BÁO CHÍ VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ
THƯƠNG HIỆU VIỆT
(Khảo sát một số sản phẩm báo chí trên Báo in và Báo mạng điện tử)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số
:
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu, các số liệu và
dẫn chứng trong luận văn đều có cơ sở rõ ràng và trung thực. Những kết quả
khảo sát đưa ra trong luận văn này chưa từng được công bố trong các công
trình khác.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1............................................................................................................ 10
1.1. Một số khái niệm và những vấn đề đặt ra hiện nay đối với doanh nghiệp Việt
Nam.............................................................................................................................10
1.1.1. Khái niệm xây dựng, quảng bá .....................................................................10
1.1.2. Khái niệm thương hiệu ...................................................................................10
1.1.3. Các chức năng của thương hiệu.....................................................................12
1.1.4. Khái niệm thương hiệu Việt, xây dựng thương hiệu Việt..........................13
Biểu đồ 2.3: Kết quả phân loại các thể loại tác phẩm báo chí 2.3.3. Hình thức
thông điệp được thể hiện qua ngôn ngữ ..................................................................59
2.4. Những ưu điểm và hạn chế về mặt nội dung và hình thức.................................60
2.4.1. Những ưu điểm ................................................................................................60
2.4.2. Những hạn chế..................................................................................................61
CHƯƠNG 3............................................................................................................ 63
3.1. Hiệu quả tác động ..............................................................................................63
3.1.1. Về phía công chúng báo chí.............................................................................63
3.1.2. Về phía doanh nghiệp.......................................................................................65
3.2. Những vấn đề đặt ra ...........................................................................................66
3.2.1. Về phía doanh nghiệp.......................................................................................66
3.2.2. Về phía cơ quan báo chí..................................................................................68
3.2.3. Về phía Đảng và Nhà nước............................................................................69
3.3. Một số khuyến nghị, giải pháp............................................................................70
3.3.1. Về phía doanh nghiệp.......................................................................................70
3.3.2. Về phía cơ quan báo chí..................................................................................73
3.3.3. Về phía Đảng và Nhà nước............................................................................79
KẾT LUẬN............................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................1
PHỤ LỤC................................................................................................................. 5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Sau gần 20 năm đổi mới, nền kinh tế chuyển từ bao cấp sang kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước đã đem lại cho đất nước ta những đổi thay
diệu kỳ. Cùng đóng góp vào những thành quả ấy và cũng được hưởng những
thành quả ấy, các phương tiện truyền thông đã và đang có những bước phát
triển nhanh chưa từng thấy với đội ngũ những người làm báo đông đảo và có
trình độ chuyên môn cao, nắm vững và làm chủ những phương tiện làm báo
hiện đại.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới, mà đặc trưng là công
nghệ thông tin và truyền thông đã đưa nhân loại gần nhau hơn trong ứng xử,
đối thoại và giao lưu về mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các loại hình truyền
thông đại chúng được kết nối trên quy mô toàn cầu được coi là phương tiện
chuyển tải thông tin, là kênh xây dựng và quảng bá hình ảnh thương hiệu tốt
nhất đến với người tiêu dùng, đến với các quốc gia, dân tộc trong cộng đồng
thế giới.
1
Xây dựng và quảng bá thương hiệu Việt là một trong những vấn đề cần
phải được quan tâm hiện nay. Bởi tiến vào xu thế hội nhập quốc tế, mỗi quốc
gia, mỗi dân tộc đều cần phải thể hiện vị thế, bản sắc riêng của mình trong
thời hội nhập. Việt Nam là một đất nước với bề dày lịch sử lâu đời, với rất
nhiều sản phẩm hàng hóa đa dạng nhưng chưa thực sự tạo được dấu ấn riêng
của đất nước trên mỗi sản phẩm hàng hóa đó. Hay nói cách khác khâu xây
dựng và quảng bá thương hiệu chưa thật sự được các doanh nghiệp quan tâm
đúng mức.
Với những lý trên, luận văn đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu hoạt động
thông tin của báo chí trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và quảng
bá thương hiệu Việt hiện nay, với hy vọng góp phần đưa ra những đề xuất,
Chỉ đến vài năm gần đây các doanh nghiệp tư nhân mới nở rộ và đã
góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền kinh tế đất nước. Do thời gian
thành lập và phát triển quá ngắn nên cũng khó có thể xây dựng được một
thương hiệu mạnh tầm cỡ quốc tế hay khu vực. Thua thiệt của thương hiệu
Việt không chỉ do thời gian hoạt động ngắn, kinh nghiệm tham gia thương
trường còn non yếu, mà còn tại cái nghèo. Để tham gia hoạt động kinh doanh
lâu dài với những ý tưởng lớn và táo bạo, cần có tiền.
Để cạnh tranh với các đối thủ khác, cần có tiền. Để quảng bá tên tuổi
của mình ra khắp nơi trên thế giới, cần có tiền. Nhưng vốn lại chính là cái mà
các doanh nghiệp Việt yếu lại vừa thiếu. Khi đất nước còn nghèo thì chuyện
kêu gọi vốn là một điều vô cùng khó khăn. Chỉ cần thấy con số GDP tuyệt đối
của các nước năm 2008 là 1.487 nghìn tỷ đồng, có khi chỉ bằng một phần
mười doanh thu của một tập đoàn lớn trên thế giới. Không chỉ thiếu thốn, các
doanh nghiệp Việt còn yếu trong cả chiến lược phát triển kinh doanh. Có thể
do kinh nghiệm còn non trẻ, do một thời gian dài sống trong sự bao cấp của
nhà nước nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam hờ hững, thậm chí không có khái
niệm xây dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu của mình.
Với những doanh nghiệp lớn trên thế giới, hàng năm riêng tiền chi ra
để quảng cáo cũng đã chiếm hơn 1/3 tổng doanh thu, nhưng với nhiều doanh
3
nghiệp Việt đây là một chuyện khó khăn. Cái vòng luẩn quẩn bắt đầu bằng
việc không có tiền quảng bá thương hiệu dẫn đến bán được ít hàng và giá trị
sản phẩm thấp, đây có thể được coi là nguyên nhân chính khiến cho các
doanh nghiệp không có tiền đầu tư vào việc xây dựng và quảng bá thương
hiệu của mình.
Bên cạnh đó, là uy tín của hàng hóa Việt được đành giá rất thấp, không
chỉ trên thị trường thế giới mà ngay chính ở thị trường trong nước. Trong tâm
khách hàng lập tức có ngay một chân dung chính xác về sản phẩm đó. Để
người tiêu dùng trong và ngoài nước biết đến sản phẩm mang thương hiệu của
mình không thể không quan tâm đến sự góp mặt của báo chí. Vai trò của báo
chí trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu là vô cùng quan trọng, nó
góp phần cho sự thành công của thương hiệu đó.
Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn đó, luận văn đã lựa
chọn nghiên cứu vấn đề “Báo chí với việc xây dựng và quảng bá thương
hiệu Việt” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
* Sách tham khảo
Năm 2005, trong cuốn sách tham khảo: “Vai trò của báo chí trong
phát triển doanh nghiệp” do TS Phạm Tất Thắng và TS Hoàng Hải chủ biên
đã đề cập ít nhiều đến mối liên hệ giữa vai trò của báo chí trong việc hỗ trợ
doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu, nhưng tiếp cận chủ yếu ở
góc độ các doanh nghiệp nhà nước.
Bên cạnh đó, qua quá trình tìm hiểu, tác giả thấy có một số sách tham
khảo liên quan đến vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp,
nhưng lại không gắn với hoạt động báo chí mà chủ yếu là đề cập đến cách để
xây dựng thành công một thương hiệu hay kinh nghiệm xây dựng thương hiệu
thành công của nước ngoài. Ngoài ra, tác giả còn tham khảo thêm một số
trang web chuyên cung cấp các vấn đề liên quan đến việc xây dựng và quảng
bá thương hiệu doanh nghiệp hiện nay.
* Luận văn thạc sĩ:
5
+ Năm 2009, Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Thu Hương với đề tài
“Vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu VTV”. Luận văn chủ yếu đề cập
đến vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu VTV của Đài Truyền hình
trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu Việt.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu dựa trên tư liệu khảo sát một số sản phẩm báo chí
trên 2 loại hình Báo in và Báo mạng điện tử.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Để hoàn thành những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, luận văn sẽ được
thực hiện dựa trên quan điểm phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng tổng hợp các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về báo chí, về phát triển doanh nghiệp, xây dựng và quảng bá thương
hiệu Việt…
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu còn dựa trên một số tài liệu liên
quan đến vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu và vận dụng một số kết
luận cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động xây dựng và quảng bá thương
hiệu Việt hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Để thực hiện đề tài, người viết sẽ sử dụng các phương pháp sau:
+ Khảo sát, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu phân tích thực tế
hoạt động thông tin của báo chí trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu
Việt. Qua đó, thấy được những thuận lợi và khó khăn của báo chí trong việc
quảng bá và xây dựng thương hiệu Việt hiện nay. Và sự cần thiết phải xây
dựng thương hiệu Việt trong thời đại ngày nay.
+ Nghiên cứu các tài liệu văn bản và khảo sát, điều tra một số doanh
nghiệp, công chúng báo chí, phỏng vấn sâu các nhà báo viết về mảng doanh
nghiệp doanh nhân. Từ đó đề ra một số giải pháp để báo chí xây dựng và
quảng bá thương hiệu Việt ngày càng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực
tế ở Việt Nam hiện nay.
7
8
những nhận thức về mặt lý luận lẫn thực tiễn về vai trò của báo chí trong hoạt
động xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam
trong thời hội nhập, từ đó góp phần nâng cao tính cạnh tranh cho các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay và trong tương lai.
Qua đó, tổng kết những kinh nghiệm, tìm kiếm những giải pháp góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí trong hoạt động thông tin xây
dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp hiện nay. Luận văn là
công trình nghiên cứu đề cập một cách cơ bản và hệ thống về hoạt động thông
tin của báo chí trong vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu Việt. Do đó,
nó có ý nghĩa tích cực nhằm chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan báo chí, các
doanh nghiệp đã và đang quan tâm tới vấn đề xây dựng và quảng bá thương
hiệu Việt. Mặt khác giúp cho các nhà quản lý báo chí có cái nhìn tổng quan về
thực trạng hoạt động thông tin của báo chí trong việc xây dựng và quảng bá
thương hiệu Việt hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn bao gồm 3
chương.
9
CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC
XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU VIỆT
1.1. Một số khái niệm và những vấn đề đặt ra hiện nay đối với doanh
nghiệp Việt Nam
1.1.1. Khái niệm xây dựng, quảng bá
âm thanh, nhân vật đại diện…”[26; tr.19]
Ngoài ra, có quan niệm cho rằng: thương hiệu là tập hợp tất cả những
cảm nhận, những kinh nghiệm của khách hàng và người sử dụng về một sản
phẩm, một dịch vụ hay một công ty qua nhiều năm. Đó có thể là những kinh
nghiệm tốt, xấu hoặc không có bất kỳ kinh nghiệm nào. Như vậy, thương
hiệu là cảm tính và nó tồn tại trong trái tim, trong tâm trí của người tiêu dùng.
Nó hoàn toàn không phải chỉ là biểu tượng, là khẩu hiệu hay dấu hiệu thương
mại.
Theo tác giả Nguyễn Minh Trí, khái niệm thương hiệu xuất hiện từ
nhiều thế kỷ trước, ban đầu nó chỉ được biểu hiện là nhãn hiệu thương mại
của một loại hàng hóa đặc biệt. Sau nó được hiểu là “danh tiếng” của cơ sở
sản xuất, bán hàng. [16; tr 10]
Tuy nhiên, để nhận diện thương hiệu qua hình tượng, dấu hiệu của
hàng hóa là chưa đủ. Yếu tố làm cho thương hiệu đi vào tâm trí khách hàng
chính là chất lượng hàng hóa, dịch vụ, cách ứng xử của doanh nghiệp đối với
cộng đồng; những hiệu quả và tiện ích của sản phẩm mang lại cho người tiêu
dùng. Thông qua các dấu hiệu, người tiêu dùng dễ dàng nhận biết hàng hóa
của doanh nghiệp trong muôn vàn những hàng hóa của doanh nghiệp trong
muôn vàn hàng hóa khác. Những dấu hiệu còn lại là căn cứ để pháp luật bảo
vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp trong cuộc chiến chống lại sự cạnh
tranh không lành mạnh. Pháp luật chỉ bảo hộ những dấu hiệu đã đăng ký bảo
hộ.
11
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm “Marketing” và
“thương hiệu”. Từ “Marketing” thì đã có từ lâu, nhưng từ “thương hiệu” thì
chỉ mới có từ khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước. Vậy một câu hỏi đặt ra
là, làm thương hiệu có phải là làm marketing hay không?. Để trả lời câu hỏi
việc thiết kế, xây dựng và quảng bá thương hiệu sao cho khách hàng dễ nhận
biết, khó quên là quan trọng nhất. Bằng nhiều yếu tố và thành phần đặc trưng
của thương hiệu, mỗi công ty có những chiến lược khác nhau. Ví dụ: người
tiêu dung thấy logo hình lưỡi liềm, họ nghĩ đến thương hiệu hãng giầy Nike.
- Tạo nên định hướng và ý nghĩa cho sản phẩm: Chiến lược thương
hiệu đòi sự nhất quán lâu dài. Mỗi sản phẩm và thương hiệu công ty đều hỗ
trợ qua lại trong suốt quá trình xây dựng thương hiệu. Sự nhất quán này thể
hiện qua thiết kế thương hiệu, những cam kết chung, các chương trình
marketing, sự hợp tác của cán bộ nhân viên. Ví dụ: logo đôi bò húc màu vàng
của thương hiệu Red Bull làm tăng tính cách mạnh mẽ, nhiều dinh dưỡng của
sản phẩm.
- Là một lời cam kết giữa nhà sản xuất và khách hàng: trên thị trường
có nhiều sản phẩm cùng chủng loại của các công ty khác nhau. Công ty nào
có chiến lược thương hiệu với cam kết rõ ràng sẽ tạo sự nhận biết và liên
tưởng cao của người tiêu dung. Hơn nữa, sản phẩm có thương hiệu sẽ dễ
dàng cho người sử dụng khi chọn mua sản phẩm, thiết lập mối quan hệ chặt
chẽ giữa khách hàng và thương hiệu. Ví dụ: người tiêu dùng sẵn sang mua xe
máy của hãng Honda với giá cao hơn hẳn các hãng khác vì tin tưởng vào tính
bền vững, tiêu tốn ít nguyên liệu…[26]
1.1.4. Khái niệm thương hiệu Việt, xây dựng thương hiệu Việt
Những năm gần đây, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thương
hiệu đang trở thành một vấn đề bức xúc đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Ý thức về giá trị thương hiệu là một tài sản lớn nhất, quý giá nhất - của một
quốc gia cũng như của các doanh nghiệp - đã bắt dầu hình thành trong doanh
nghiệp VN.
13
Thời gian gần đây, thuật ngữ “Thương hiệu Việt” được nhắc nhiều
chính là thương hiệu công ty. Ví dụ như thương hiệu Vietnam Airlines vừa là
thương hiệu của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, vừa là thương hiệu
dịch vụ hàng không. [2]
Thương hiệu dịch vụ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với các
công ty dịch vụ khi đề cập đến các vấn đề về tính vô hình và tính biến đổi vì
nó có thể làm cho bản chất trừu tượng của dịch vụ trở nên cụ thể hơn, nó báo
hiệu cho khách hàng biết công ty đã thiết kế một dịch vụ riêng biệt và xứng
đáng với khách hàng.
Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh xây dựng thương hiệu chính
là quá trình tạo dựng hình ảnh về sản phẩm, dịch vụ hay doanh nghiệp. Từ đó,
cố định những hình ảnh đó trong tâm trí khách hàng mục tiêu và công chúng.
Vì thế hoạt động truyền thông thương hiệu đóng vai trò quan trọng để truyền
tải hình ảnh và thông điệp của doanh nghiệp đến với công chúng, khách hàng
sẽ lựa chọn sản phẩm mà họ có được nhiều thông tin và thông tin chính xác
nhất về chúng.[26]
1.2. Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp Việt Nam.
1.2.1. Doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh.
Trong thời điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế trên cả ba
phương diện: đơn phương, song phương và đa phương. Việt Nam đã từng
bước tham gia vào thể chế kinh tế khu vực và thế giới, đã tạo cho các doanh
nghiệp nhiều thuận lợi để phát triển thị trường, huy động vốn từ ngoài nước
để phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm.
Bên cạnh những thuận lợi chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, mà
khó khăn lớn nhất là cạnh tranh trong điều kiện không cân sức. Tuy có nhiều
thách thức và mất mát, ta không có con đường nào khác là phải hội nhập vào
kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải khẩn trương tạo thế và
lực cho mình để tận dụng những thuận lợi và hạn chế những khó khăn để
đứng vững và vươn lên trong cuộc cạnh tranh gay gắt hiện nay. [33, tr.7,8]
16
biết cách đẩy mạnh các thương hiệu hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp tại
thị trường trong nước.[45, tr]
1.2.2. Vai trò và giá trị tài sản thương hiệu đối với doanh nghiệp Việt
Stephen King của tập đoàn WPP đã từng khẳng định rằng: “Sản
phẩm là cái mà doanh nghiệp tạo ra trong sản xuất, còn cái mà khách hàng
chọn mua lại là thương hiệu. Sản phẩm có thể bị các đối thủ cạnh tranh bắt
chước còn thương hiệu là tài sản riêng của doanh nghiệp. Sản phẩm nhanh
chóng bị lạc hậu còn thương hiệu (nếu thành công) thì có thể còn mãi với
thời gian”.[49]
Theo Martin Roll, tác giả cuốn sách Chiến lược thương hiệu Châu
Á cho rằng: “Thương hiệu là tài sản vô hình, động lực quan trọng của nhiều
công ty. Nếu mục tiêu chủ yếu của ban giám đốc công ty là xây dựng hay duy
trì và phát triển giá trị cho cổ đông thì xây dựng thương hiệu chính là cách
tốt nhất để gia tăng giá trị đó”. Trên hai sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất
của Mỹ là NewYork và Nasdaq, giá trị vô hình chiếm tới 50-70% tỷ lệ huy
động vốn chứng minh rõ ràng thị trường luôn đánh giá rất cao loại tài sản vô
hình này. Sức mạnh của giá trị thương hiệu chính là một chỉ số cho kết quả
tài chính trong tương lai. Hiểu được điều đó, các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay đang hết sức nỗ lực xây dựng thương hiệu, tạo chỗ đứng trên thị
trường trong nước và tham vọng hơn là vươn ra thị trường nước ngoài bằng
nhiều chiến lược khác nhau. [36]
Vậy giá trị là những gì?
Thứ nhất, thương hiệu góp phần quan trọng tăng thu lợi nhuận
trong tương lai bằng những giá trị tăng thêm của hàng hóa. Trên thế giới,
nhiều công ty trở thành nổi tiếng không phải chỉ do quy mô đầu tư và đổi mới
công nghệ, mà còn nhờ chính thương hiệu. Bản thân thương hiệu cũng đã
Thương hiệu không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp trong cạnh
tranh trên thương trường, nó còn có vai trò rất lớn đối với người tiêu dùng.
Thứ nhất, thương hiệu tạo lòng tin của người tiêu dùng về chất
lượng, giá cả hàng hóa mà họ tiêu thụ, sử dụng. Thương hiệu sẽ cho người
18
tiêu dùng biết được nguồn gốc của sản phẩm và tin được rằng hàng hóa đó có
chất lượng bảo đảm và đã được kiểm chứng qua thời gian. Như vậy, người
tiêu dùng sẽ không mất nhiều thời gian tìm kiếm và nghiên cứu sản phẩm mà
họ có nhu cầu.
Thứ hai, thương hiệu sẽ góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng. Thương hiệu được nhà nước bảo hộ sẽ ngăn ngừa tình trạng
sản phẩm bị làm giả, làm nhái nhằm lừa gạt người tiêu dùng.
Thứ ba, thương hiệu khuyến khích tâm lý tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ có thương hiệu nổi tiếng. Trong xã hội của các nước công nghiệp phát
triển, tầng lớp những người tiêu dùng có thu nhập cao, họ không chỉ sẵn sàng
trả tiền cho giá trị sản phẩm mà còn trả tiền cho sự hài lòng của mình khi mua
được sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng.
Thứ tư, nếu các thương hiệu của Việt Nam được đông đảo người
tiêu dùng biết đến tại thị trường nước ngoài sẽ củng cố uy tín cho sản phẩm
Việt Nam và vị thế của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Và
chính điều này cũng sẽ góp phần tích cực cho việc thu hút FDI vào Việt Nam,
tạo tiền đề đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững và từng bước rút ngắn khoảng
cách so với các nước về kinh tế
Trong bối cảnh nước ta chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới, việc xây dựng được các thương hiệu mạnh sẽ là rào cả chống lại sự xâm
nhập của các hàng hóa kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài, bảo vệ thị trường
nội địa, bảo vệ người tiêu dùng.