LUẬN VĂN: Những yếu tố thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện chính sách dân số của các chính phủ - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Những yếu tố thúc đẩy việc xây dựng
và thực hiện chính sách dân số của các
chính phủ
Phần thứ nhất
chính sách dân số ở nước ngoài:

259
225
1960-1970
1970-1980
690
705
1940-1950
1950-1960
230
512
1980-1990 860
Bảng trên cho ta thấy rằng, không thời gian 10 năm từ 1950 đến 1960 là một
thời kỳ đặc biệt: Dân số thế giới tăng lên nhanh chóng, đột biến, đạt đến tỷ người
thứ ba. Riêng số dân tăng thêm vọt lên tới 512 triệu người, tức nhiều gấp hơn 2,2
lần só với số tăng thêm của 10 năm trước(1940-1950). Từ đó thuật ngữ “bủng nổ
dân số” (pupolation boom) đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh
vực.
2. Sự phân bố và sự tăng trưởng dân số trên thế giới không đồng đều
giữa các châu và giữa các khu vực phát triển.
Bảng 2: Phát triển dân số trong các khu vực địa lý
Khu vực Số dân (nghìn người)
Tốc
độ
phát
triển
Tỷ lệ dân số của các khu
vực trong tổng dân số thế

2.19
2.09
1.60
1.27
8.9254
.69
13.15
0.50
7.16
15.58
12.13
58.82
13.68
0.48
5.45
9.44
19.00
57.76
12.81
0.45
4.14
5.84
Tổng số 2.515.652

5.292.195 8.504.323

100 100 100

Như vậy, trong vòng 40 năm (1950-1990), tốc độ phát triển dân số đạt mức
cao nhất là ở Châu Phi: 2.86 lần và thấp nhất là ở Châu Âu: 1.27 lần. Dân số châu

77
1.253.9
7.150.3
84
1.45
2.43

Như vậy, phần lứon dân số tập trung ở các nước nghèo, đặc biệt là á - Phí và
bủng nổ dân số cũng diễn ra mạnh mẽ nhất ở khu vực này. Sự trầm trọng của vấn
đề bủng nổ dân số mang tính khu vực rõ rệt.
Kết quả của sự phát triển dân số hiện nay là người nghèo ngày càng nhiều
hơn và chiếm tỉ lệ ngày cao cao trong tổng số thế giới. Qui mô dân số lớn, phát
triển nhanh làm khó khăn thêm việc giải quyết việc làm, lương thực, giáo dục, ý tế,
nhà ở, môi trường… Điều này thúc đẩy các chính phủ, nhất là các nước đông dân
và nghèo đói chú ý tác động qua lại giữa Dân số và phát triển và gợi ý về thiết lập
chính sách quốc gia để điều chỉnh sự phát triển dân số.
II. Những hoạt động của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ
trong lĩnh vực dân số.
Năm 1919, Hội quốc liên- tổ chức Liên chính phủ đầu tiên được thành lập để
đảm bảo sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng của dân số thế giới cho đến đầu thế kỷ là một trong
những tiêu điểm chú ý của tổ chức này.
Trong chương trình Hội nghị về kinh tế của Hội quốc liên đã bao gồm các vấn
đề dân số. Năm 1939, đã thành lập Uỷ ban nghiên cứu dân số và mối liên hệ của nó
với kinh tế- xã hội thuộc Hội quốc liên. ư
Năm 1945, Liên hợp quốc ra đời thì ngay sau đó, năm 1946 đã thành lập Uỷ
ban dân số trực thuộc Hội đồng kinh tế- xã hội. Uỷ ban có chức năng nghiên cứu

bộ kinh phí hỗ trợ cho phát triển, cụ thể như ở bảng
Bảng 3. Sự giúp đỡ của LHQ cho các hoạt động dân số ở các nước.
Năm Số lượng kinh phí hỗ
trợ (triệu đô la)
Tỷ trọng %

Hệ số phát triển
1961 6 0,1 1
1963 11 0,2 2
1965 18 0,3 3
1970 125 1,8 21
1974 257 2,3 43
1977 345 2,3 58

Ngoài việc tổ chức các hội nghị quốc tế những lời kêu gọi, những nghị quyết
về dân số, sự giúp đỡ kinh tế – kỹ thuật, LHQ đã tổ chức đào tạo cán bộ, nghiên
cứu khoa học và xuất bản các ấn phẩm về lĩnh vực này.
Có thể nói, những hoạt động của LHQ trong lĩnh vực dân số ngay từ khi tổ
chức này mới ra đời ngày càng đa dạng, ngày càng mạnh mẽ và diễn ra liên tục cho
đến tận ngày nay là các tác động bên ngoài có hiệu quả nhất định đối với nhận thức
và thái độ của các chính phủ về vấn đề này, thúc đẩy và tạo điều kiện cho các nước
hoạch định được các chính sách dân số quốc gia.
III. Thái độ của các chính phủ đối với tình hình dân số quốc gia
Thái độ của Chính phủ thông qua việc đánh giá tình trạng dân số của đất nước
và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển quốc gia là yếu tố trực tiếp mạnh mẽ đến
thúc đẩy việc hoạch định và thực thi chính sách dân số.
Thái độ của Chính phủ có thể khác nhau đối với từng lĩnh vực như sự tăng
trưởng dân số, mức sinh, mức chết, phân bố dân cư và di cư.
Từ năm 1974 đến năm 1989, số lượng Chính phủ đánh giá tỷ lệ tăng trưởng
dân số của nước mình là quá cao đã tăng từ 28% lên đến 40%. Điều quan trọng là

cũng cho rằng “Dân số là yếu tố chính của sự kém phát triển”.
Những nhận định như vậy, đương nhiên sẽ thúc đẩy Nhà nước có hoạt động
nhằm điều chỉnh, cải biến tình trạng dân số quốc gia, tức là xây dựng và thực hiện
chính sách dân số.
Chương hai
sự hình thành chính sách dân số
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, đạt đến việc xây dựng chính sách dân số quốc
gia là một quá trình nhận thức, đấu tranh lâu dài. ấn Độ là nước sớm nhất có chính
sách dân số – vào năm 1952, nhưng thực ra, từ đầu thế kỷ đã có những công trình
khoa học cảnh báo về tình trạng dân số ấn Độ và đã có những hoạt động nhằm
KHHGD.
Chính sách dân số được hiểu là: “Những biện pháp pháp chế, các Chương
trình quản lý và những hoạt động khác của Chính phủ nhằm mục tiêu làm thay đổi
hoặc điều chỉnh các xu hướng dân số hiện tại vì sự tồn tại và phồn vinh của mỗi
quốc gia”. (International Encyclopedia of Social Sciences. Vol. 11-12-1974). Xu
hướng dân số được đề cập thường liên quan đến qui mô, cơ cấu và phân bố dân số.
Nhưng đối với khu vực các nước đang phát triển, có quy mô dân số lớn và phát
triển nhanh, đặc biệt là ở Châu á, thì giảm sinh là nội dung quan trọng nhất của
chính sách dân số, đến mức nhiều người đặt tiêu đề bài viết của mình như: “Chính
sách dân số hay Chương trình kế hoạch hoá gia đình” cho khu vực này. Do đó, ở
đây chỉ tổng kết chính sách liên quan đến mức sinh.
A. Mục tiêu của chính sách dân số
Từ định nghĩa về Chính sách dân số ta thấy mục tiêu là một nội dung cấu
thành không thể thiếu của chính sách dân số. Căn cứ vào tình hình dân số và cường
độ của các quá trình sinh, chết, di cư, các nước đều xây dựng mục tiêu của chính
sách dân số mà việc đạt được mục tiêu đó, sẽ cải biến tình trạng dân số theo hướng
có lợi cho sự phát triển của đất nước.

mức sinh và mức chết.
Cùng với tỷ lệ phát triển nhưng có thể xảy ra 2 tình trạng hoàn toàn trái
ngược, chẳng hạn, trường hợp 1: Mức sinh và mức chết đều thấp: CBR =18%o ,
CDR = 3%o . Trường hợp 2: Mức sinh, mức chết đều cao: CBR = 40%o , CDR =
25%o . Kết quả là GR = 15%o hay 1,5% song thực chất tình trạng biến động dân
số ở hai trường hợp nói trên là hết sức khác nhau. Đối với mỗi địa phương GR còn
phụ thuộc số dân đến và số dân đi, tức là tình hình di cư nhưng GR cũng không
phản ánh được tình trạng này.
(3) Mục tiêu của chính sách dân số được thể hiện bằng một hệ thống chỉ tiêu:
Số dân, TFR, CBR, CDR, IMR và CPR. Nhưng hệ thống chỉ tiêu này thường quá
tham vọng và thiếu sự thống nhất. Chẳng hạn, trong kế hoạch 5 năm lần thứ 6
(1980 - 1986) ấn Độ đề ra cho năm 2001 và tiến độ thực hiện cho tới năm 1996
được cho trong bảng 4.
bảng 4. Kế hoạch và thực hiện của ấn Độ
Chỉ tiêu Đơn vị Kế hoạch năm 2000 Đạt được năm 1996
TFR con 2,3 3,4
CBR %o 2,1 29
CDR %o 9 10
IMR %o 60 79
CPR % 60 45
Số dân triệu 900 950
Rõ ràng thấy rằng ấn Độ không thể thực hiện được hầu hết các chỉ tiêu nói
trên vào năm 2001. Năm 1990, ấn độ đã điều chỉnh thời gian đạt mức sinh thay thế
là 2006 chứ không phải là 2001. Hơn nữa, có thể đánh giá rằng hệ thống chỉ tiêu
này không đồng bộ khi dựa vào phương trình Northman sau:
TFR = 7,34 – 0,07 CPR CBR = 48 – 0,44 CPR
Với mục tiêu CPR = 60% thì tương ứng TFR = 3,14 rõ ràng là không sát với

Chính sách “một con” của Trung Quốc cũng có biểu hiện mềm phù hợp với
từng hoàn cảnh như: ở Thành thị chỉ được sinh 1 con; trong khi đó ở nông thôn có
thể sinh con thứ hai, nếu con đầu là gái. Có thể thấy ngay rằng hậu quả của chính
sách này là mất cân bằng nam/nữ, theo hướng nam nhiều hơn.
* Khác biệt theo hoàn cảnh dân số của gia đình.
ở nông thôn: Chỉ cần vợ hoặc chồng là con một thì được sinh con thứ hai.
ở thành thị: Cả vợ và chồng đều phải là “con một” thì mới được sinh con thứ
hai.
* Khác biệt theo từng nhóm dân cư
ở Singapore mục tiêu giảm sinh chỉ áp dụng cho nhóm dân cư có trình độ học
vấn thấp. Đối với nhóm dân cư có trình độ học vấn cao, Chính phủ lại khuyến
khích sinh. Nhưng chính sách này của Singapore đã không thành công.
Qui định về KHHGĐ ở tỉnh Sichuan Trung Quốc năm 1987, điều 14 ghi rõ:
“Các cặp vợ chồng có bệnh di truyền, trong đó có động kinh, tâm thần và bị dị
dạng không được phép có con”.
Trong khi theo đuổi mục tiêu giảm sinh, các chính sách dân số nói chung
chưa đưa ra một mục tiêu khác, không kém phần quan trọng là “cân bằng giới
tính”. Thậm chí nhấn mạnh mục tiêu về số con có thể làm cho tình trạng “mất cân
bằng về giới tính” trở nên trầm trọng. Chẳng hạn, ở Trung Quốc việc chỉ cho phép
các cặp vợ chồng ở nông thôn có 1 con gái mới được sinh con thứ hai, làm cho tỷ
số giới tính cao lên, năm 1989 là 114 cháu trai só với 100 cháu gái khi sinh. Riêng
đối với trẻ em là con thứ tư của cặp vợ chồng thì tỷ số giới tính lên tới 133 trai/10
gái. Tình trạng này khiến cho người ta ước tính thế kỷ sau có tới 70 triệu nam
thanh niên Trung Quốc không lấy được vợ.
3. Mục tiêu của chính sách dân số, quyền sinh sản và giáo lý: những xung
đột và mâu thuẫn.
Việc Nhà nước đề ra mục tiêu của chính sách dân số đối với mức sinh, thường

+ Qui mô dân số lớn và phát triển nhanh ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển
xã hội. Vì vậy, bảo vệ phát triển bền vững (chú ý đến thế hệ tương lai), hạn chế gia
tăng dân số quan trọng hơn bảo vệ quyền cá nhân.
+ Khái niệm “quyền con người” nhấn mạnh quá mức hạnh phúc cá nhân, sự
thành đạt và phát triển cá nhân mà coi nhẹ trách nhiệm chung đối với gia đình,
cộng đồng và xã hội, coi nhẹ sự thoả thuận, sự hợp tác, sự phụ thuộc, những giới
hạn và lợi ích chung. Vì vậy, để công bằng hơn, quyền con người phải được xác
định xuất phát từ bối cảnh xã hội, tôn giáo, truyền thống văn hoá và các chuẩn mực
trong cộng đồng chứ không chỉ từ góc độ phúc lợi cá nhân. Hơn nữa, các khung
cảnh kinh tế – xã hội – môi trường khác nhau nên hành vi bị coi là vi phạm nhân
quyền ở nơi này lại có thể chấp nhận được ở nơi khác.
+ Vấn đề là dân chủ khi xây dựng chính sách, tức là có sự tham gia của nhân
dân và bình đẳng trong việc thực hiện chính sách đó, tức là không có sự phân biệt
đối xử.
Những người tuyệt đối hoá bảo vệ nhân quyền lại cho rằng, sẽ là sai lầm nếu:
(1) Coi việc để cho người dân hoàn toàn tự do quyết định về sinh đẻ, họ sẽ
không có sự quyết định đúng đắn.
(2) Sử dụng các biện pháp cưỡng bức, dân số sẽ ổn định và kinh tế – xã hội
được cải thiện. Vì việc cạn kiệt môi trường chủ yếu là do mức tiêu dùng quá cao,
xa xỉ ở các nước đã phát triển, chứ không phải do tăng nhanh dân số ở các nước
nghèo.
Về quan hệ giữa Giáo lý và Pháp lý thì nói chung, các quan niệm tôn giáo đều
xung đột với mục tiêu và giải pháp của các chính sách hạn chế sinh sản.
Thiên chúa giáo coi hôn nhân là một trong bảy bí tích của mình. Đặc điểm
chủ yếu của tí tích này là: Chế độ một vợ một chồng; không cho phép ly hôn và
cặp vợ chồng phải sẵn sàng sinh con. “Hồng ân cao qúy nhất là con trai”. Quan hệ
giới tính chỉ trong khuôn khổ hôn nhân và chỉ nhằm mục tiêu sinh đẻ. Thái độ của

Mục tiêu của chính sách Dân số không mang tính tự nhân. Vấn đề là ở chỗ
thông qua việc đạt được các mục tiêu Dân số để phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ
môi trường. Vì vậy, trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba, ấn độ đã xác định rằng:
“Mục tiêu ổn định sự phát triển Dân số trong một giai đoạn hợp lý phải là trọng
tâm của kế hoạch phát triển”. Trung Quốc nêu mục tiêu “Muộn hơn, ít hơn, tốt
hơn”, tức là đã lồng mục tiêu Dân số vào mục tiêu phát triển “tốt hơn” nghĩa là
sống tốt hơn và chất lượng dân số tốt hơn. Singapore khuyến khích phụ nữ tốt
nghiệp đại học sinh nhiều con còn người học vấn thấp, sinh ít con nhằm làm cho
dân tộc “thông minh hơn”.
Như vậy, đằng sau, bên trên mục tiêu Dân số là mục tiêu phát triển, là nâng
cao chất lượng cuộc sống và chất lượng con người. Thực hiện mục tiêu dân số là
một trong những phương cách đạt được mục tiêu phát triển.
5. Thời hạn đạt được mục tiêu
Lịch sử đã chứng kiến nhiều nước có quá trình giảm sinh nhanh chóng. Thời
hạn để TFR giảm được một nửa chỉ vào khoảng từ 6 đến 8 năm.
Thí dụ, năm 1970 ở Trung Quốc, TFR = 5,8 chỉ 6 năm sau, năm 1976, TFR ở
nước này chỉ còn 2,9 và chỉ đến năm 1979, Trung Quốc đã gần đạt được mức sinh
thay thế: TFR = 2,3. Như vậy từ mức sinh rất cao, chỉ cần 8 năm Trung Quốc đã
đạt mức sinh thấp. Nhưng thành tựu của năm 1979 của Trung Quốc không ổn định.
Mức sinh đã tăng lên, TFR = 3,0 vào năm 1981 và sau đó mới giảm một cách ổn
định.
Năm 1996, TFR ở nước ta vào khoảng 2,7. ở mức sinh này, thời gian để đạt
được mức sinh thay thế (TFR = 2,1) của một số nước như sau:
úc: 4 năm; NETHERLANDS: 4 năm; NEW ZEALAND: 5 năm; Hồng Công:
5 năm; Mỹ: 6 năm; BARBADOC: 6 năm; Pháp: 6 năm; Hàn Quốc: 6 năm; Trung
Quốc: 7 năm; ICELAND: 10 năm; INDONESIA: Dự kiến 10 năm.
Như vậy, cả những nước đã phát triển và những nước đang phát triển đều có

triển kinh tế xã hội. Do đó, đưa ra luật cấm nạo phát thai (trước đó nạo phá thai là
hợp pháp, khá dễ dàng và phổ biến). Mức sinh đã tăng nhanh, ngay lập tức, từ
14%o năm 1966, lên tới 27%o năm 1976. Nhưng sau đó, tỷ lệ áp dụng biện pháp
tránh thai và nạo phá thai lén lút đã tăng lên. Tỷ lệ sinh giảm xuống như cũ, thậm
chí năm 1996 chỉ còn 10%o,
Năm 1976, ấn Độ thực hiện rầm rộ chương trình đình sản mà theo luật của
nhiều bang, triệt sản là bắt buộc đối với một số đối tượng nhất định. Chính vì vậy,
số đình sản của năm1976 lên tới 8,26 triệu người, tăng gần gấp 3 lần so với năm
trước. Trong đó số, nam giới chiếm 75% và gấp 4 lần số nam giới đình sản năm
trước. Do triệt sản trên qui mô lớn, tập trung vào một khoảng thời gian ngắn nên đã
xảy ra tình trạng không đảm bảo vô trùng, dẫn đến tử vong. Một làn sóng chống
đối chương trình đình sản lan ra toàn ấn Độ. Đó là nguyên nhân thất bại của Đảng
Quốc đại (Đảng cầm quyền) trong cuộc bầu cử năm 1977. Indra Ghandi đã mất
chức Thủ tướng.
Như vậy, cưỡng bức đình sản đã không thành công trong KHHGĐ mà lại còn
dẫn tới thất bại trên vũ đài chính trị.
Công cuộc KHHGĐ ở ấn Độ cũng không thành công như Chính phủ từng nôn
nóng và mong muốn. TFR cho tới năm 1996, tức là năm 55 năm kiên trì KHHGĐ
vẫn còn ở mức 3,4 – nghĩa là còn rất xa mức sinh thay thế.
Như vậy chỉ dựa vào phát triển hay chỉ thực hiện giải pháp cưỡng chế ở
các nước nghèo đều không dẫn đến thành công trong chính sách giảm sinh.
Từ thực tiễn và các cuộc tranh luận trên phạm vi thế giới, để mức giảm sinh
người ta rút ra giải pháp chung có thể dung hoà được giữa các trường phái là:
a. Loại trừ tình trạng nghèo đói tuyệt đối, sự bất công hiển nhiên, thất nghiệp
tràn lan, đặc biệt là đối với phụ nữ, nạn mù chữ, suy dinh dưỡng và nghèo nàn về
phương tiện y tế…
b. Đẩy mạnh chương trình kế hoạch hoá gia đình, cung cấp thông tin, kiến
thức và dịch vụ đầy đủ cho tất cả những ai muốn qui mô gia đình nhỏ.
ả rập Ai Cập 1958 1965 17
Philippin 1961 1970 16
Thổ Nhĩ Kỳ 1963 1965 17
Ma roc 1966 1974 6
Thái Lan 1970 1970 16

Như vậy, ở hầu hết các nước đang phát triển Châu á, đầu tiên là hội
KHHGĐ, một tổ chức chi Chính phủ, được sự tài trợ quốc tế, đảm nhận việc tổ
chức thực hiện KHHGĐ.
Sau đó, trung bình khoảng 7 – 8 năm, chậm nhất là 20 năm, KHHGĐ mới trở
thành Chương trình của Nhà nước. Đây là điểm khác với Trung Quốc và Việt
Nam. ở các nước này cơ quan quản lý Nhà nước về KHHGĐ thành lập nước, các
Hội KHHGĐ thành lập sau.
Khi đã trở thành Chương trình quốc gia, KHHGĐ cần có cơ quan Chính phủ
đảm trách. Ba mô hình tiêu biểu về tổ chức bộ máy quản lý Chương trình quốc gia
về KHHGĐ như sau:
1. Mô hình trong y tế, mô hình ấn Độ
Bộ Y tế quản lý Chương trình KHHGĐ và năm 1966 được đổi tên là Bộ Y tế
và KHHGĐ. Trong Bộ này đã thành lập Uỷ ban KHHGĐ. Nhiều thành viên thuộc
Bộ Tài chính; thông tin và phát thanh; Lương thực và Nông nghiệp; Lao động và
việc làm….tham gia Uỷ ban KHHGĐ. Cấu trúc này cũng được áp dụng ở cấp
Bang. Đối với các tiêu bang có Văn phòng KHHGĐ gồm các Ban: Chính sách,
Giáo dục, Thông tin, Y tế giải phẫu và Đánh giá. Cơ quan KHHGĐ ở cấp cơ sở là
các Trung tâm Y tế, phục vụ khoảng 10.000 dân. Năm 1977, Chương trình
KHHGĐ của ấn Độ đổi tên thành lớn hơn. Nhưng Chương trình này vẫn do Bộ Y
tế phụ trách. Điều này đã được bình luận là: Bộ y tế là một trong những Bộ yết
nhất và kém phần quan trọng về mặt chính trị ở cấp Trung ương cũng như ở cấp

hợp với một hoặc một số Bộ khác. ở Thái Lan, Bộ Y tế là cơ quan chủ yếu có trách
nhiệm thực hiện Chương trình KHHGĐ. Bộ Phát triển Kinh tế – Xã hội quốc gia
có nhiệm vụ thiết lập, đưa CSDS vào các kế hoạch 5 năm. Hai Bộ này phối hợp
mọi hoạt động liên quan đến DS – KHHGĐ.
ở Hàn Quốc, KHHGĐ là Chương trình quốc gia do Bộ Y tế và Phúc lợi xã hội
kết hợp với Bộ nội vụ đảm trách.
Như vậy, chưa có nước nào xây dựng một Bộ máy quản lý dân số toàn diện
cả sinh, chết, kết hôn, ly hôn và phân bố dân số. Do tính chất phức tạp của các quá
trình dân số, mỗi cơ quan cấp Bộ chỉ quản lý được một hoặc hai trong các quá trình
dân số nói trên. Riêng về quản lý mức sinh – một thành tố cốt lõi của CSDS ở các
nước Châu á đã có nhiều mô hình tổ chức đảm nhận. Mô hình ngoài Y tế được áp
dụng cho các nước lớn và vấn đề dân số thực sự cấp bách như Trung Quốc,
Indonesia, Pakistan, Philippin và Việt Nam. ở ấn Độ, Bộ y tế đã phải đổi tên là Bộ
Y tế và KHHGĐ để nhấn mạnh tầm quan trọng của KHHGĐ. Các nước khác, với
quy mô dân số nhỏ thường giao Chương trình giảm sinh cho Bộ Y tế chủ trì có
phối hợp với các Bộ khác để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với
chương trình này.
4. Sự hợp tác giữa các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ (NGO) trong
việc xây dựng và thực hiện chính sách dân số.
Ngày nay, kế hoạch hoá gia đình đã trở thành Chương trình quốc gia ở hầu
hết các nước Châu á và nhiều nước đang phát triển. Do đó, chương trình được quản
lý bởi cơ quan chức năng của Nhà nước như chúng ta đã thấy trong các mô hình tổ
chức nói trên.
Nhưng khởi xướng ra Chương trình này lại thường là các cá nhân, tổ chức phi
chính phủ, các Hội KHHGĐ. Như Ramrow ở ấn Độ, ShidzeKato ở Nhật Bản,
Helena Wright ở Anh, Margaret Singer ở Mỹ. Đó là các tổ chức:
(1) Về nguyên tắc hoạt động không dựa vào nguồn lực của Chính phủ.
(2) Hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận (phi lợi nhuận)
trường”.
Hiệp hội cha mẹ KHHGĐ Thái Lan (PATT), Hội KHHGĐ Bangladesh
(FPAB)…là những điển hình thành công của các Tổ chức phi Chính phủ.
Sự hợp tác giữa Chính phủ và NGO trong lĩnh vực KHHGĐ là một yếu tố
đảm bảo sự thành công. Đó là một bài học, một kinh nghiệm của các nước Châu á.
5. Đầu tư kinh phí cho việc thực hiện chính sách dân số
Khi kế hoạch hoá gia đình trở thành Chương trình quốc gia và ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong các Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm và
5 năm của nhiều nước, các Chính phủ không ngừng tăng đầu tư Ngân sách cho lĩnh
vực này.
Trong các thập kỷ trước, ở nhiều nước đứng hàng đầu trong danh sách ưu tiên
đầu tư là Công nghiệp, Nông nghiệp hoặc chi phí quân sự. Giờ đây, người ga đã
lập lại trật tự ưu tiên. Cần lưu ý rằng ở Thái Lan, nhờ có KHHGĐ mà hàng năm
giảm được 400.000 cai sinh. Do đó, riêng ngân sách Nhà nước chi cho Y tế mỗi
năm tiết kiệm được 150 triệu đô la Mỹ. Người ta còn tính được rằng mỗi bạt chi
cho KHHGĐ tiết kiệm được 40 bạt chi phí phục vụ con người. Vì vậy, cần quan
niệm chi phí cho KHHGĐ là một loại đầu tư có hiệu quả kinh tế trực tiếp. Điển
hình là đầu tư của Chính phủ ấn Độ. Trong tất cả các thời kỳ kế hoạch từ 1951 đến
nay đều tăng ở mức đột biến (xem bảng 6).
Bảng 6. Đầu tư của Chính phủ ấn Độ cho Chương trình KHHGĐ
Đơn vị: Triệu Rupi
Giai đoạn kế hoạch Kinh phí Hệ số tăng
1951 – 1956 6,5 1,0
1956 – 1961 50,0 7,7

1. Luật pháp và giáo dục truyền thông KHHGĐ
Một số nội dung thông tin về KHHGĐ được coi là nhạy cảm đối với nhiều
nền văn hoá. Do vậy, truyền bá những thông tin này bị luật pháp hạn chế ở nhiều
nước. Lý do chủ yếu là để bảo vệ đạo đức xã hội. Do sự khác biệt lớn về văn hoá
giữa các nước, nên các qui định pháp lý liên quan đến hạn chế truyền bá thông tin
tránh thai cũng rất khác nhau giữa các nước. Tuy vậy các qui định này đang có xu
hướng nới rộng các nội dung cần truyền tải. Năm 1965 Cộng hoà Sát đã huỷ bỏ
điều luật cấm tuyên truyền các BPTT có hiệu lực từ năm 1920. Điều luật này qui
định những người tuyên truyền các thông tin tránh thai công khai có thể bị phạt
hành chính phạt tù.
Phổ biến thông tin KHHGĐ là nội dung trung tâm của các chương trình
KHHGĐ. Cung cấp thông tin đầy đủ về tránh thai một mặt thúc đẩy mức độ sử
dụng biện pháp tránh thai, mặt khác góp phần đảm bảo tính tự nguyện của
KHHGĐ trên cơ sở được thông tin đầy đủ. Tuy vậy, luật pháp dưới nhiều hình
thức đang điều chỉnh những nỗ lực đưa thông tin KHHGĐ đến người cần biết. Các
qui định có thể đưa ra trong luật hình sự, qui định của ngành y tế hoặc luật xuất
bản văn hoá phẩm. Luật pháp cần phải điều chỉnh truyền thông KHHGĐ là vì:
Thứ nhất, các qui định hạn chế truyền bá thông tin tránh thai được đưa ra
nhằm bảo vệ đạo đức xã hội. Việc trao đổi thông tin tránh thai công khai có thể bị
coi là không phù hợp với chuẩn mực văn hoá hiện hành. Có những trường hợp chỉ
cho phép trên một số kênh nhất định, ví dụ cho phép in trong sách báo chứ không
cho phép truyền tin trên phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, đài phát hành
hoặc máy tính. Qui định này khống chế thông tin đến một số đối tượng nhất định.
Các qui định hạn chế ở Tây Ban Nha và Italia dựa trên cơ sở này. Năm 1977, Tổng
biên tập một tờ báo có tiếng ở Mađrit phải đưa ra toà vì đã cho bài có vài chi tiết về
tránh thai. Các qui định hạn chế ở hai nước này đã được sửa đổi năm 1978. Nhiều
trường hợp quảng cáo thuốc dược nhà chức trách y tế qui định chỉ được tiến hành

Trích đoạn Tự nguyện sử dụng và quyền lựa chọn biện pháp tránh tha Khuyến khích người sử dụng các biện pháp tránh thai: Khuyến khích người đình sản: Chính sách đối với người có nhucầu nạo phá thai: Chăm sóc sức khoẻ người mẹ và thai sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status