LUẬN VĂN: Tội không tố giác tội phạm - một số khía cạnh pháp lí hình sự và tội phạm học - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Tội không tố giác tội phạm - một
số khía cạnh pháp lí hình sự
và tội phạm học
Mở đầu


không tố giác tội phạm do họ thực hiện đã cấu thành tội không tố giác tội phạm. Thực
tiễn đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm, đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc
đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết như khái niệm, những dấu hiệu pháp
lý hình sự đặc trưng của tội không tố giác tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tội
không tố giác tội phạm Về mặt lý luận, xung quanh vấn đề đấu tranh phòng, chống tội
không tố giác tội phạm, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, " Tội không tố giác tội phạm - một số khía
cạnh phỏp lý hỡnh sự và tội phạm học ", mang tính cấp thiết, không những về lý luận,
mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội không tố giác tội phạm là tội phạm có tính nhạy cảm cao, phức tạp, đã được
một số nhà luật học đề cập trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập II của Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998; Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội, 1997; Đề tài khoa học cấp Bộ: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi)", mã số 95-98-107/ĐT của Viện Khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp, nghiệm thu năm 1998; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987 (tái bản năm
1992, 1997); ThS. Phạm Thanh Bình và TS. Nguyễn Vạn Nguyên có công trình: "Các tội
xâm phạm hoạt động tư pháp" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997)
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, tội không tố giác tội phạm
được tiếp tục đề cập trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần
các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội,
2002; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm) của TS. Phùng Thế
Vắc, TS. Trần Văn Luyện, luật sư ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS.
Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.

không tố giác tội phạm.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội không tố giác tội phạm.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội không tố giác tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự
và tội phạm học ở Việt Nam, trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2005.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp
luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về tội
không tố giác tội phạm; số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao
về tội phạm này.
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, lịch sử,
lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh,
điều tra xã hội
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp
độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối có
hệ thống về tội không tố giác tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm
học. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận
văn:
- Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội không
tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam.
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tội không tố giác tội phạm; những

1.1.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lê cho đến trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945
Tội không tố giác tội phạm là một trong những tội phạm được quy định rất sớm
trong luật hình sự Việt Nam.
Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng
nhất của triều đại nhà Lê đã đề cập tội không tố giác tội phạm tại Điều 500:
Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải đến
mật báo ngay với các quan ty gần đó, nếu không tố cáo, thì xử tội lưu đi châu
xa. Biết có kẻ chỉ trích nhà Vua hay là đặt ra những lời quái gở mà không đi
báo, thì xử nhẹ hơn tội kể trên một bậc. Quan ty thấy báo mà không tâu lên hay
đi bắt ngay (quan ở kinh thành thì phải tâu ngay, quan ở ngoài thì phải bắt
ngay), để quá nửa ngày, thì cũng phải tội như kẻ không đi báo. Nếu là việc
truy bắt còn phải sắp đặt nên quá thời hạn trên thì không phải tội [41, tr. 181-
182].
Đáng chú ý, Quốc triều Hình luật đã phân biệt trách nhiệm phát hiện, tố giác tội
phạm giữa quan và dân thường như quy định tại Điều 158 Bộ luật:
Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không
phát giác, xử biếm hai tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như
thế. Những người biết hàng xóm của mình phạm tội mà không phát giác, tội
giảm một bậc. Riêng việc đúc tiền và việc phản nghịch là tội nặng, thì luận
tội khác [41, tr. 79].
Điều 355 Bộ luật còn quy định việc khen thưởng cho người tố giác tội phạm:
"Dân đinh mà tự thiến mình, thì xử tội lưu; ai thiến hộ hoặc chứa chấp kẻ ấy, thì giảm
tội một bậc; các nhà lân cận không tố cáo, thì xử tội nhẹ hơn hai bậc; xã quan không
phát giác, thì xử tội đồ; người tố cáo đúng sự thật thì được thưởng một tước tư" [41, tr.
119]. Đặc biệt, Điều 373 Bộ luật còn đồng nhất việc không tố giác tội phạm với che
giấu tội phạm trong trường hợp quan biết mà không tố giác:

nước Việt Nam làm ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau. Nam Kỳ là đất thuộc địa,
không còn quan hệ phụ thuộc vào triều đình Huế; Bắc Kỳ là đất "nửa bảo hộ" đặt dưới
quyền cai trị của một viên thống sứ người Pháp; ở Trung Kỳ, triều đình bù nhìn vẫn còn
được duy trì với danh hiệu "Chính phủ Nam triều", nhưng quyền hành thực tế nằm trong
tay viên khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung Kỳ [35, tr. 86]. ở Nam
Kỳ, theo Điều 11 Sắc luật ngày 25-7-1884, Bộ luật Gia Long được áp dụng đối với
người phạm tội là người bản xứ. Trong Sắc luật ngày 16-3-1890, thực dân Pháp quy
định từ thời điểm này, các Tòa án ở Nam Kỳ phải áp dụng pháp luật hình sự của Pháp
thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp pháp luật hình sự của Pháp chưa dự
liệu được [18, tr. 132-133]. Sắc luật ngày 31-12-1912 của toàn quyền Đông Dương đã
sửa đổi 56 điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code pénal modifié)
và cho áp dụng tại Nam Kỳ.
ở Bắc Kỳ, Nghị định ngày 2-12-1921 của toàn quyền Đông Dương đã cho áp
dụng Luật hình An Nam. ở Trung Kỳ, bằng Dụ số 43 ngày 31-7-1933 của Bảo Đại, Hoàng
Việt hình luật được ban hành. Trong Hoàng Việt hình luật, không có quy định về tội không
tố giác tội phạm, mà đề cập đến việc tố cáo những người thân thuộc, bất hiếu, bất cố gia
truyền. Điều 341 Bộ luật này quy định:
Phàm cáo giác ông bà cha mẹ, tức là bất hiếu sẽ bị câu cầm từ 6 năm
đến 10 năm. Trừ trường hợp sau này thời người cáo giác không có tội: hoặc
cha mẹ ông bà phạm một tội đại hình có can đến sự trị an của Bổn quốc (hay
nước bảo hộ), hoặc là mẹ giết cha, cha giết mẹ hoặc cha mẹ mình làm con
nuôi cho người ta mà giết cha mẹ nuôi hoặc cha mẹ nuôi giết cha mẹ đẻ hoặc
cha mẹ giết ông bà nội, ông bà ngoại hoặc là cha mẹ ông bà ngược đãi con
bé chưa đến 16 tuổi và đến nỗi nguy hiểm đến tính mạng [23].
Quy định này cho thấy, ngoài việc tiếp tục kế thừa tinh hoa của Bộ luật Hồng
Đức, Hoàng Việt hình luật đã thể hiện rõ sự thuộc vào nước Pháp bảo hộ của chính
quyền thực dân phong kiến.

trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà.
Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-06-1956 của Nhà nước ta về trừng trị những âm
mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã, của nhân dân và cản
trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước đã đề cập vấn đề tố giác tội phạm tại
Điều 14: "Đối với kẻ phạm pháp, nhân dân có nhiệm vụ tố cáo hoặc mật báo với cơ
quan có trách nhiệm và hết sức giúp đỡ việc điều tra xét xử, nhưng không được vì thù
riêng, lợi riêng mà vu cáo. Người nào có công trong việc tố cáo, khám phá các vụ phạm
pháp, tìm bắt kẻ có tội, sẽ được khen thưởng" [10, tr. 117]. Tuy nhiên, Sắc lệnh chưa có
quy định về trường hợp không thực hiện nghĩa vụ này, thì phải có chịu trách nhiệm hình
sự hay không?
Về mặt lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự ban hành
trong thời gian sau đó như Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách mạng,
Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, Pháp
lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân, đều đã đề cập
vấn đề động viên nhân dân tố giác tội phạm ở lời nói đầu: "Để nâng cao tinh thần cảnh
giác cách mạng của nhân dân, động viên toàn dân tích cực tham gia giữ gìn trật tự an
ninh" [10, tr. 193] và "Để phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân, viên
chức, bộ đội và toàn thể nhân dân, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, động viên mọi người
ra sức đấu tranh chống những hành động xâm phạm tài sản đó" [10, tr. 203]. Tuy nhiên,
cả hai Pháp lệnh này đều chưa đề cập tội không tố giác tội phạm, mà chỉ quy định
nguyên tắc tương tự. Ví dụ: Điều 21 Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách
mạng, quy định: "Đối với những tội phản cách mạng chưa nêu trong Pháp lệnh này, thì áp
dụng những điều về tội phạm tương tự trong Pháp lệnh này mà xét xử" [10, tr. 198].
Trong thời gian này, các Tòa án của ta đã xét xử một số trường hợp không tố
giác tội phạm nghiêm trọng như tội phản cách mạng, tội giết người. Ví dụ: bản án số 13
ngày 20-03-1958 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử phạt Nguyễn Thị Chất là
vợ Hải 3 năm quản chế, vì khi biết âm mưu, hoạt động của bọn Hải mà không tố cáo với

hối lộ thì được khen và được thưởng tiền bằng 10% giá trị của hối lộ đã bị
tịch thu [38, tr. 69].
Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa đề cập tội không tố giác tội phạm.
Trong thời gian từ năm 1978 đến những năm 1980, 1981, tình hình đầu cơ,
buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép diễn biến phức tạp, gây rối loạn thị trường,
ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch nhà nước và đời sống của nhân dân. Đấu tranh chống
các loại tội phạm, những hiện tượng tiêu cực trên thị trường là một yêu cầu cấp bách nhằm
thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông, góp phần ổn định giá
cả, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân. Pháp lệnh trừng trị các tội đầu
cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được Hội đồng Nhà nước ban hành
ngày 30-6-1982 là để đáp ứng yêu cầu trên và nguyện vọng của nhân dân.
Để động viên, khuyến khích việc tố giác đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép, Điều 12 Pháp lệnh quy định:
Người có công trong việc chống đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép, được xét khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.
Ngoài ra, tùy theo tính chất của vụ án và công lao đóng góp của mỗi người,
còn được thưởng một khoản tiền từ 5% đến 10% trị giá hàng hóa tịch thu
hoặc tiền phạt [35, tr. 98].
Cũng như Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, Pháp lệnh này chưa đề cập tội không tố
giác tội phạm.
Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm tội không tố giác
tội phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý. Giáo trình hình luật xã hội
chủ nghĩa của Trường cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã đề cập tội không tố giác tội phạm
và đưa ra khái niệm không tố giác tội phạm:
Không tố giác tội phạm nghĩa là không báo cáo cho cơ quan có thẩm
quyền về một tội phạm mà mình biết đang được chuẩn bị thực hiện hoặc đã
được thực hiện hoặc biết rõ một kẻ sắp phạm tội hay đã phạm tội rồi nhưng

đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy
định". Việc Bộ luật hình sự năm 1985 chính thức ghi nhận về mặt pháp lý tội không tố
giác tội phạm, là bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà nước ta.
Để bảo đảm hoạt động tư pháp được thực hiện đúng đắn, Bộ luật hình sự năm
1985 đã quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại Chương X. Trừ tội bắt,
giam, khám người, khám đồ vật, nhà ở, thư tín trái phép và tội tra tấn, dùng nhục hình
đã được quy định trong Luật số 103-SL ngày 20-5-1957 bảo đảm quyền tự do thân thể
và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, các tội phạm
khác, trong đó có tội không tố giác tội phạm mới được quy định tại chương này.
Điều 19 Bộ luật chưa quy định cụ thể những trường hợp không tố giác tội phạm
phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 247 Bộ luật quy định cụ thể về những trường hợp
không tố giác tội phạm cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. Nói cách
khác, Điều 247 đã liệt kê các tội cụ thể mà hành vi không tố giác tội phạm phải chịu
trách nhiệm hình sự:
1. Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định ở các điều
sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì bị
phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba
tháng đến ba năm:
- Các điều từ 72 đến Điều 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm
phạm an ninh quốc gia; Điều 87 (tội chiếm đoạt máy bay, tàu thủy); Điều 94,
khoản 2 (tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia);
Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản
2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 96 a, khoản 2 và 3 (tội sản xuất,
tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy); Điều 98 (tội làm
tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ);
nhất của Bộ luật hình sự năm 1985 là qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật đã không
còn là một chỉnh thể thống nhất.
Trong đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà Đảng ta đã đề ra, việc sửa
đổi toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập
pháp hình sự. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình sự (sau đây gọi
tắt là Bộ luật hình sự năm 1999), thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình
sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1-7-2000.
Trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội không tố giác tội phạm được quy định tại
Điều 314. So với quy định tương ứng tại Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1985, tội không
tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những nội dung được sửa đổi, bổ
sung như sau:
Thứ nhất, bổ sung khoản mới (khoản 2) nhằm thu hẹp phạm vi trách nhiệm
hình sự của ông, bà, cha, mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người có
hành vi không tố giác, khi biết người thân của mình phạm tội. Quy định này được bổ
sung trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống nhân văn trong pháp luật của ông
cha ta. Trong Bộ luật Hồng Đức đã quy định việc không trừng phạt phạt (trừ tội mưu
phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ) đối với
việc không tố giác tội phạm giữa những người thân thích. Đây là sự ghi nhận mối
quan hệ tình cảm gia đình sâu nặng vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền
thống văn hóa á Đông.
Theo quy định mới được bổ sung, thì người không tố giác là ông, bà, cha, em,
con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại các điều
từ 78 đến Điều 91 Bộ luật) hoặc các tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt
kê tại khoản 1 Điều 313 (chứ không phải mọi tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ
luật hình sự năm 1999).

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các
tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.
Tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 314:
1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều
313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được
thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về
việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội
đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 điều này.
3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm
tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình
sự hoặc miễn hình phạt.
Để có thể hiểu rõ điều 314, cần tìm hiểu tiếp Điều 313 Bộ luật hình sự năm
1999:
1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội
phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba
năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
- Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc
gia;
- Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp
dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều
116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua
bán phụ nữ);
túy); Điều 201, các khoản 2, 3 và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng
thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác);
- Điều 206, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều
221(tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy); Điều 230 (tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương
tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231 (tội phá hủy công trình, phương tiện quan
trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều
236, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238, các khoản 2, 3 và 4 (tội
sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy,
chất độc);
- Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niên);
- Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài); Điều 279, các khoản
2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 281, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 282, các khoản 2 và 3
(tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 2, 3 và 4 (tội
lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi);
Điều 284, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các
khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);
- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị
dẫn giải, đang bị xét xử);
- Các điều từ Điều 341 đến Điều 344 về các tội phá hoại hòa bình,
chống loài người và tội phạm chiến tranh.
2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở
việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội,

cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện
chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [17, tr. 105].
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học chưa đưa ra khái niệm tội
không tố giác tội phạm, nhưng đã đưa ra khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp.
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam cho rằng: "Các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các Cơ quan điều
tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân" [27, tr. 405].
Trên cơ sở phân tích các khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội không
tố giác tội phạm như sau: tội không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội,
trái pháp luật hình sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, tuy không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm
do người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện,
nhưng cố ý không tố giác tội phạm và người phạm tội cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền như Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, ủy ban nhân dân các cấp để kịp
thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội, xâm phạm hoạt động đúng
đắn của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
1.2.2. Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội không tố giác tội
phạm và hình phạt đối với người phạm tội này
1. Khách thể của tội phạm
Khoa học luật hình sự cho rằng, trong hệ thống những quan hệ xã hội phù hợp
với lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội có ý nghĩa khác nhau đối với sự
củng cố và phát triển của xã hội, được Nhà nước bảo vệ bằng những quy phạm pháp
luật khác nhau. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được Nhà

- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (thời gian, địa
điểm phạm tội ).
Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm.
Như vậy, mặt khách quan của tội không tố giác tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm,
bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách
quan.
Hành vi khách quan của tội không tố giác tội phạm luôn luôn được thể hiện
dưới hình thức không hành động, mà trong khoa học luật hình sự, không hành động
phạm tội được hiểu là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình
thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm
qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều
kiện để làm.
Hành động hay không hành động phạm tội đều là những biểu hiện của con
người ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển và đều có khả
năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt
hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Đối với hình thức hành động phạm tội, tính trái pháp luật hình sự của hành vi
được thể hiện ở chỗ, việc đã làm bị luật hình sự ngăn cấm, không kể chủ thể thực hiện
là ai.
Đối với hình thức không hành động phạm tội, tính trái pháp luật hình sự của
hành vi được thể hiện ở chỗ, việc phải làm mà chủ thể đã không làm (mặc dù có điều
kiện để làm) là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể. Nghĩa vụ pháp lý này có thể được phát
sinh do các căn cứ: luật định, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nghề
nghiệp, hợp đồng hoặc do xử sự trước đó của chủ thể. Như vậy, điều kiện có thể buộc
một người phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không hành động của mình là:
- Người đó phải có nghĩa vụ hành động; và
- Người đó có đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status