LUẬN VĂN: Tội không tố giác tội phạm - một số khía cạnh
pháp lý hình sự và tội phạm học Mở đầu
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và trong các trường hợp do pháp
luật hình sự quy định, hành vi không tố giác tội phạm do họ thực hiện đã cấu thành tội
không tố giác tội phạm. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm, đã
đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết như
khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội không tố giác tội phạm,
nguyên nhân, điều kiện của tội không tố giác tội phạm Về mặt lý luận, xung quanh
vấn đề đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm, vẫn còn nhiều ý kiến khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Tội không tố giác tội phạm - một số khía
cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học", mang tính cấp thiết, không những về lý luận,
mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội không tố giác tội phạm là tội phạm có tính nhạy cảm cao, phức tạp, đã
được một số nhà luật học đề cập trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập II của
Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998; Giáo trình luật
hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb
Đại học quốc gia, Hà Nội, 1997; Đề tài khoa học cấp Bộ: "Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi)", mã số 95-98-107/ĐT của Viện
Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, nghiệm thu năm 1998; Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987
(tái bản năm 1992, 1997); ThS. Phạm Thanh Bình và TS. Nguyễn Vạn Nguyên có công
trình: "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997)
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, tội không tố giác tội phạm
được tiếp tục đề cập trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần
các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội,
2002; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm) của TS. Phùng Thế
những thời gian tới.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
không tố giác tội phạm.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội không tố giác tội phạm.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tội không tố giác tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự
và tội phạm học ở Việt Nam, trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2005.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và
pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về tội
không tố giác tội phạm; số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao
về tội phạm này.
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, lịch sử,
lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh,
điều tra xã hội
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở
cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối
có hệ thống về tội không tố giác tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm
học. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận
văn:
- Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội
Chương 1
Tội không tố giác tội phạm
Trong luật hình sự việt nam
1.1. khái lược sự hình thành và phát triển những quy định về tội không tố
giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lê cho đến trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945
Tội không tố giác tội phạm là một trong những tội phạm được quy định rất sớm
trong luật hình sự Việt Nam.
Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng
nhất của triều đại nhà Lê đã đề cập tội không tố giác tội phạm tại Điều 500:
Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải
đến mật báo ngay với các quan ty gần đó, nếu không tố cáo, thì xử tội lưu đi
châu xa. Biết có kẻ chỉ trích nhà Vua hay là đặt ra những lời quái gở mà
không đi báo, thì xử nhẹ hơn tội kể trên một bậc. Quan ty thấy báo mà không
tâu lên hay đi bắt ngay (quan ở kinh thành thì phải tâu ngay, quan ở ngoài thì
phải bắt ngay), để quá nửa ngày, thì cũng phải tội như kẻ không đi báo. Nếu
là việc truy bắt còn phải sắp đặt nên quá thời hạn trên thì không phải tội [41,
tr. 181-182].
Đáng chú ý, Quốc triều Hình luật đã phân biệt trách nhiệm phát hiện, tố giác
tội phạm giữa quan và dân thường như quy định tại Điều 158 Bộ luật:
Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không
phát giác, xử biếm hai tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng
như thế. Những người biết hàng xóm của mình phạm tội mà không phát
giác, tội giảm một bậc. Riêng việc đúc tiền và việc phản nghịch là tội nặng,
thì luận tội khác [41, tr. 79].
đáng tin cũng vậy); trái luật này thì phải phạt 80 trượng; quan nhận những đơn trái lệ
này, mà đem ra xét xử, thì phạt tiền 30 quan" [41, tr. 184].
Như vậy, trong Bộ luật Hồng Đức, tội không tố giác tội phạm đã được tương
đối cụ thể, chi tiết, thể hiện trình độ lập pháp hình sự rất cao của cha ông chúng ta thời
kỳ này.
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp thực hiện chính sách "chia để trị", chia đất
nước Việt Nam làm ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau. Nam Kỳ là đất thuộc địa,
không còn quan hệ phụ thuộc vào triều đình Huế; Bắc Kỳ là đất "nửa bảo hộ" đặt dưới
quyền cai trị của một viên thống sứ người Pháp; ở Trung Kỳ, triều đình bù nhìn vẫn còn
được duy trì với danh hiệu "Chính phủ Nam triều", nhưng quyền hành thực tế nằm
trong tay viên khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung Kỳ [35, tr. 86].
ở Nam Kỳ, theo Điều 11 Sắc luật ngày 25-7-1884, Bộ luật Gia Long được áp dụng đối
với người phạm tội là người bản xứ. Trong Sắc luật ngày 16-3-1890, thực dân Pháp
quy định từ thời điểm này, các Tòa án ở Nam Kỳ phải áp dụng pháp luật hình sự của
Pháp thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp pháp luật hình sự của Pháp
chưa dự liệu được [18, tr. 132-133]. Sắc luật ngày 31-12-1912 của toàn quyền Đông
Dương đã sửa đổi 56 điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code
pénal modifié) và cho áp dụng tại Nam Kỳ.
ở Bắc Kỳ, Nghị định ngày 2-12-1921 của toàn quyền Đông Dương đã cho áp
dụng Luật hình An Nam. ở Trung Kỳ, bằng Dụ số 43 ngày 31-7-1933 của Bảo Đại, Hoàng
Việt hình luật được ban hành. Trong Hoàng Việt hình luật, không có quy định về tội không
tố giác tội phạm, mà đề cập đến việc tố cáo những người thân thuộc, bất hiếu, bất cố gia
truyền. Điều 341 Bộ luật này quy định:
Phàm cáo giác ông bà cha mẹ, tức là bất hiếu sẽ bị câu cầm từ 6
năm đến 10 năm. Trừ trường hợp sau này thời người cáo giác không có tội:
hoặc cha mẹ ông bà phạm một tội đại hình có can đến sự trị an của Bổn
quốc (hay nước bảo hộ), hoặc là mẹ giết cha, cha giết mẹ hoặc cha mẹ mình
làm con nuôi cho người ta mà giết cha mẹ nuôi hoặc cha mẹ nuôi giết cha
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc
hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị.
Tình hình đó đã hình thành ở nước ta "hai khu vực có chế độ chính trị và xã hội khác
nhau" [22, tr. 505]. ở miền Bắc, Đảng ta chủ trương tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước; ở miền
Nam, tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà.
Sắc lệnh số 267-SL ngày 15-06-1956 của Nhà nước ta về trừng trị những âm
mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã, của nhân dân và cản
trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước đã đề cập vấn đề tố giác tội phạm tại
Điều 14: "Đối với kẻ phạm pháp, nhân dân có nhiệm vụ tố cáo hoặc mật báo với cơ
quan có trách nhiệm và hết sức giúp đỡ việc điều tra xét xử, nhưng không được vì thù
riêng, lợi riêng mà vu cáo. Người nào có công trong việc tố cáo, khám phá các vụ
phạm pháp, tìm bắt kẻ có tội, sẽ được khen thưởng" [10, tr. 117]. Tuy nhiên, Sắc lệnh
chưa có quy định về trường hợp không thực hiện nghĩa vụ này, thì phải có chịu trách
nhiệm hình sự hay không?
Về mặt lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự ban hành
trong thời gian sau đó như Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách
mạng, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa,
Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân, đều đã đề
cập vấn đề động viên nhân dân tố giác tội phạm ở lời nói đầu: "Để nâng cao tinh thần
cảnh giác cách mạng của nhân dân, động viên toàn dân tích cực tham gia giữ gìn trật
tự an ninh" [10, tr. 193] và "Để phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân,
viên chức, bộ đội và toàn thể nhân dân, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, động viên mọi
người ra sức đấu tranh chống những hành động xâm phạm tài sản đó" [10, tr. 203].
Tuy nhiên, cả hai Pháp lệnh này đều chưa đề cập tội không tố giác tội phạm, mà chỉ
quy định nguyên tắc tương tự. Ví dụ: Điều 21 Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội
phản cách mạng, quy định: "Đối với những tội phản cách mạng chưa nêu trong Pháp
Nhằm động viên mọi công dân trong việc tố giác tội hối lộ, Điều 12 Pháp lệnh
quy định việc khen thưởng cả về tinh thần và vật chất đối với những người có công
phát hiện tội hối lộ:
Những người không nhận hối lộ và tố giác với cơ quan có trách
nhiệm người đưa hối lộ hoặc người môi giới hối lộ thì được khen thưởng
theo quy định chung của Nhà nước.
Những người tố giác và giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm trừng trị tội
hối lộ thì được khen và được thưởng tiền bằng 10% giá trị của hối lộ đã bị
tịch thu [38, tr. 69].
Tuy nhiên, Pháp lệnh vẫn chưa đề cập tội không tố giác tội phạm.
Trong thời gian từ năm 1978 đến những năm 1980, 1981, tình hình đầu cơ,
buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép diễn biến phức tạp, gây rối loạn thị
trường, ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch nhà nước và đời sống của nhân dân. Đấu
tranh chống các loại tội phạm, những hiện tượng tiêu cực trên thị trường là một yêu cầu
cấp bách nhằm thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông, góp
phần ổn định giá cả, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân. Pháp lệnh
trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được Hội đồng
Nhà nước ban hành ngày 30-6-1982 là để đáp ứng yêu cầu trên và nguyện vọng của
nhân dân.
Để động viên, khuyến khích việc tố giác đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh
doanh trái phép, Điều 12 Pháp lệnh quy định:
Người có công trong việc chống đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,
kinh doanh trái phép, được xét khen thưởng theo chế độ chung của Nhà
nước. Ngoài ra, tùy theo tính chất của vụ án và công lao đóng góp của mỗi
người, còn được thưởng một khoản tiền từ 5% đến 10% trị giá hàng hóa tịch
thu hoặc tiền phạt [35, tr. 98].
Cũng như Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, Pháp lệnh này chưa đề cập tội không
tố giác tội phạm.
hình sự năm 1985).
Bộ luật hình sự năm 1985 là Bộ luật hình sự đầu tiên của chế độ dân chủ nhân
dân, đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình sự Việt Nam từ Cách mạng
tháng Tám, tổng kết cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm
1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Bộ luật đã có quy định
về tội không tố giác tội phạm tại Điều 19: "Người nào biết rõ tội phạm đang được
chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật
này quy định". Việc Bộ luật hình sự năm 1985 chính thức ghi nhận về mặt pháp lý tội
không tố giác tội phạm, là bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự của Nhà nước ta.
Để bảo đảm hoạt động tư pháp được thực hiện đúng đắn, Bộ luật hình sự năm
1985 đã quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại Chương X. Trừ tội bắt,
giam, khám người, khám đồ vật, nhà ở, thư tín trái phép và tội tra tấn, dùng nhục hình
đã được quy định trong Luật số 103-SL ngày 20-5-1957 bảo đảm quyền tự do thân thể
và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, các tội phạm
khác, trong đó có tội không tố giác tội phạm mới được quy định tại chương này.
Điều 19 Bộ luật chưa quy định cụ thể những trường hợp không tố giác tội
phạm phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 247 Bộ luật quy định cụ thể về những
trường hợp không tố giác tội phạm cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình
sự. Nói cách khác, Điều 247 đã liệt kê các tội cụ thể mà hành vi không tố giác tội
phạm phải chịu trách nhiệm hình sự:
1. Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định ở các điều
sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì bị
phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba
tháng đến ba năm:
- Các điều từ 72 đến Điều 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm
tranh phòng, chống tội phạm thời kỳ đó, nhưng ở một mức độ nhất định vẫn chịu ảnh
hưởng nhất định của cơ chế đó. Vì vậy, một số quy định trong Bộ luật này không phù
hợp cho việc bảo vệ các quan hệ phát sinh trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Về kỹ thuật lập pháp hình sự, Bộ luật hình sự năm 1985 còn có những hạn
chế nhất định như bố cục một số chương, điều chưa hợp lý, nhiều tội danh được quy
định quá chung chung; một số hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội khác nhau nhưng lại được quy định trong một điều luật với cùng một chế
tài; khung hình phạt trong nhiều điều luật quá rộng, dễ dẫn đến tiêu cực… Hạn chế
lớn nhất của Bộ luật hình sự năm 1985 là qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật đã
không còn là một chỉnh thể thống nhất.
Trong đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà Đảng ta đã đề ra, việc
sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động
lập pháp hình sự. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình sự (sau
đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999), thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ
luật hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1-7-2000.
Trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội không tố giác tội phạm được quy định tại
Điều 314. So với quy định tương ứng tại Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1985, tội
không tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những nội dung được
sửa đổi, bổ sung như sau:
Thứ nhất, bổ sung khoản mới (khoản 2) nhằm thu hẹp phạm vi trách nhiệm
hình sự của ông, bà, cha, mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người có
hành vi không tố giác, khi biết người thân của mình phạm tội. Quy định này được bổ
sung trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống nhân văn trong pháp luật của ông
cha ta. Trong Bộ luật Hồng Đức đã quy định việc không trừng phạt phạt (trừ tội mưu
do người khác thực hiện; người thực hiện hành vi liên quan đến tội phạm không phải
chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đó, bởi lẽ hành vi này không phải là hành vi
thực hành, tổ chức, xúi giục, giúp sức, vì vậy chỉ có thể cấu thành tội phạm độc lập
với tội phạm do người khác thực hiện trong những trường hợp được Bộ luật quy định
[42, tr. 199-200].
Không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự năm 1999:
1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực
hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại
Điều 313 của Bộ luật này.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các
tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.
Tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 314:
1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều
313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được
thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự
về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác
là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 điều này.
3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm
tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình
sự hoặc miễn hình phạt.
Để có thể hiểu rõ điều 314, cần tìm hiểu tiếp Điều 313 Bộ luật hình sự năm
hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181 (tội làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều
189, các khoản 2 và 3 (tội hủy hoại rừng);
- Điều 193 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 194 (tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy); Điều 195
(tội tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng
cho việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 196, khoản 2 (tội sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản
xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 197 (tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy); Điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma
túy); Điều 200 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma
túy); Điều 201, các khoản 2, 3 và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử
dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác);
- Điều 206, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều
221(tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy); Điều 230 (tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,
phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231 (tội phá hủy công trình, phương tiện
quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu
nổ); Điều 236, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238, các
khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán
trái phép chất cháy, chất độc);
- Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niên);
- Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài); Điều 279, các
khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm
(chứ không phải mọi tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999).
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm không tố giác tội phạm như
sau: không tố giác tội phạm là hành vi của một người, tuy không hứa hẹn trước và
không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm do người khác
đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không thông
báo về tội phạm và người phạm tội cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan
Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, ủy ban nhân dân các cấp để kịp thời ngăn chặn, phát
hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm tội không tố giác tội phạm
Trước hết, cần khẳng định, tội không tố giác tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ
các dấu hiệu của tội phạm, mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện
với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự;
c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [17, tr. 105].
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học chưa đưa ra khái niệm
tội không tố giác tội phạm, nhưng đã đưa ra khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp.
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam cho rằng: "Các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các Cơ quan
điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" [27, tr. 405].
Trên cơ sở phân tích các khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội không
tố giác tội phạm như sau: tội không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội,
trái pháp luật hình sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, tuy không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm
do người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện,
quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và một số cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp có
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, trên cơ sở
các quy định của pháp luật, nhưng khi bị hành vi nguy hiểm cho xã hội - hành vi