LUẬN VĂN: Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa pot - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Quan điểm toàn diện trong việc xây
dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa Lời nói đầu

Năm 1975, giải phóng miền Nam, đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, hai
miền Nam Bắc thống nhất, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ lớn nhất đặt ra trước mắt là phải khắc phục được hậu
quả nặng nề của chiến tranh để lại và cải tạo nền kinh tế miền Nam cho phù hợp với
mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao
cấp từ nhiều năm nay không được tạo động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội
chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế, kìm hãm sản xuất
làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và
phát sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Cơ chế đó quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu không phù
hợp với nguyên tắc dân chủ. Các cơ quan quản lý hành chính – kinh tế can thiệp sâu
vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách

lực quản lý kinh tế.
Do vậy, việc nghiên cứu “Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là hết sức quan trọng và cấp bách. Trong
thời gian qua, nhờ có đường lối mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng và nỗ lực phấn đấu
của toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn và rất quan trọng: đã
thoát khỏi khủng hoảng, đạt tốc độ phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện
đáng kế, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia được giữ vững. Từ một
nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, chúng ta đã từng bước
chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, dựa trên qui luật giá
trị và tín hiệu cung cầu của thị trường, có sự quản lý của Nhà nước thông qua sử dụng
các công cụ điều tiết vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền
kinh tế. Từ nền kinh tế đơn thành phần, chúng ta chuyển sang nền kinh tế đa thành
phần với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế. Từ chỗ bị bao vây cấm
vận, chỉ quan hệ với một số nước, chúng ta đã tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập với
nền kinh tế thế giới, bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, đa dạng
hoá, đa phương hoá, phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước. Và nhất là hiện

nay trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia góp ý xây dựng Chiến lược
10 năm phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5
năm 2001 – 2005 thì việc nghiên cứu quan điểm toàn diện lại càng trở nên quan trọng
và cấp thiết .

liên hệ này không có ý nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường thông qua mối liên hệ bên
trong mà phát huy tác dụng đối với các sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy
nhiên, nó cũng là mối liên hệ hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy,
không có một sự kiện nào tồn tại trong trạng thái cô lập tách rời những sự kiện khác.
Chẳng hạn, qua cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại vừa tạo ra thời
cơ, nhưng cũng vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với tất cả các nước chậm phát
triển. Nước ta có tranh thủ được thời cơ do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không, trước
hết và chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân ta.
Xong chúng ta cũng khó xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nếu không hội nhập
quốc tế, không tận dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ mà thế giới đạt được. Nói cách khác, mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan
trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định.
- Có mối liên hệ chung trong toàn bộ thế giới, cũng có mối liên hệ riêng trong
từng lĩnh vực cụ thể.
- Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật hiện tượng, lại có những mối
liên hệ gián tiếp (sự vật, hiện tượng liên hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua một
hay nhiều khâu trung gian).

Từ nhận thức trên, trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có
các yếu tố thị trường, các công cụ quản lý nền kinh tế. Quan điểm toàn diện ở đây thể
hiện ở chỗ muốn xây dựng nền kinh tế thị trường phải xây dựng các yếu tố thị trường
mang tính đồng bộ, tính toàn diện, phải xây dựng các công cụ đồng thời cùng hoạt
động chứ không thể xây dựng riêng rẽ, như vậy sẽ rất khó có tác dụng trong việc xây
dựng nền kinh tế. Các thị trường hàng hoá, dịch vụ cụ thể (thị trường vốn, thị trường
lao động ) mà ngay bản thân nền kinh tế cũng vậy, nó không tồn tại trong trạng thái
cô lapạ, mà trong mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế - chính trị -
ngoại giao; kinh tế, chính trị, đạo đức - pháp quyền; kinh tế - chính trị - khoa học -
nghệ thuật
II. Yêu cầu của quan điểm toàn diện:
Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng về sự vật chúng ta phải

giới khách quan mọi sự vật mọi hiện tượng đều có rất nhiều mối liên hệ. Vì vậy cần
phải xem xét một mặt hoặc một vài mặt mà đã vội kết luận ngay vấn đề, như vậy sẽ
không chính xác. Các quan hệ lợi ích thường thấy lợi ích trước mắt mà không thấy
được cái lợi ích lâu dài.
Chống lại chủ nghĩa triết chung và thuật nguỵ biện (Chủ nghĩa triết chung nhân
danh toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành
một hình ảnh không đúng về sự vật; Thuật nguỵ biện thì lại lập luận chủ quan, lấy thứ
yếu thay cho chủ yếu, lấy cái không cơ bản thay cho cái cơ bản nhằm xuyên tạc biện
chứng của sự vật).

Phần II
Vận dụng lý luận vào việc xây dựng
nền kinh tế thị trường
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi chúng ta
phải kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” (V.I
Lênin).
I. Khái niệm nền kinh tế thị trường, ưu điểm và nhược điểm.
1. Khái niệm:

Kinh tế thị trường thể hiện trình độ cao của kinh tế hàng hoá, quan hệ hàng hoá,
tiền tệ trở nên phổ biến. Trong lịch sử nhân loại đã diễn ra các hình thức kinh tế khác
nhau như: kinh tế tự nhiên, kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế văn minh, đó là nền kinh tế vận động,
phát triển gắn liền với hệ thống đồng bộ các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường
tiền tệ và thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường tài nguyên.
Kinh té thị trường đầy đủ gắn liền với một hệ thống luật lệ thể chế, hệ thống các
đạo luật, các quy phạm là xương sống của nền kinh tế. Về thực chất là những khuôn
khổ pháp lý đảm bảo cho nền kinh tế năng động có trật tự.

2. Mặt tích cực và hạn chế của nền kinh tế thị trường trong đời sống xã hội ở

Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì cạnh tranh cũng xuất hiện.
Tuy thời gian xuất hiện và phát triển của nó chưa nhiều song những vấn đề mà cạnh
tranh đặt ra lại không nhỏ. Cạnh tranh có xu hướng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
mạnh mẽ, điều chỉnh các nguồn lực phát triển của đất nước. Mặt khác, cũng như mặt
trái của cơ chế thị trường, mặt trái của cạnh tranh là những thủ đoạn không lành mạnh.

3. Mục đích của nền kinh tế thị trường:
Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội; sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và
phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tinh thần
năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; lãnh đạo, quản lý nền kinh tế để phát triển đúng hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Đặc điểm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
- Có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều hình thức sở hữu nhưng sở hữu công
cộng là nền tảng.
- Có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà
nước thật sự của dân do dân và vì dân, quản lý kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị
trường và kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế
thị trường, bảo vệ lợi ích Nhà nước, của nhân dân lao động.

- Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng
thời phân phối theo mức đóng góp trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc
lợi xã hội; tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng ngay trong
từng bước phát triển.

II. Thực trạng và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta:
1. Giai đoạn trước năm 1986:
Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách mạng
Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lênin trong chính sách kinh tế mới xem như bước lùi tạm thời.

2. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990:
Trước tình hình đó, tháng 12 - 1986 Đại hội VI đã nhìn thẳng vào sự thật, thừa
nhận những sai lầm, thiếu sót chủ quan trong lãnh đạo và điều hành, chủ yếu là duy ý
chí, nóng vội chủ quan, đốt cháy giai đoạn, muốn tiến hành nhanh, tiến lên CNXH.
Không thể có công cuộc đổi mới nếu xa dời tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng quyết định thực hiện
đường lối đổi mới toà diện mang tính chiến lược, mở ra thời kỳ mới phát triển nền kinh
tế đất nước.
Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Phương hướng đổi
mới cơ chế quản lý được khẳng định là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp để xây
dựng một cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền
kinh tế. Đại hội đã được xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội như “xây
dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao
gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện, cả về chế độ sở
hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi
phối trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện tính ưu việt về năng suất lao động, chất lượng
sản phẩm, thu nhập của người lao động và tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá”. Nền kinh tế nước ta đang từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước thì những sự thay đổi trong quan điểm kinh tế, cơ

cấu kinh tế và cơ chế kinh tế kéo theo sự thay đổi trong quan niệm về vai trò, vị trí và
chức năng của các hiện tượng chính trị, ngoại giao, đạo đức, pháp quyền, khoa học và
nghệ thuật
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy rõ việc phải sử dụng đầy đủ và đúng đắn
quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là một tất yếu
khách quan; phải vận dụng tổng hợp hệ thống các qui luật đang tác động nền kinh tế ví
dụ như quy luật giá trị, quy luật cung cầu Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với

- ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân (về vật chất và tinh
thần); tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhịp độ tăng dân số
Những quyết sách ấy được đưa ra trong thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc”, trong
bối cảnh quốc tế không thuận lợi, nguồn lực cho phát triển bị thiếu hụt dường như đã
tiếp thêm sức mạnh cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế để góp phần đưa đất nước ta
khỏi khủng hoảng.
Trong 5 năm đầu (1991 - 1995), tuy nền kinh tế vẫn đứng trước nhiều khó khăn,
thách thức nhưng với việc triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng,
phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đã tạo ra nhiều động lực phát triển mới, hầu
hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991 -1995 được hoàn thành vượt mức và
toàn diện, mà các kế hoạch 5 năm trước đó chưa bao giờ thực hiện được.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,2% (trong khi đó mục tiêu
ta đạt ra là 5- 6%), trong đó nông nghiệp tăng 4,5%; công nghiệp và xây dựng tăng
13,6% và dịch vụ tăng 8,8%, lạm phát kìm chế ổn định ở mức thấp (bình quân
23,4%/năm) (Theo nguồn Bộ kế hoạch và đầu tư), đầu tư xã hội tăng nhanh, thị trường
xuất nhập khẩu mở rộng Như vậy, kết quả đổi mới đạt được trong giai đoạn này đã
chứng minh cho đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, thoe hướng “mở” được
đề ra từ Đại hội VI là đúng đắn. Nó cũng chứng tỏ bài học kiên trì con đường vững
vàng, xoá bỏ tập trung hoá cao độ, giải phóng mọi nguồn lực, giải toả tư tưởng kỳ thị
khu vực tư nhân đi liền với khẳng định quyền sở hữu tư nhân, hoàn thiện luật pháp, cơ
chế, chính sách một cách đồng bộ và nhất quán đã là những nhân tố quan trọng góp
phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng.
Kết thúc thời kỳ kế hoạch 1991 - 1995, Đại hội VII đã kết luận: “ Đất nước ta đã
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo

được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá”.
Giai đoạn 1996 -2000 được xác định là bước quan trọng của thời kỳ phát triển
mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu và các chỉ tiêu phát
triển của kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 đã được xây dựng với mức phấn đấu rất cao, cả

Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện - từ
đổi mới kinh tế là trọng tâm, đến đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội; từ đổi mới tư duy,
nhận thức, tư tưởng đến hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vấn đề
có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp đổi mới là Đảng phải đổi mới trên cả ba lĩnh
vực: đổi mới tư duy; đổi mới tổ chức và cán bộ; đổi mới phong cách làm việc. Đổi mới
tư duy là đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều,
chủ quan, siêu hình; là phải đấu tranh loại bỏ những quan điểm sai trái, khắc phục
những quan điểm lạc hậu về chủ nghĩa xã hội, về công nghiệp hoá, về cải tạo xã hội
chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế Đổi mới tư duy nhằm quán triệt phương pháp tư
duy biện chứng duy vật, hình thành những quan điểm mới về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung và phát triển những thành tựu lý luận mà Đảng đã đạt
được.
Từ Đại hội VI đến nay đã gần15 năm, đã qua Đại hội VII, hội nghị đại biểu giữa
nhiệm kỳ đại hội VIII, đường lối đổi mới đã được cụ thể hoấ và phát triển, đem lại
những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, vẫn khẳng định mục tiêu chủ
nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta đã xuất hiện bệnh chủ quan duy ý chí. Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định: “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xây dựng mục tiêu và phương án xã hội chủ
nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan:
nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có
lúc đẩy quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh
tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền
tệ, tiêng lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm

trọng. Quán triệt nguyên tắc khách quan, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, nhiệm vụ này chỉ được thực hiện nếu chúng ta kết hợp
chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học. ”

tinh hoa văn hoá nhân loại.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta sở dĩ giữ vững được vai trò lãnh
đạo và lãnh đạo thành công trong sự nghiệp đổi mới cũng trước hết nhờ Đảng ta không
xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không xa
rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, không mất đi bản chất của giai cấp công nhân. Thành
công và thưc tiễn sinh động của công cuộc đổi mới trên đất nước ta dưới sự lãnh đạo
của Đảng ta đã và đang chứng minh sức sống và làm sáng tỏ bản chất cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn trong quá trình đổi mới đất nước càng làm nổi bật vai trò của lý luận, đồng
thời càng thấy rõ sự cần thiết phải tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc để không chỉ làm
sáng tỏ mà còn phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều
kiện và hoàn cảnh mới của đất nước ta.
Vào thời điểm đầu của giai đoạn này, chế độ xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ ở các
nước Đông Âu và Liên Xô cũ, gây nên một tác động xấu về tình cảm, niềm tin và cả sự
hoài nghi về chủ nghĩa xã hội. Dẫn đến xã hội chủ nghĩa tạm thời lâm vào tình trạng
thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn
đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ
bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức
biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra
dưới nhiều hình thức. Những năm gần đây nước ta chịu sự tác động bất lợi của cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính nó nổ ra ở khu vực bị thiên tai, thiệt hại liên tiếp xảy ra ở
các vùng.
Lênin đã từng chỉ ra rằng: có trên cơ sở hiểu đúng thời đại, chúng ta mới có thể
định ra chiến lược và sách lược đúng đắn. Khẳng định tính thời đại có căn cứ vững
chắc giúp củng cố lòng tin của người cộng sản vào con đường đã chọn, nó bác bỏ
những quan điểm chỉ thấy mặt lực lượng sản xuất nhưng phủ nhận nội dung giai cấp,

nội dung chính trị, kinh tế, xã hội trong sự vận động đầy mâu thuẫn của hình thái kinh
tế.


(3) Phát triển thị trường vốn:
Phát triển nhanh thị trường vốn, nhất là thị trường vốn dài hạn và trung hạn là
yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho nền kinh tế phát triển và có tăng trưởng cao. Hình
thành đồng bộ thị trường tiền tệ; khả năng chuyển đổi của đồng Việt nam .
Tổ chức vận hành thị trường chứng khoán an toàn, hiệu quả.
Việc tổ chức các thị trường thu hút là đảm bảo động viên mọi tầng lớp dân cư có
tiền đưa vào đầu tư gián tiếp bằng gửi tiền vào ngân hàng. Yếu tố quan trọng để người
dân đưa tiền vào gửi ngân hàng là phải bảo đảm ổn định kinh tế, không làm tăng giá,
đồng tiền ổn định, đồng thời các ngân hàng thương mại phải cải tiến các thủ tục hành
chính, gửi tiền vào cùng nhưng rút ra một cách thuận lợi.
Ngoài các thị trường chủ yếu như trên, còn phải phát hiện thị trường bất động
sản, thị trường nhà ở, thị trường đất đai,
Như vậy, việc vận dụng quan điểm phát triển toàn diện, đồng bộ các yếu tố thị
trường, các loại thị trường là yếu tố rất cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát
triển. Tuy nhiên việc phát triển các yếu tố thị trường cần được định hướng của Nhà
nước bằng hàng loạt các công cụ quản lý nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

2. Hoàn chỉnh đồng bộ và toàn diện hệ thống các công cụ quản lý kinh tế thị
trường.
Để tiến hành quản lý kinh tế, Nhà nước phải sử dụng một hệ thống các công cụ
quản lý, đó là các phương tiện mà Nhà nước sử dụng để tác động vào nền kinh tế nhằm
đạt được những mong muốn của mình.
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: “Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp
luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách, các đòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực của khu
vực kinh tế Nhà nước”.
Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường,
tạo điều kiện để phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục, hạn chế những tác động
tiêu cực của thị trường.

Hệ thống các công cụ được Đảng và Nhà nước ta chỉ rõ là:
Kết luận
ở nước ta, thời gianqua việc tổ chức lại nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã gặt hái được những thành công mà thế giới đánh giá rất
cao. Đó là chúng ta đã biết vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện trong việc phát
triển nền kinh tế ngay từ khi bắt đầu đổi mới. Những bài học đổi mới do Đại hội VI,
VII, VIII nêu lên đến nay vẫn còn có giá trị lớn. Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đứng trước những khó khăn, thử thách, những biến
động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng ta luôn luôn kiên định mục tiêu
cách mạng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trên
cơ sở đó xây dựng các chủ trương chính sách đổi mới. Chúng ta kiên trì bảo vệ những
truyền thống quí báu của dân tộc và những thành tựu cách mạng đã đạt được, giữ vững
mục tiêu độc lập dân tộc, vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đối với người cán bộ quản lý kinh tế, tìa chính trong điều kiện hiện nay, bài học
xuất phát từ những thực tế khách quan đồng thời phát huy nỗ lực chủ quan càng có ý
nghĩa quan trọng. Xoá bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp cũng có nghĩa là đòi hỏi người làm
công tác quản lý kinh tế tài chính phải năng động, sáng tạo, nhạy bén, nắm bắt được
thực tế, quy luật vận động và phát triển của nó. Kinh nghiệm cho thấy rằng, đôi khi chỉ
cần một nhận thức không đùng, một thông tin xuyên tạc đã có thể dẫn tới thiệt hại
lớn về kinh tế; ngược lại có khi chỉ cần nhạy bén một chút, biết tận dụng đúng thời cơ
thì cũng có thể đạt tới thắng lợi không nhỏ. Chính vì vậy mà phương châm kinh doanh
của người Nhật là nhanh như gió, kín như rừng, mạnh như lửa và vững như núi.
Chúng ta nhận thức rằng, những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong thời
gian qua đó là một sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta. Đồng thời những tồn tại và


nhìn nhận, đánh giá, và phát triển các sự vật, hiện tượng là một điều đáng quan tâm và
hết sức quan trọng.

tài liệu tham khảo
a. Sách tham khảo
1. Giáo trình “Triết học Mác - Lênin”, tập 2 NXB Chính trị quốc gia - năm
1997.
2. văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII
3. Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2000 mục tiêu, phương hướng và giải pháp.
4. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội IX của Đảng.
5. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước
- PGS, PTS Nguyễn Trọng Phúc - NXB Chính trị quốc gia.
b. Tạp chí tham khảo
1. Tạp chí Cộng sản số 19 tháng 10/1998
2. Tạp chí Cộng sản số 7 tháng 4/2000
3. Tạp chí Cộng sản số 17 tháng 9/2000
4. Tạp chí Cộng sản số 24 tháng 12/2000
5. Một số tạp chí khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status