c¸c téi x©m ph¹m chÕ ®é h«n nh©n vµ gia ®×nh -
mét sè khÝa c¹nh ph¸p lý h×nh sù vµ téi ph¹m häc
Hµ néi – 2010
c¸c téi x©m ph¹m chÕ ®é h«n nh©n vµ gia ®×nh -
mét sè khÝa c¹nh ph¸p lý h×nh sù vµ téi ph¹m häc
Hµ néi – 2010
Mục lục
Trang
Mở đầu 5
Chơng 1: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
trong luật hình sự Việt Nam
6
1.1. Khái lợc sự hình thành và phát triển những quy định về các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong luật hình sự Việt Nam
6
1.2. Những quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm
chế độ hôn nhân và gia đình
29
1.3. Những quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
trong pháp luật hình sự một số nớc trên thế giới
42
Chơng 2: Tình hình, nguyên nhân, điều kiện của các tội
xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
47
2.1. Tình hình các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình từ năm
1997 đến 2004
47
2.2. Nguyên nhân và điều kiện của tội xâm phạm chế độ hôn nhân và
gia đình
69
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dỡng con ngời, là môi
trờng quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN). Gia đình tốt, thì xã
hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của gia đình trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nớc ta
đã thiết lập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân
gia đình phong kiến, lạc hậu. Quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân và gia
đình (HN&GĐ) mới của Đảng và Nhà nớc ta đợc thể hiện rất rõ trong các
Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Điều 64, Hiến pháp năm 1992 đã ghi
nhận:
Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nớc bảo hộ hôn nhân
và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ
một chồng, vợ chồng bình đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy
con cái thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính
trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nớc và xã hội không thừa
nhận việc phân biệt đối xử với các con.
Để đảm bảo thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ mới tiến bộ
và tuân thủ triệt để Hiến pháp, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, cũng nh
BLHS năm 1999 đều đã quy định cụ thể các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ,
góp phần ngăn chặn, hạn chế và từng bớc xóa bỏ những tàn tích của chế độ
HN&GĐ phong kiến, lạc hậu.
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có chiều hớng gia
tăng, diễn biến phức tạp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống,
kể cả trong lĩnh vực HN&GĐ. Đáng chú ý, các tội xâm phạm chế độ
HN&GĐ không có xu hớng gia tăng, nhng tính chất và mức độ ngày càng
nghiêm trọng, gây d luận xấu trong xã hội.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ và hôn
nhân gia đình cho thấy, mặc dù đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểm
giả Phan Đăng Thanh và Trơng Thị Hòa có công trình: Pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam xa và nay, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của
nhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, nhng cha có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống về nhóm tội phạm này dới góc độ
pháp lý hình sự và tội phạm học.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận
văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh
phòng, chống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, đề xuất những giải pháp
mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống nhóm
tội phạm này.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt đợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của
các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ; phân tích các quy định của pháp luật
hình sự một số nớc trên thế giới về loại tội phạm này.
- Phân tích và đánh giá tình hình, nguyên nhân và điều kiện các tội
xâm phạm chế độ HN&GĐ, thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm
này; dự báo tình tội phạm này trong những năm tới.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ.
Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ dới góc độ
pháp lý hình sự và tội phạm học ở Việt Nam, thời gian từ năm 1997 đến
năm 2004.
6. ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm chế độ HN&GĐ ở nớc ta. Thông qua kết quả nghiên cứu và các
kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào kho tàng
lý luận về tội phạm học, luật hình sự, cũng nh vào cuộc đấu tranh phòng,
chống nhóm tội phạm có tính nhạy cảm cao và phức tạp này.
Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình
sự, tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ
quan Công an, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 110 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 9 mục.
Chơng 1
Các tội Xâm Phạm Chế Độ HÔN NHÂN Và GIA Đình
Trong luật hình sự việt nam
1.1. khái lợc sự hình thành và phát triển những quy định
về các tội Xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong luật
hình sự Việt Nam
1.1.1. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trớc Cách mạng
tháng Tám năm 1945
Hôn nhân là một vấn đề hệ trọng đối với con ngời, gia đình là nền
tảng của xã hội. Vì vậy, ngay từ thời phong kiến, HN&GĐ luôn luôn là lĩnh
vực đợc Nhà nớc rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật.
Trong Bộ luật thành văn đầu tiên của Nhà nớc ta - Bộ Hình th, đợc
ban hành năm 1042 dới thời Lý Thái Tông, vấn đề HN&GĐ chiếm giữ một
vị trí quan trọng và đợc quy định trong nhiều điều luật. Nét đặc trng chủ
yếu của các quy định này là quyền uy tập trung trong tay ngời chồng, mà
mọi thành viên có bổn phận phục tùng; ngời chồng đợc phép bỏ vợ trong tr-
viên mà lấy những phụ nữ nói trên, thì xử phạt 60 trợng; về đều phải ly dị"
[36, tr. 123].
Dới thời thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, Việt Nam vẫn là một nớc
thuộc địa nửa phong kiến, chính quyền thực dân và giai cấp địa chủ phong
kiến vẫn duy trì chế độ hôn nhân phong kiến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ, thừa
nhận sự cỡng ép kết hôn của cha mẹ đối với con cái, bảo vệ chế độ nhiều vợ
(đa thê), duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình. Điều
thứ 128 Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ quy định: "Ngời vợ hay vợ lẽ
hiện đơng có chồng mà phạm tội thông gian, xét ra quả thực, phải phạt
giam từ ba tháng đến hai năm và phạt bạc từ bốn mơi đồng đến bốn trăm
đồng, ngời gian phu bị phạt cũng thế" [55, tr. 21]. Điều thứ 135 của Bộ luật
còn quy định:
Ngời vợ hay vợ lẽ hiện đơng có chồng, cha tuyên cáo sự
ly hôn, mà đi lấy chồng khác, phải phạt giam từ một năm đến
năm năm và phạt bạc từ năm đồng đến hai trăm đồng.
Ngời có vợ cha tuyên cáo sự tiêu hôn mà đi lấy vợ khác,
phải phạt giam từ ba tháng đến một năm và phạt bạc từ hai đồng
đến một trăm đồng [55, tr. 22].
Bộ luật hình canh cải áp dụng tại Nam Kỳ cũng quy định những tội
phạm và hình phạt thích ứng để bảo vệ chế độ một chồng nhiều vợ. Theo Bộ
luật này, bị coi là phạm tội thông gian khi một ngời đàn bà đã có chồng rồi
mà còn ân tình với một ngời đàn ông khác, còn đối với đàn ông có vợ thì
hành vi ngoại tình không coi là tội phạm [38, tr. 202].
1.1.2. Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công cho đến trớc khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân
non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Nền kinh tế của đất n-
ớc vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh
và thiên tai tàn phá. ở miền Bắc, khoảng 200.000 quân Tởng Giới Thạch m-
ợn danh nghĩa Đồng Minh vào tớc vũ khí quân Nhật, nhng dã tâm của
về từng hành vi vi phạm nh sau:
Thứ nhất, đối với hành vi tảo hôn, Thông t nêu rõ:
Đối với nạn tảo hôn chủ yếu là giáo dục; cá biệt, nếu có
tình tiết nghiêm trọng nh: đã đợc chính quyền, đoàn thể giải thích,
thuyết phục, ngăn cản mà vẫn cố ý vi phạm; hoặc đã gây ảnh hởng
chính trị xấu thì có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tù treo hay tù giam.
Đối tợng xử phạt có thể là cha mẹ của đôi trai gái, ngời có trách
nhiệm nuôi dỡng (nếu trai hoặc gái cha đến tuổi chịu trách nhiệm
hình sự), hoặc cả đôi bên trai gái (nếu họ đã đến tuổi chịu TNHS: 15
tuổi [42, tr. 465].
Thứ hai, đối với hành vi cỡng ép kết hôn, Thông t nêu rõ:
Đối với hành động cỡng ép kết hôn, vi phạm quyền tự do
kết hôn, chủ yếu là giáo dục, cá biệt, nếu có tình tiết nghiêm
trọng, có thể phạt cảnh cáo, tù treo hay tù giam.
Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo tảo hôn; đã
đợc chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn cản mà
vẫn cố ý vi phạm; có kèm theo đánh đập tàn nhẫn; đã gây ảnh h-
ởng chính trị xấu; rõ ràng là nạn nhân vì bị cỡng ép kết hôn mà sự
sát [42, tr. 467].
Thứ ba, đối với hành vi cản trở hôn nhân tiến bộ, Thông t hớng dẫn:
Đối với hành động cản trở hôn nhân tự do, tiến bộ, chủ
yếu là giáo dục, cá biệt nếu có tình tiết nghiêm trọng có thể phạt
cảnh cáo, tù treo, hay tù giam nếu rõ ràng là nạn nhân vì bị cản
trở hôn nhân tự do và tiến bộ mà tự sát, cần phạt tù giam.
Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo cỡng ép kết
hôn; đã đợc chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn
cản mà vẫn cố ý vi phạm; có kèm theo lăng nhục thậm tệ, nhục
hình tần nhẫn; đã gây ảnh hởng chính trị xấu [42, tr. 468].
Thứ t, đối với hành vi yêu sách của cải trong việc cới hỏi, tức là sự
đòi hỏi về tiền, vàng, quần áo, gạo, thịt, rợu trong việc cới hỏi của nhà gái
quan, đoàn thể cần tăng cờng công tác giáo dục quần chúng về
đạo đức, xã hội mới, chống những t tởng và nếp sống sa đọa, đồi
bại, trụy lạc do xã hội cũ để lại.
Trong một số ít trờng hợp cần thiết, có thể dùng biện pháp
t pháp để làm chỗ dựa cho công tác giáo dục nói trên. Những tr-
ờng hợp cần thiết đó là:
- Thông gian với vợ bộ đội, vợ cán bộ và vợ những ngời vì
nhiệm vụ công tác mà phải thoát ly gia đình, tại những địa phơng
xảy ra nhiều vụ thông gian, làm ảnh hởng đến tinh thần công tác
của ngời chồng.
- Thông gian có tính chất nghiêm trọng nh: thông gian
một cách trắng trợn hoặc kéo dài; do thông gian mà phá hoại
hạnh phúc của nhiều gia đình; bất chấp sự giáo dục của cơ quan,
đoàn thể hoặc sự phản đối của gia đình ngời chồng, của ngời vợ,
của kẻ ngoại tình và bị quần chúng công phẫn đòi hỏi phải trừng
phạt.
- Do thông gian mà dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
nh gây ra án mạng, tham ô lớn, đào ngũ, đào nhiệm hoặc những
hành động phạm pháp nghiêm trọng khác [42, tr. 471].
Thứ bảy, đối với hành vi đánh đập hoặc ngợc đãi vợ, tức là những hành
động của ngời chồng không đối xử bình đẳng, dân chủ với ngời vợ, xâm hại
đến sức khỏe, nhân cách, quyền tự do của ngời vợ, Thông t hớng dẫn:
Biện pháp chủ yếu vẫn là giáo dục thờng xuyên quan
điểm bình đẳng và dân chủ trong quan hệ vợ chồng nhng cần xử
lý về hình sự để hỗ trợ cho công tác giáo dục trong một số trờng
hợp cần thiết nh:
- Đối với những hành động đánh đập nghiêm trọng nh làm
chết ngời, gây thơng tích nặng hoặc thơng tật lâu ngày, dẫn đến tự
sát, do bọn can phạm bản chất hung bạo, đánh đập một cách hung
ác hoặc dùng thủ đoạn thâm độc gây ra, cần phải nghiêm trị tùy
kinh tế quan liêu, bao cấp nên không thực hiện đợc mục tiêu đã đề ra là ổn
định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Mặt
khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện đợc
toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nớc ta. Vì vậy, việc ban
hành BLHS là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa
góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lợc là xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27-6-1985, tại
kỳ họp thứ 9, Quốc hội nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VII, đã thông
qua BLHS, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi tắt là BLHS
1985).
BLHS 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình
sự Việt Nam, nhất là từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết kinh nghiệm đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trớc năm 1985 và dự báo đợc
tình hình tội phạm trong thời gian tới.
Trong Bộ luật này, đã chính thức ghi nhận về mặt pháp lý các tội
phạm xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình nhằm vào những biểu hiện
nghiêm trọng nhất của các tàn tích của chế độ hôn nhân nhân gia đình
phong kiến, lạc hậu nh: cỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến
bộ, vi phạm chế độ một vợ một chồng, tổ chức tảo hôn, loạn luân, ngợc đãi
nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Với quan niệm rằng,
gia đình là thiết chế xã hội có trách nhiệm đầu tiên trong việc bảo vệ quyền
lợi của con cái, nhất là con cha thành niên và việc đó quan hệ mật thiết với
việc bảo đảm hạnh phúc gia đình, nhà làm luật đã quy định các tội xâm
phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với ngời cha thành niên
vào Chơng V của BLHS 1985, từ Điều 143 đến Điều 149 và Điều 150 quy
định hình phạt bổ sung.
BLHS 1985 đã quy định tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ (Điều 143), tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều
144), tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 145), tội loạn luân (Điều 146),
tội ngợc đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái (Điều
quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của đất nớc đã có nhiều khởi sắc, đợc nhân dân ta và bạn bè quốc tế đánh
giá cao.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt
tích cực, mặt trái nền kinh tế thị trờng cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Trong tình hình đó,
BLHS 1985, dù đã đợc sửa đổi, bổ sung 4 lần, nhng còn nhiều điểm bất cập
cần phải đợc sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, việc sửa đổi toàn diện
BLHS 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự. Để
phục vụ đợc yêu cầu đề ra, ngày 21-12-1999, Quốc hội nớc Cộng hòa
XHCN Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua BLHS (sau đây gọi tắt
là BLHS 1999), thay thế cho BLHS 1985. BLHS 1999 có hiệu lực thi hành từ
ngày 1-7-2000.
Về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, BLHS 1999 có những điểm
mới cơ bản nh sau:
Thứ nhất, Chơng XV của BLHS 1999 quy định về các tội xâm phạm
chế độ hôn nhân gia đình đợc xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Chơng V
của BLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và
các tội phạm đối với ngời cha thành niên. Điểm mới đầu tiên dễ nhận thấy
là BLHS 1999, đã có điều chỉnh phạm vi của chơng này theo hớng thu hẹp
lại chỉ còn các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ còn các tội phạm đối với ngời
cha thành niên, đặc biệt là trẻ em đợc điều chuyển sang các chơng thích hợp
khác.
Nh vậy, Chơng XV của BLHS 1999 quy định các tội xâm phạm chế
độ hôn nhân gia đình chỉ còn lại gồm 7 điều (từ Điều 146 đến Điều 152).
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng và chống
tội phạm, BLHS mới đã bổ sung thêm hai tội danh mới, đó là tội đăng ký
một vợ, một chồng, phá hoại hạnh phúc gia đình của ngời khác mà cha bị
pháp luật trừng trị.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, BLHS 1999 quy định xử lý
về hình sự cả trờng hợp ngời cha có vợ, cha có chồng mà kết hôn hoặc
chung sống nh vợ chồng với ngời mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ.
- Bổ sung thêm hai dấu hiệu định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử
lý về hình sự đối với tội này. Đó là:
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Đã bị xử phạt hình chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Thứ sáu, về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn đợc quy định tại Điều
148 BLHS 1999
Về cơ bản, những quy định về tội phạm này vẫn đợc giữ nguyên nh
trớc đây, nhng có bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là: "Đã bị xử phạt
hành chính mà còn vi phạm" nhằm hạn chế phạm vi xử lý về hình sự.
Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ đợc tăng từ 1 năm lên 2 năm.
Thứ bảy, về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật đợc quy định tại Điều 149
BLHS 1999
Đây là một tội phạm mới đợc bổ sung vào BLHS 1999 để ngăn ngừa
và trừng trị những hành vi của ngời có trách nhiệm trong việc đăng ký kết
hôn đã biết rõ là ngời xin đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng
ký cho ngời đó. Tinh thần chung là chỉ xử lý về hình sự khi đã áp dụng các
biện pháp hành chính, kỷ luật mà ngời vi phạm vẫn không chịu sửa chữa lỗi
lầm của mình, tiếp tục vi phạm.
Thứ tám, về tội ngợc đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng,
con cháu, ngời có công nuôi dỡng mình đợc quy định tại Điều 151 BLHS
1999
Tội phạm này cơ bản vẫn đợc giữ nh quy định trớc đây, nhng có một
số điểm bổ sung. Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn thấy rằng trong xã hội
ta còn xảy ra những trờng hợp hành hạ, ngợc đãi không chỉ giữa cha mẹ, vợ
chồng, con cái mà cả giữa những ngời thân thích khác trong gia đình nh
Xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
1.2.1. Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Để có thể làm sáng tỏ khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
trớc hết cần làm sáng tỏ khái niệm HN&GĐ.
Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tợng xã hội luôn đợc các
nhà triết học, đạo đức học, xã hội học, luật học, sử học quan tâm nghiên