thành cuối thời mông muội
Ph.Ăngghen vạch rõ chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiên
không dựa trên những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế tức là
trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyên thủy và tự phát.
Do vậy mục đích của gia đình một vợ một chồng trong chế độ tư hữu được "dựa trên
quyền thống trị của người chồng nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có
cha đẻ rõ ràng không ai tranh cãi được, và sự rõ ràng về dòng dõi đó là cần thiết, vì
những đứa con đó sau này sẽ được thừa hưởng tài sản của cha với tư cách là những
người kế thừa trực tiếp" [Sđd, tr.99].
Sự thống trị của người chồng trong gia đình, sự sinh đẻ ra những đứa con
chỉ có thể là con của người chồng là phải được quyền thừa hưởng tài sản của người
ấy, đó là những mục đích đặc biệt của chế độ một vợ một chồng kiểu gia đình phụ
quyền. Mục đích hôn nhân cá thể xuất hiện không phải là sự liên kết hôn nhân giữa
đàn ông và đàn bà mà gia đình dưới chế độ tư hữu xây dựng trên quan hệ bất bình
đẳng gồm vợ và chồng, giữa nam và nữ "nó thể hiện ra là một sự nô dịch của giới
này đối với giới kia Sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà" [Sđd, tr.104]. "Sự
thống trị không hạn chế của đàn ông đối với đàn bà, coi đó là luật cơ bản của xã hội"
[Sđd, tr.106].
Ngay ở trong người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản còn người đàn bà
nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành công cụ sinh đẻ đơn
thuần. Cùng với hình thức gia đình một vợ một chồng, trong chế độ tư hữu vẫn còn
chế độ nhiều vợ đối với đàn ông (quan hệ tính giao ngoài quan hệ vợ chồng, ở bên
rìa chế độ hôn nhân cá thể) mà "hình thức của nó là mại dâm" [Sđd, tr.106]. Nó duy
trì sự tự do tính giao và có lợi cho đàn ông và vì thế xuất hiện người tình thường
xuyên của người vợ và người chồng bị cắm sừng. Ph.Ăngghen đã viết: "Bên cạnh
hôn nhân cá thể và chế độ hệ taia, tệ ngoại tình đã trở thành một thiết chế xã hội
không thể nào xóa bỏ được" [Sđd, tr.95], "quyền ngoại tình của người chồng vẫn
được bảo đảm cho đến tận ngày nay" [Sđd, tr.99].
biến thành sự mãi dâm tư liệu nhất - có khi là của cả đôi bên, nhưng thông thường
nhất là về phía người vợ. Nếu ở đây người đàn bà có khác với gái đĩ thường thì chỉ
là vì người đó không bán thể xác mình từng thời gian một như người nữ công nhân
làm thuê bán sức lao động của mình, mà là bán mãi mãi, như một nữ nô lệ" [Sđd,
tr.112]. Ngay trong đạo thiên chúa cha mẹ vẫn tìm vợ cho con, lựa chọn người vợ
xứng đáng và vì thế đã dẫn đến kết quả "làm cho mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ
một vợ một chồng phát triển đầy đủ nhất: chế độ hệ ta-ia về phía người chồng là chế
độ hệ ta-ia bừa bãi, về phía vợ là ngoại tình lu bù" [Sđd, tr.111]. Hoặc như trong
đạo Tin lành, việc người con trai ít nhiều đều lựa chọn vợ trong cùng giai cấp thì chế
độ hệ ta-ia của người chồng được thực hành ít kiên quyết hơn, và tệ ngoại tình của
vợ cũng ít thành lệ hơn song "cũng chỉ mang lại cho cuộc sống chung một nỗi buồn
nặng chĩu mà người ta gọi là hạnh phúc gia đình" [Sđd, tr.112]. Theo quan niệm của
giai cấp tư sản, hôn nhân là một hợp đồng, một công việc có tính pháp lý.
Không chỉ lên án xã hội tư sản và những thối nát của giai đoạn do chế độ tư
bản sinh ra, Ph.Ăngghen còn nêu ra những quan điểm về tình yêu, hôn nhân và gia
đình trong xã hội tương lai " lần đầu tiên chúng ta có được tình yêu cá thể, hiện
đại giữa trai và gái trước kia chưa hề thấy trên thế giới" [Sđd, tr.120]. Tình yêu ấy là
sự tự nguyện của cả người đàn ông và người đàn bà. Đó chính là điều kiện cho sự
bình đẳng nam nữ trong mối quan hệ này. "Về mặt này người đàn bà là người
ngang hàng với người đàn ôgn" [Sđd, tr.109]. Tình yêu nam nữ ấy phải được thử
thách qua thời gian và nó tạo ra sức mạnh vượt qua những khó khăn cản trở trên con
đường đi tới hôn nhân. Và một khi không tiến hành được hôn nhân thì đó "là một
điều đau khổ lớn" [Sđd, tr.120].
Với bản chất không chia sẻ, tình yêu là cơ sở cho hôn nhân một vợ một
chồng, và cũng chỉ có hôn nhân như vậy thì tình yêu mới được duy trì và tình yêu
như thế, hôn nhân như thế mới là hợp đạo đức. Trong xã hội tương lai ấy, thế hệ
mới sẽ lớn lên, họ được tự do yêu đương chính đáng, tự lựa chọn bạn đời: "Một thế
Ph.Ăngghen phân tích rằng cùng với việc xóa bỏ chế độ tư hữu, thực hiện
công hữu hóa các tư liệu sản xuất và sự phát triển của nền đại công nghiệp sẽ tạo
điều kiện giải phóng người phụ nữ, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng hòa thuận.
Ông viết: " đại công nghiệp đã giật được người đàn bà ra khỏi nhà, đem họ ra thị
trường vận động và vào công xưởng, và thường biến họ thành cột trụ của gia đình,
thì trong gia đình người vô sản, những tàn tích cuối cùng của quyền thống trị của
người đàn ông đã mất mọi cơ sở " [Sđd, tr.115]. Thật vậy , chỉ có nền công nghiệp
hiện đại là nền công nghiệp không những thu nhận vận động của phụ nữ trên quy
mô lớn mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có vận động phụ nữ và ngày càng có xu hướng
biến vận động tư nhân của gia đình thành vận động ngành công nghiệp công cộng.
"Cái sẽ biến mất đi một cách rất chắc chắn trong chế độ một vợ một chồng chính là
tất cả những đặc trưng mà những quan hệ tài sản đẻ ra nó, đã ăn lên nó. Những đặc
trưng đó là: thứ nhất là sự thống trị của người đàn ông, và thứ hai là tính ràng buộc
vĩnh viễn của hôn nhân" [Sđd, tr.130]. Khi gia đình một vợ một chồng phát triển hơn
nữa sẽ là một bước tiến đến gần sự hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi giữa nam và
nữ, giống như điều Moóc gan đã viết: "Gia đình một vợ một chồng đã được cải tiến
ngay từ khi bắt đầu thời kỳ văn minh và được cải tiến rất rõ rệt trong thời kỳ cận
đại hình thức đó còn có thể được cải tiến thêm nữa, cho tới khi đạt đến sự bình
đẳng giữa nam và nữ" [Sđd, tr.132]. Quan điểm tiến bộ này của Moóc gan đã được
Ph.Ăngghen tiếp nhận để phát triển quan điểm tình yêu, hôn nhân và gia đình.
Hai là: Nguồn gốc ra đời và tiêu vong của chế độ tư hữu và giai cấp
Trong tác phẩm "Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước".
Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản của quá trình ihình thành phát triển của
chế độ tư hữu và giai cấp là do sự phát triển của sản xuất và sự phân công lao động
xã hội. "Việc thuần dưỡng súc vật và việc chăn nuôi các bầy gia súc đã toạ ra những
nguồn của cải chưa từng thấy và đã toạ ra những quan hệ xã hội hoàn toàn mới"
[Sđd, tr.90]. Để chăn nuôi và phát triển đàn gia súc, người ta cần nhiều người hơn và
trong lúc này những tư lệnh bắt buộc sau các cuộc chiến đã là những món "của cải"
có ích. "Những của cải ấy, một khi trở thành sở hữu riêng của các gia đình riêng rẽ
và một khi đã tăng lên nhanh chóng thì đánh một đòn rất mạnh vào xã hội dựa trên
đoạn phát triển nhất định. Như vậy, ta thấy trong tác phẩm Ph.Ăngghen đã vạch ra
nguồn gốc sự phát triển của chế tư hữu và giai cấp mà còn khẳng định rằng chế độ tư
hữu và giai cấp cúng nhất định sẽ mất đi. Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn mà
lực lượng sản xuất đạtt ới trình độ cao, sự tồn tại của chế độ tư hữu cùng với sự tồn
tại của giai cấp trở thành kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Ông viết: "Bây giờ
chúng ta đang bước nhanh đến gần một giai đoạn phát triển sản xuất, trong đó sự tồn
tại của những giai cấp nói trên không những không còn là một sự tất yếu nữa mà còn
trở thành một trở ngại trực tiếp cho sản xuất. Những giai cấp đó sẽ không tránh khỏi
biến mất, cũng như xưa kia chúng đã không tránh khỏi sẽ xuất hiện" [Sđd, tr.257-
258]. Như vậy, Ph.Ăngghen đã chỉ ra xã hội có giai cấp không tồn tại vĩnh cửu mà
chỉ là một giai đoạn tất yếu của lịch sử loài người. Song đến khi nào thì không còn
chế độ tư hữu, không còn giai cấp thì đó là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài, rất lâu dài
và phải trải qua nhiều bước trung gian quá độ hết sức phức tạp.
Ba là: Điều kiện ra đời của nhà nước và vấn đề nhà nước tiêu vong
Trong tác phẩm: "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước", khi nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của nhà nước, trước hết ông đã tìm hiểu
và mô tả chi tiết về tập tục, tục lệ tổ chức của các xã hội nguyên thủy, phân tích một
cách khách quan quá trình phát sinh, phát triển của các tổ chức xã hội thị tộc Iroqua
(chương 3) và tổ chức xã hội thị tộc Hy Lạp (chương 5).
Ph. Ăngghen đã có những nhận định về tính ưu việt của xã hội cộng sản
nguyên thủy. Đó là xã hội chưa biết tới nhà nước và uy quyền của nhà nước đối với
đời sống con người, mọi người đều bình đẳng với nhau. Ông viết: "Với tất cả tính
ngây tơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao. Không
có quân đội hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng
quan, quan tòa, không có nhà tù Tất cả đều bình đẳng và tự do kể cả phụ nữ" [Sđd,
tr.147-148]. Tuy xã hội thị tộc l à một xã hội tốt đẹp song bằng sự nghiên cứu về sự
vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người Ph.Ăngghen đã khẳng định sự
đồng là cơ quan quyền lực thường trực triệu tập để "quyết định những công việc
quan trọng Quyết định được thông qua bằng cách giơ tay hoặc bằng cách hoan hô.
Đại hội nhân dân có quyền tối hậu quyết định" [Sđd, tr.159]. Song thị tộc ấy cũng
tất yếu bị diệt vong theo quy luật.Ăngghen đã phân tích một loạt các nguyên nhân
làm tan rã của xã hội thị tộc Hy Lạp đó.
1. Do sự phát triển liên kết các bộ lạc thành những bộ tộc gần như là một dân
tộc có địa dư rộng, dân số tăng vượt ra ngoài phạm vi tổ chức của một thị tộc và
sống trong các thành thị có thành quách bảo vệ tức là liên quan tới vấn đề biên giới
và cai quản biên giới.
2. Kinh tế phát triển nhanh nhờ có sự phân công lao động, chăn nuôi tách ra
khỏi trồng trọt, thủ công tách ra khỏi nông nghiệp và như thế, của cải sản phẩm trong
xã hội tăng nhanh dẫn tới sự chênh lệch về thu nhập của cải giữa các thành viên
trong xã hội và sau đó dần hình thành giai cấp quý tộc trong nội bộ thị tộc và manh
nha hình thành giai cấp trong xã hội, đó chính là nguyên nhân thứ hai làm tan rã chế
độ xã hội thị tộc.
3. Chiến tranh liên miên giữa các bộ lạc nhằm mở rộng bờ cõi, đất đai, cướp
chiếm của cải và tù bình. Tù binh lúc đầu bị giết, bị dùng vào các cuộc tế lễ nhưng
về sau quy mô chiến tranh lớn hơn, tù binh nhiều hơn và hơn nữa là do ý thức đạo
đức trong xã hội phát triển hơn nên tù binh được giữ lại để phục dịch cho người bắt
được và đây chính là nguyên nhân làm hình thành giai cấp mới trong xã hội tức là
manh nha hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ.
4. Về mặt tổ chức, trong bộ lạc có một cơ quan thường trực với những hoạt
động tập thể và việc hình thành các quyết nghị có hiệu lực như những luật lệ chung
tức dần hình thành pháp luật.
Tất cả những nguyên nhân trên đã tác động vào tổ chức xã hội thị tộc, dần
làm thay đổi kết cấu của tổ chức xã hội thị tộc vốn có để hình thành một tổ chức xã
hội mới phát triển cao hơn buộc xã hội thị tộc phải tan rã nhường chỗ cho một thời
xã hội thị tộc ở La mã đã phát triển một cách tự nhiên và thuần túy đặc biệt là tính
dân chủ trong xã hội đã phát triển rất cao, điều đó thể hiện ở chỗ là các cơ quan đứng
đầu thị tộc có quyền hành chính đặc biệt, đều do đại hội nhân dân bầu ra và đại hội
nhân dân có quyền bãi miễn, vì thế tổ chức xã hội thị tộc của người La mã được tổ
chức một cách hết sức chặt chẽ và dần trở thành một thị tộc hùng mạnh và khi đó họ
bắt đầu mở các cuộc chiến tranh để mở rộng bờ cõi và đây chính là những nguyên
nhân sâu xa làm xã hội thị tộc Rô ma bị phá vỡ bởi vì như Ăngghen viết: "Trong lúc
đó thành La mã và lãnh thổ La mã được mở rộng ra nhờ các cuộc xâm chiếm, số dân
cư đã tăng dần lên, một phần do người ta di cư đến, một phần do dân cư ở các miền
bị chinh phục, chủ yếu là các miền Latinh " [Sđd, tr.192]. Tất cả những người dân
mới này đều ở ngoài các thị tộc và bộ lạc cũ và họ không phải là nhân dân La mã
chính cống mà họ là những người tự do về thân thể, có thể có ruộng đất, có nghĩa vụ
nộp thuế và làm các nghĩa vụ quân sự nhưng họ không được nắm một chức vụ gì và
cũng không được tham gia đại hội, các Curies, cũng không được tham gia việc cấp
phát đất đai do nhà nước đã chiếm được trong các cuộc chinh chiến. Họ hợp thành
một lớp người bình dân không có mọi quyền lợi chính trị. Song vì: "Do dân số của
họ ngày càng tăng, do đó họ được huấn luyện quân sự, được vũ trang nên họ trở
thành một thế lực đáng sợ đối lập với Populus cũ (tức dân La mã bản địa) là cái mà
nay đã đóng hẳn cửa lại không dung nạp thêm bất cứ một người nào vào nữa" [Sđd,
tr.193]. Thêm vào đó là số lượng tù binh bắt được ngày càng nhiều thông qua các
cuộc chiến tranh và họ cũng không có bất cứ quyền lợi gì. Cả hai nhóm người này,
người bình dân và người nô lệ hợp thành một lực lượng mới, lực lượng "ngoại lai"
và lực lượng này ngày càng lớn mạnh lên trở thành lực lượng đối trọng với dân bản
xứ. Khi đó tất nhiên sẽ dẫn tới xuất hiện các mâu thuẫn mà theo quy luật thì khi có
mâu thuẫn tất có đấu tranh dẫn tới cuộc cách mạng mà theo Ăngghen thì: "Người ta
chỉ có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng những cuộc đấu tranh giữa người
bình dân và Populus là nguyên nhân cuộc cách mạng đó" [Sđd, tr.193].
trọng, ách áp bức bị những hành vi nhũng inhiễu của các viên thống đốc, bọn thu
thuế và lính tráng đẩy tới mức khiến người ta không thể chịu nổi được nữa" [Sđd,
tr.220].
Trong xã hội đó, tệ bóc lột tăng, quan lại nhũng nhiễu và nguy hại hơn là có
sự chia rẽ nội bộ trong các quan lại trong khi đó sản xuất lại đình đốn và cuối cùng
như Ăngghen nhận xét "bần cùng hóa phổ biến: sự suy tàn của thương nghiệp, của
thủ công nghiệp , của nghệ thuật, tình trạng giảm sút dân số, sự suy tàn của thành thị,
tình trạng nông nghiệp quay trở lại mức thấp trước kia - Đó là kết quả cuối cùng của
sự thống trị có tính chất thế giới của La mã" [Sđd, tr.221] và khi mà nhà nước La mã
suy yếu, bất lực thì nó trở thành miếng mồi ngon cho "những người dã man Giéc
manh".
Sự ra đời của nhà nước Giécmanh là sự ra đời trong trường hợp đặc biệt,
không phải là kết quả tất yếu của những biến đổi kinh tế - xã hội mà là kết quả của
những hành động bạo lực.
Thị tộc người Giécmanh sống ở ven sông Đannuy - Ranh, phía Bắc biển Ban
tích. Các dân tộc này có sự tiến hóa chậm hơn so với các dân tộc La mã. Thị tộc
người Giéc manh được tổ chức theo chế độ mẫu quyền. Nền kinh tế được tổ chức
thành những công xã gia đình lớn bao gồm nhiều thế hệ và canh tác trên những vùng
đồng bằng rộng lớn với tài sản là những đàn gia súc đông nhưng giống xấu và bé.
Trang phục còn thô sơ, tập quán giết người tế lễ vẫn còn thậm chí có một số bộ tộc
còn có tục lệ ăn thịt người.
Tóm lại, khi nhận xét về người Giéc manh, Ăngghen viết ở đây chúng ta thấy
đó là một dân cư vừa mới tiến từ giai đoạn giữa lên giai đoạn cao của thời đại dã
man. Tuy nhiên các nghề tiểu thủ công nghiệp như luyện kim, đúc đồng, chế tạo vũ
khí bằng kim loại của họ lại phát triển cao và dần vượt hẳn người La mã.
Về tổ chức thị tộc người Giécmanh cũng có cách quản lý giống như tổ chức
quản lý đã phát triển của người Hy Lạp. Đó là tổ chức quản lý phát triển mà chế độ
thị tộc có thể tạo nên là cách tổ chức kiểu mẫu của giai đoạn cao của thời đại dã
man. Người Giéc manh có tổ chức vũ trang được chú trọng và phát triển. Cùng với
tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần
phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có
nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự".
Và lực lượng đó nảy sinh ra từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng xa
rời xã hội, chính là nhà nước" [Sđd, tr.252-253]. Và sau đó Ăngghen phân tích và chỉ
rõ nhà nước có những đặc trưng và bản chất riêng của nó. Theo ông thì nhà nước có
hai đặc trưng chủ yếu, đó là có sự phân chia dân cư theo lãnh thổ để cai quản mà
Ăngghen gọi đó là sự "phân chia thần dân theo sự phân chia địa vực", bởi vì những
liên minh thị tộc cũ hình thành và được duy trì bởi những quan hệ huyết tộc đều
không còn thích hợp nữa và địa vực còn đó song dân cư thì đã trở nên di động hơn
cho nên nhà nước phải phân chia dân cư theo địa vực để cai quản. Mọi người dân
không phân biệt họ thuộc thị tộc hay bộ tộc nào nếu ở trong lãnh thổ đó đều được
hưởng quyền và nghĩa vụ công dân mà nơi họ ở và điều đó đã được tất cả các quốc
gia thừa nhận.
Đặc trưng thứ hai của nhà nước đó "là sự thiết lập một quyền lực công cộng,
quyền lực này không còn trực tiếp ăn khớp với dân cư tự tổ chức thành lực lượng vũ
trang nữa". Đây rõ ràng là một đặc trưng không có trong xã hội thị tộc. Để tăng thêm
uy quyền của mình với thần dân, với xã hội, để có thể quản lý xã hội được chặt chẽ
hơn thì nhà nước đã tạo ra một công cụ sắc bén là pháp luật với các cơ quan cưỡng
bức là nhà tù, cảnh sát và lực lượng vũ trang. Để duy trì quyền lực công cộng đó thì
nhà nước đã đẻ ra thuế má buộc thần dân phải đóng góp và khi đã có quyền lực công,
có quyền thu thuế rồi thì bọn quan lại với tư cách là người đại diện cho thần dân, với
tư cách là những cơ quan của xã hội đã được đặt lên trên xã hội, tựa hồ như đứng
trên xã hội. Lòng tôn kính của thần dân đối với các cơ quan của xã hội thị tộc trước
kia đối với quan lại ngày nay không đủ nữa nên bây giờ họ phải làm cho thần dân
phải kính trọng họ bằng những đạo luật đặc biệt khiến họ đặc biệt trở nên thần thánh
và bất khả xâm phạm và Ăngghen đã ví von rất hay là: "Viên cảnh sát tồi nhất của
không những không còn là một sự tất yếu nữa, mà đã trở thành một trở ngại trực tiếp
cho sản xuất. Những giai cấp đó nhất định sẽ mất đi cũng như xưa kia, chúng nhất
định phải xuất hiện. Giai cấp mất đi thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong
theo. Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hợp tự do và bình đẳng giữa
những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự
của nó lúc bấy giờ. Tức là vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu
bằng đồng" [Sđd, tr.257-258].
Bốn là: Mục đích các cuộc cách mạng trong lịch sử và công cuộc xây
dựng CNXH và CNCS
Theo Ph.Ăngghen, từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô
lệ, xã hội loài người đã thực hiện được một cuộc cách mạng với mục đích kinh tế là
xác lập quyền sở hữu - quyền tư hữu và thúc đẩy sản xuất phát triển. Cuộc cách
mạng này được thực hiện dần dần từ sự phát triển của sản xuất, của kinh tế đến sự
thay đổi quan hệũh, quan hệ gia đình, quan hệ thị tộc và cuối cùng là đến sự thay đổi
về chính trị. Ph.Ăngghen khẳng định "từ trước tới nay, tất cả mọi cuộc cách mạng
đều là những cuộc cách mạng nhằm bảo hộ một loại sở hữu này chống lại một loại
sở hữu khác. Những cuộc cách mạng đó không thể bảo hộ loại sở hữu này mà lại k o
làm thiệt hại đến loại sở hữu kia Và thật vật tất cả những cuộc cách mạng gọi là
những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng
cuối cùng đều được tiến hành để bảo hộ sở hữu thuộc một loại nào đó và đều được
thực hiện bằng cách tịch thu, cũng còn được gọi là một cách khác là ăn cắp, một loại
sở hữu khác. Thật hoàn toàn đúng là từ hai nghìn năm trăm năm nay, sở hữu tư nhân
chỉ có thể được duy trì bằng cách xâm phạm vào quyền sở hữu mà thôi" [Sđd, tr.273-
274].
Chế độ phong kiến ra đời, thay thế chế độ nô lệ, theo Ph.Ăngghen đó cũng là
một cuộc cách mạng trong lịch sử mà nguyên nhân là do sự phát triển của kinh tế,
với mục đích kinh tế. Đó cũng là một sự thay đổi từ chế độ sở hữu tư nhân này sang