LUẬN VĂN: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình - một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học - Pdf 15



1

LUẬN VĂN:

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình - một số khía cạnh pháp lý hình
sự và tội phạm học 2
MỞ ĐẦU

nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống gia đình; trên thực tế, các tội phạm này xảy ra
rất nhiều, song việc xử lý bằng các chế tài hình sự còn rất hạn chế. Thực tiễn áp dụng các
tội xâm phạm chế độ HN&GĐ cũng đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc, đòi hỏi khoa học
luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như: khái niệm các
tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, ý nghĩa của việc quy định các tội phạm này trong pháp
luật hình sự Trong khi đó, xung quanh những vấn đề này, vẫn còn rất nhiều ý kiến khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
- một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học", mang tính cấp thiết, không những
về lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ là nhóm tội phạm có tính nhạy cảm cao, phức
tạp, đã được một số nhà luật học trong nước quan tâm nghiên cứu. ThS. Bùi Anh Dũng
đã có công trình "Tìm hiểu các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình", Nxb Lao động, Hà Nội, 2003; ThS. Trịnh Tiến
Việt đã có các công trình: "Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng các quy định tại chương
các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí khoa
học Pháp lý, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2003, "Tội từ chối hoặc
trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát, số 4/2002,
"Về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi
dưỡng mình trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát, số 9/2002,); tác giả Nguyễn
Quốc Việt chủ biên cuốn sách: Bộ luật hình sự mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, trong đó có đề cập chương XV - Các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; tác giả Nguyễn Ngọc Điệp có công trình: "Tìm
hiểu các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và các tội đối với người chưa thành
niên", Nxb Phụ nữ, Hà Nội; các tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa có công
trình: Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2000
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp
luật, những thành tựu của các khoa học: triết học, tội phạm học, luật hình sự, tâm lý học,
xã hội học
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về các tội
xâm phạm chế độ HN&GĐ, các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối
cao (TANDTC) về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ.
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, phân tích,
tổng hợp, lịch sử, cụ thể, lôgíc, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh, điều tra
xã hội
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp
độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về các tội xâm
phạm chế độ HN&GĐ. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về
khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ;
những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của các tội phạm này trong pháp luật hình sự
hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ trong
pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giá trị hợp lý trong lập
pháp hình sự, bổ sung cho những luận cứ và giải pháp được đề xuất trong luận văn.
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ ở Việt
Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ. 6
6. ý nghĩa của luận văn

uy tập trung trong tay người chồng, mà mọi thành viên có bổn phận phục tùng; người
chồng được phép bỏ vợ trong trường hợp người vợ phạm một trong các tội "thất xuất", còn
người vợ sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nếu ruồng bỏ chồng; con cái không làm tròn đạo
hiếu sẽ bị trừng phạt. Trách nhiệm giáo dục con cái tuân theo đạo lý thuộc về cha mẹ, nếu
lơ là trách nhiệm thì chính cha mẹ cũng bị trừng phạt [28, tr. 59].

Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống và quan trọng
nhất của triều đại nhà Lê, mười tội ác (thập ác) đã được quy định tại Điều 3, trong đó có tới
bốn tội liên quan đến HN&GĐ, đó là các tội:
4. ác nghịch, là đánh và mưu giết ông bà, cha mẹ, bác chú, thím, cô,
anh, chị em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng
7. Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy
bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, vui chơi ăn
mặc như thường; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ mà không cử ai (tang lễ); nói
dối là ông bà, cha mẹ chết. 8
8. Bất mục, là giết hay đem bán những người trong họ phải để tang 3
tháng trở lên, đánh đập hoặc tố cáo chồng, cùng những họ hàng từ tiểu công
trở lên
9. Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại nhiệm,
giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết mà không cử ai, lại vui chơi ăn mặc
như thường, cùng là tái giá [36, tr. 36-37].
Ngoài ra, trong Quốc triều hình luật còn có hẳn một chương hộ hôn (hôn nhân gia
đình) gồm 58 điều luật, trong đó có một số điều quy định những trường hợp bị cấm kết
hôn, nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt, đó là là các trường hợp: đang có tang cha mẹ hoặc
tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ, khi ông bà, cha mẹ bị giam cầm tù tội mà lấy
vợ, lấy chồng Ví dụ: Điều 317 quy định: "Người nào đang có tang cha mẹ hoặc tang
chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì

hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá. ở miền Bắc,
khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa Đồng Minh vào tước vũ khí
quân Nhật, nhưng dã tâm của chúng là giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính
quyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. ở miền Nam,
quân đội Pháp được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn, rồi sau đó đánh rộng ra
các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là diệt giặc
đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là
nhiệm vụ hàng đầu" [18, tr. 468]. Vì vậy, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho
đến năm 1954 là thời điểm ký Hiệp định Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến,
Chính phủ ta là Chính phủ kháng chiến, pháp luật ta cũng là pháp luật kháng chiến. Trong
hoàn cảnh khó khăn đó, Nhà nước ta vẫn rất quan tâm xây dựng chế độ HN&GĐ mới tiến
bộ, từng bước xóa bỏ những quy định khắt khe của chế độ thực dân, phong kiến đối với
phụ nữ (Sắc lệnh số 97/SL ngày 12-05-1950). Tuy nhiên, do phải tập trung quy định các
tội phạm liên quan đến sự an nguy của chính quyền nhân dân như các tội phản bội Tổ quốc,
tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô , cho nên, trong giai đoạn này, Nhà nước ta chưa có quy
định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ. 10
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn
toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị. Từ khi
Luật HN&GĐ được ban hành năm 1959, đời sống HN&GĐ đã có những chuyển biến đáng
kể. Tuy nhiên, những hành vi vi phạm pháp luật HN&GĐ vẫn xảy ra phổ biến ở mức độ
nghiêm trọng, Trước tình hình đó, TANDTC đã có Thông tư số 332-NCPL ngày 04-04-
1966 hướng dẫn về xử lý hình sự đối với 8 hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật
HN&GĐ, đó là các hành vi: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ,
yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, thông gian, đánh đập hoặc
ngược đãi vợ, đánh đập hoặc ngược đãi con, ngược đãi bố mẹ. Đây là văn bản pháp lý
đầu tiên hướng dẫn xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật

Thứ tư, đối với hành vi yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, tức là sự đòi hỏi về
tiền, vàng, quần áo, gạo, thịt, rượu trong việc cưới hỏi của nhà gái đối với nhà trai với ý
nghĩa là điều kiện để được kết hôn, Thông tư hướng dẫn: "Về mặt hình sự, nếu việc yêu
sách của cải trong việc cưới hỏi gắn liền với tảo hôn, hoặc cưỡng ép kết hôn, hoặc cản trở
hôn nhân tự do và tiến bộ thì cần chú ý kết hợp xem xét, đánh giá trong những trường
hợp phải xử lý nạn tảo hôn, cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ" [42,
tr. 469].
Thứ năm, đối với hành vi lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, Thông tư hướng dẫn:
Đối với người lấy nhiều vợ, lấy vợ lẽ (từ sau ngày ban hành Luật
HN&GĐ) chủ yếu vẫn là giáo dục, phê bình, để ngăn ngừa và chấm dứt. Cá
biệt, nếu có tình tiết nghiêm trọng thì có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc tù treo
hay tù giam về tội "lấy nhiều vợ" (hoặc tội lấy vợ lẽ). Nếu bị cáo đã bị xử phạt
cảnh cáo hoặc tù treo mà vẫn không chịu cắt đứt với người vợ lẽ thì phải phạt
tù giam.
Tình tiết nghiêm trọng ở đây có thể là: đã được giáo dục, giải thích mà
vẫn cố tình vi phạm; đã được Tòa án tuyên bố cuộc kết hôn là bất hợp pháp
mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng; hành vi có tính chất lừa dối cơ quan,
đoàn thể, lừa dối vợ trước hoặc vợ sau; gây ảnh hưởng, tác hại xấu, dư luận
phản đối [42, tr. 470]. 12
Thứ sáu, đối với hành vi thông gian, tức là hành vi quan hệ tình dục bất chính
giữa một bên đang có vợ hoặc có chồng với người khác (dù là người này đã có hoặc chưa
có vợ, có chồng), Thông tư nêu rõ:
Trong tình hình xã hội miền Bắc nước ta hiện nay, không thể coi
thông gian là một khuyết điểm về sinh hoạt cá nhân, mà khi có những tình tiết
nghiêm trọng nhất định phải coi thông gian là một tội phạm đã xâm phạm đến
quan hệ HN&GĐ được pháp luật bảo vệ, đến thuần phong mỹ tục và đến trật
tự xã hội.

thâm độc gây ra, cần phải nghiêm trị tùy tình tiết cụ thể.
- Đối với những hành động ngược đãi chưa gây tác hại nghiêm trọng
của những người chậm tiến thì chủ yếu là giáo dục, hoặc cảnh cáo. Trường
hợp có tác hại nhất định và có bị quần chúng căm phẫn, có thể xử phạt cảnh
cáo hoặc án treo hay tù giam khi thấy thật cần thiết [42, tr. 473].
Thứ tám, đối với hành vi đánh đập, ngược đãi con, ngược đãi bố mẹ, Thông tư
hướng dẫn:
Tập quán lâu đời của nhân dân ta, luật pháp của Nhà nước chúng ta
đòi hỏi con cái phải "kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ". Tuy nhiên, thỉnh
thoảng còn xảy ra trường hợp con cái ngược đãi, hắt hủi, không nuôi dưỡng bố
mẹ già yếu; đôi khi thái độ đối xử vô đạo đức của con cái đã làm cho bố mẹ tự
sát. Trong những trường hợp nghiêm trọng trên, cần đưa ra xét xử điển hình
một vài vụ để giáo dục chung, đồng thời bắt con cái phải nuôi dưỡng bố mẹ
già yếu [42, tr. 474].
Nghiên cứu những quy định trên cho thấy, Thông tư số 332-NCPL ngày 04-04-
1966 của TANDTC đã quán triệt tốt phương châm, đường lối chung đối với việc xử lý về
hình sự các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ là: kiên trì giáo dục, thuyết
phục tuân thủ pháp luật là chủ yếu, kết hợp biện pháp trừng trị đối với những trường hợp
vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ. 14
1.1.3. Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, V của Đảng, nhân dân
ta đã giành được những thành tựu quan trọng trên một số lĩnh vực, cải biến được một
phần cơ cấu của nền kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn và
khuyết điểm như chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp
nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế

phạm này thành hai nhóm trong đó nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân bao gồm:
tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, tội vi phạm chế độ một
vợ, một chồng, tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn, tội loạn luân và nhóm các tội xâm phạm
chế độ gia đình bao gồm: tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng,
con cái.
Việc BLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đánh dấu sự
trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta.
Nghiên cứu những quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ trong BLHS
1985, cho thấy đặc điểm chung của các tội phạm thuộc nhóm tội này như sau:
Thứ nhất, các hành vi khách quan cấu thành các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
thường phải có các tình tiết nghiêm trọng như dùng các thủ đoạn thô bạo, xảo quyệt như hành
hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách bằng của cải.
Thứ hai, đối tượng được bảo vệ chủ yếu là người cao tuổi, phụ nữ và con cái mà
quyền lợi của họ bị các hành vi ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng phong kiến trọng nam,
khinh nữ và gia trưởng xâm phạm.
Thứ ba, mức hình phạt được quy định đối với các tội này không cao: mức hình
phạt tối đa đối với hầu hết các tội phạm này là ba năm tù, duy nhất tội loạn luân có mức
hình phạt cao nhất là năm năm tù. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 8 BLHS
1985, nhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đều được coi là những tội phạm ít nghiêm
trọng.
1.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 cho đến nay 16
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do
Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan trọng trên nhiều
lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc,
được nhân dân ta và bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt tích cực, mặt
trái nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình

vực này, chủ yếu là áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và hành chính để giải
quyết. Chỉ xử lý hình sự trong những trường hợp thật cần thiết khi các biện pháp giáo
dục, phòng ngừa, hành chính tỏ ra không có hiệu quả.
Thứ tư, về tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được
quy định tại Điều 146.
Về cơ bản, tội này vẫn được giữ nguyên cấu trúc và hình phạt như quy định tại
Điều 143 BLHS 1985, nhưng có hai điểm mới là:
- Được bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là "đã xử phạt hành chính về hành vi
này mà còn vi phạm" nhằm thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với tội phạm này. Điều
đó cũng phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này.
- Mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội này tăng từ 1 năm theo
quy định trước đây lên 3 năm theo quy định tại Điều 146 BLHS 1999.
Thứ năm, về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại Điều 147
BLHS 1999.
Điều luật này được bổ sung, sửa đổi theo hướng bổ sung thêm chủ thể của tội
phạm và thêm các dấu hiệu định tội. Cụ thể như sau:
- Theo quy định của BLHS 1985, thì chỉ người nào đang có vợ, có chồng mà kết
hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác mới phải chịu TNHS về tội này. Trên
thực tế, không ít trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng lại kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng. Đây cũng là hành 18
vi nguy hiểm xâm phạm chế độ một vợ, một chồng, phá hoại hạnh phúc gia đình của
người khác mà chưa bị pháp luật trừng trị.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, BLHS 1999 quy định xử lý về hình sự cả
trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.
- Bổ sung thêm hai dấu hiệu định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử lý về hình
sự đối với tội này. Đó là:

điều không hợp lý, vì cũng là một loại hành vi phạm tội (hành hạ, ngược đãi) do cùng
một loại chủ thể thực hiện (những người thân thích trong gia đình) xâm phạm cùng một
loại đối tượng (những người thân thích khác trong gia đình) nhưng lại bị xử lý ở các điều
luật khác nhau. Vì thế, BLHS 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung phù hợp như sau:
- Bổ sung thêm đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là: ông bà, cháu và người có
công nuôi dưỡng người phạm tội nhằm mở rộng phạm vi đối tượng phải áp dụng theo
quy định của điều luật này.
- Bổ sung thêm dấu hiệu định tội là: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt
hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nhằm thu hẹp việc xử lý về hình sự đối với
hành vi này.
- Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ được tăng từ 1 năm lên 3 năm.
Thứ chín, về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại
Điều 152 BLHS 1999
Đây là một tội phạm mới được bổ sung vào BLHS 1999 nhằm trừng trị những
người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật mà cố tình không thực hiện nghĩa vụ đó mặc
dù mình có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó, đã bị xử lý hành chính hoặc gây hậu
quả làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe
hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác.
1.2. Những quy định của bộ luật hình sự 1999 về các tội Xâm phạm chế độ
hôn nhân và gia đình
1.2.1. Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 20
Để có thể làm sáng tỏ khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ trước hết cần
làm sáng tỏ khái niệm HN&GĐ.
Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tượng xã hội luôn được các nhà triết
học, đạo đức học, xã hội học, luật học, sử học quan tâm nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở
của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp hài hòa, chặt chẽ lợi ích
của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội.

nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia
đình ấm no, hạnh phúc.
Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân. Nếu như hôn nhân là sự liên
kết giữa một người đàn ông và một người phụ nữ, thì gia đình là sự liên kết của nhiều
người có quan hệ với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Gia đình là sản
phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Các điều
kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính
chất và kết cấu của gia đình. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội, là tế bào
của xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, gia đình mang tính chất và kết cấu phù
hợp với hình thái đó. Gia đình XHCN khác về chất so với các kiểu gia đình của các chế
độ xã hội trước đó. Dưới chế độ XHCN, quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia
đình, phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội.
Như vậy gia đình là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết
thống, nuôi dưỡng, trong đó mọi người cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và
tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ cũng là một loại tội phạm, vì vậy nó phải
thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba
bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật
hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS và đủ
tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi [30, tr. 105].
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học đã đưa ra khái niệm các tội
xâm phạm chế độ HN&GĐ. 22
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Khoa
Luật, Đại học quốc gia Hà Nội cho rằng:
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy

độ một vợ một chồng (Điều 147); tội tổ chức tảo hôn (Điều 148); tội tảo hôn (Điều 148);
tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149); tội loạn luân (Điều 150); tội ngược đãi ông
bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151); tội hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151); tội từ
chối nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152); tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152).
Vì mỗi tội phạm bao giờ cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố: mặt khách quan,
mặt chủ quan, khách thể và chủ thể. Cho nên, để hiểu và nhận thức một cách sâu sắc nội
dung khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, cần làm rõ bốn yếu tố của CTTP nói
trên.
Trước hết, việc nghiên cứu khách thể của các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ là
một trong những vấn đề trọng tâm khi tìm hiểu khái niệm các tội xâm phạm chế độ
HN&GĐ, bởi nó là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, bị các hành vi phạm tội
xâm hại.
Khách thể của các tội phạm này chính là những nguyên tắc cơ bản thiết lập chế
độ HN&GĐ mới, tiến bộ XHCN. Theo Luật HN&GĐ Việt Nam, các nguyên tắc này là:
hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công
dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không
theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và pháp luật
bảo vệ; vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; cha
mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ tôn kính
trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng ông bà,
các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Mọi hành vi
xâm phạm những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở, nền tảng cho chế độ hôn nhân gia đình
XHCN - khách thể của tội phạm đều có thể bị xử lý hình sự, sau khi đã áp dụng các chế
tài hành chính nhưng không có hiệu quả.
Nếu như khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ bị các tội phạm xâm hại gây nên những thiệt hại nhất định, thì việc gây nên những
thiệt hại đó bao giờ cũng được thực hiện bởi hành vi cụ thể tác động vào đối tượng bị tác

25
trong luật hình sự, mới thể hiện được yếu tố lỗi, chịu trách nhiệm cá nhân, cũng như có
thể gánh chịu các biện pháp trừng trị, giáo dục, cải tạo mà Nhà nước quy định. Chủ thể
của các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ phải là những con người cụ thể đã đạt đến một độ
tuổi nhất định và có năng lực TNHS.
Ngoài ra, có những tội phạm đòi hỏi chủ thể, ngoài những dấu hiệu của chủ thể
thường, phải có thêm những dấu hiệu đặc biệt khác. Điều đó có nghĩa, nếu thiếu các dấu
hiệu đặc biệt đó thì không thể trở thành chủ thể của những tội phạm cụ thể đó. Ví dụ, chủ
thể của các tội: tội loạn luân, hay tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng,
con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình phải là chủ thể đặc biệt.
Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý
của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra.
Những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm bao gồm dấu hiệu lỗi, dấu hiệu động
cơ, dấu hiệu mục đích Tất cả các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đều được thực hiện
với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó có nghĩa, những chủ thể của các tội phạm này khi thực
hiện hành vi xâm phạm những quan hệ HN&GĐ XHCN đều nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn
cho hậu quả đó xảy ra.
Nhìn chung, tất cả các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đều không có cấu thành
giảm nhẹ và chỉ duy nhất tội xâm phạm chế độ một vợ một chồng có cấu thành tăng
nặng. Ngoài hình phạt chính được áp dụng đối với loại tội này thì đa phần là không có
hình phạt bổ sung (trừ tội đăng ký kết hôn trái pháp luật). Một điểm đặc trưng của nhóm
tội này là mức hình phạt được quy định không cao với các chế tài lựa chọn mà cụ thể là
mức hình phạt tối đa ở hầu hết các tội chỉ đến ba năm tù (chỉ có tội loạn luân có mức hình
phạt tù có thời hạn tối đa là năm năm).
1.2.2. Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân và gia đình
Nhóm các tội phạm được quy định tại chương XV BLHS xâm phạm vào hai
quan hệ xã hội khác nhau đó là HN&GĐ. Tuy nhiên, hai nhóm quan hệ xã hội này lại có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status