LUẬN VĂN: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh giai đoạn hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh
giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng và chính quyền vừa phát huy được vai trò của
Nhà nước vừa giữ được sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động của HĐND các cấp ngày
càng thực chất và hiệu quả hơn, góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống
chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy kinh tế-xã hội ngày càng phát
triển. Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng
Thủ đô với tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng đúng
hướng, chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững.
Tuy nhiên, ở một số nơi cấp uỷ đảng (nhất là ở cơ sở) chưa làm cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND, chưa phát huy được vai trò của HĐND, UBND, chưa đề
cao ý thức chấp hành các nghị quyết của HĐND. Nhiều cấp uỷ đảng còn lúng túng
trong phương thức lãnh đạo đối với HĐND, chưa có định hướng kịp thời trong
việc kiện toàn, củng cố tổ chức, trong việc duy trì các hoạt động của HĐND, chưa
kiểm tra sát sao việc thực hiện các nghị quyết và giải quyết các kiến nghị của đại
biểu HĐND.
Mặt khác, điều kiện bối cảnh quốc tế hiện nay còn nhiều diễn biến phức tạp,
khó lường. Các thế lực thù địch, phản động quốc tế vẫn điên cuồng chống phá cách
mạng Việt Nam, chúng dùng mọi thủ đoạn nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ giữa Đảng với Nhà
nước làm cho Đảng ta suy yếu tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Hiện nay, nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Tuy đã đạt được một số kết quả nhưng nhìn chung
bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, sự phân công nhiệm vụ giữa
các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhiều khi chưa cụ thể, tính thống nhất

của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước chưa cao, hiệu lực, hiệu quả quản lý
của bộ máy nhà nước còn hạn chế. Để thiết thực thực hiện tinh gọn bộ máy nhà
nước, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã ra nghị quyết về việc thí điểm không
tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Theo tinh thần nghị quyết này, tỉnh Vĩnh

Nghiêm làm chủ biên, GS-TS Trần Ngọc Quang-TS Ngô Kim Ngân (đồng chủ
biên) “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” (Sách tham
khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Đề tài cấp nhà nước KX 05 06 (1994)
“Đặc điểm nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, mối
quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội”, do PGS Vũ Hữu
Ngoạn làm chủ nhiệm, Viện Xây dựng Đảng thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì.
Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ ở cơ sở đào tạo Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh có: Trần Vĩnh Tuyến: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Thành uỷ đối với chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
(2005). Tô Văn Minh:“Sự lãnh đạo của huyện uỷ đối với chính quyền huyện Đông
Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (2006). Trần
Văn Tường: Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (2006).
Nguyễn Vinh Hà: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ, (2007).
Các bài đăng trên tạp chí có: Nguyễn Trọng Phúc (2000), Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, Tạp chí Nghiên cứu lý
luận, số 9, tr 18-22. Lê Hữu Nghĩa (2001), Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý của chính quyền cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 19. Lê Đức
Bình (2003), “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước”, Tạp chí Cộng sản, số 19, tr. 26-30. Phạm Ngọc Quang-Nguyễn Khánh

(2004), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội”,
Tạp chí Cộng sản, số 9. GS.TS Mạch Quang Thắng: Về vấn đề tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2008.
Các đề tài khoa học, luận văn, bài báo khoa học trên đây chủ yếu đi vào nghiên
cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước thường là ở cấp Trung ương, chưa đề cập vấn đề đổi mới phương thức

thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh, đổi mới phương thức lãnh đạo
đối với công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo hoạt
động giám sát, tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
Gắn với các nội dung này là các nhân tố ảnh hưởng đến việc đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với HĐND tỉnh về nhận thức, về sự chỉ đạo, phối hợp về
điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện và điều kiện làm việc của Tỉnh uỷ và HĐND
tỉnh.
Thời gian nghiên cứu là từ đầu nhiệm kỳ, tức là từ năm 2004 đến nay và đề
xuất giải pháp từ nay đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, lãnh
đạo và phát huy vai trò của Nhà nước (trong đó có HĐND), lãnh đạo Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khác.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn phương thức lãnh đạo của một
số tỉnh và Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với tổ chức và hoạt động của HĐND tỉnh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn kết hợp sử
dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích, phương pháp

phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp tổng kết thực tiễn
Trong đề tài này tác giả luận văn đã sử dụng những kinh nghiệm trong thực tế công
tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ các tỉnh: Lạng Sơn, Sơn La, Thái Nguyên và Phú Thọ
cũng như thực tế công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với HĐND tỉnh
những năm gần đây phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình.
6. Đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo
của của Tỉnh uỷ đối với HĐND tỉnh trên cơ sở khái quát các quan điểm của Đảng,

2
. Dân số 1.000.800 người (theo tổng điều tra dân số 1/4/2009) với mật
độ dân số 813 người/km
2
.
Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Là
cầu nối giữa các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội, liền cảng
hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 nối thông với cảng Hải Phòng
qua quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai tạo điều kiện giao lưu với
các trung tâm kinh tế công nghiệp Côn Minh, Lào Cai và các vùng giáp Hà Giang
của Trung Quốc.

1.1.1.1. Về điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng
đồng bằng châu thổ sông Hồng. Do vậy địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông
Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi.
Vùng núi chiếm phần lớn diện tích của huyện Sông Lô, Lập Thạch, Tam Đảo,
4 xã của huyện Bình Xuyên và 1 xã của thị xã Phúc Yên.
Vùng trung du chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương, Bình Xuyên và
thành phố Vĩnh Yên.
Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và thị
xã Phúc Yên.
Sự phân biệt thành 3 vùng sinh thái rõ rệt cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa
và 2 con sông chính là sông Hồng, sông Lô và rừng quốc gia Tam Đảo với nhiều

danh lam thắng cảnh tạo cho Vĩnh Phúc sớm có điều kiện phát triển và có nhiều
giá trị văn hoá ưu việt.

1.1.1.2. Về lịch sử phát triển và các giá trị văn hoá cộng đồng
Có thể nói cùng với cả nước, lịch sử phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc gắn liền

Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009 Vĩnh Phúc có 1.000,8 ngàn
người. Dự kiến năm 2010 là 1.012 ngàn người. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 11,3-
11,7% trong đó dân số đô thị chiếm gần 22,4%, nông thôn 77,6%. Trong những
năm tới cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá ngoài số lượng dân số tăng tự nhiên, dự kiến có một số lượng đáng kể
lao động ngoài tỉnh đến làm việc tại Vĩnh Phúc trong các khu công nghiệp và các
hoạt động kinh tế - xã hội khác. Chính vì vậy, dự báo dân số Vĩnh Phúc sẽ gắn liền
với việc phát triển kinh tế- xã hội và thu hút lao động đến Vĩnh Phúc nên dân số
của Vĩnh Phúc sẽ là tương đối trẻ, lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm tỉ lệ khá
cao, khoảng 70% dân số.
Toàn tỉnh có 11 dân tộc anh em sinh sống trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số:
95,72% còn lại là các dân tộc thiểu số như: Sán dìu, Cao Lan, Nùng, Dao, Tày,
Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái… chiếm 4,28% dân số. Trong số đó dân tộc Sán Dìu
chiếm tỉ lệ cao nhất (3,93%) còn lại là các dân tộc thiểu số khác. Người dân Vĩnh
Phúc hiếu học, cầu thị, có ý thức tìm tòi đổi mới và sáng tạo đó chính là động lực
cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tất cả những đặc điểm xã hội và nhân văn nêu trên là tiền đề cơ sở tạo nên
sức mạnh cho tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá những năm qua
và những năm tiếp theo.

1.1.1.3. Về kinh tế
Sau hơn mười năm tái lập tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Đảng bộ
Vĩnh Phúc đã đoàn kết, nhất trí, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua khó
khăn thử thách. Đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của

Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, xác định rõ mục tiêu và có hướng đi
đúng, tích cực nên đã tìm ra các giải pháp đột phá tạo môi trường thuận lợi nhằm
giải phóng sức sản xuất của nền kinh tế. Thu hút mọi nguồn lực bên trong và bên
ngoài cho đầu tư phát triển và đạt được nhiều kết quả quan trọng và toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực.

42,9%. Tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 18,07% còn 10,4%.
Tỉnh Vĩnh Phúc rất chú trọng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Thực
hiện tốt các chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, những người có
công, quan tâm đến người nghèo, hộ nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn. Vĩnh Phúc đã hoàn thành việc xoá nhà tạm, nhà tranh, tre, nứa, lá cho
các hộ nghèo. Ngoài việc chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách của Trung ương, tỉnh
còn bổ sung, ban hành nhiều chính sách mới được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

1.1.2. Cơ cấu tổ chức, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ Vĩnh
Phúc
1.1.2.1. Về cơ cấu tổ chức
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 13 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ (9 Đảng bộ
huyện, thị, thành và 4 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ là: Đảng bộ Khối cơ quan Dân
Chính Đảng tỉnh, Đảng bộ Công an tỉnh, Đảng bộ Quân sự tỉnh và Đảng bộ Khối
doanh nghiệp tỉnh). Toàn Đảng bộ tỉnh có 577 tổ chức cơ sở đảng trong đó có 259
Đảng bộ, 326 chi bộ cơ sở, các cơ quan hành chính, 91 chi Đảng bộ cơ sở các đơn
vị sự nghiệp, 48 chi Đảng bộ lực lượng vũ trang còn lại là loại hình doanh nghiệp
và các loại hình khác với 2.514 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở.
Toàn tỉnh có 46.180 đảng viên (tính đến hết năm 2008). Có 2.549 cấp uỷ viên
cơ sở trong đó 1785 cấp uỷ viên thuộc Đảng bộ xã, 236 cấp uỷ viên thuộc Đảng bộ

phường và 136 cấp uỷ viên thuộc lực lượng vũ trang. Có 285 cấp uỷ viên cấp
huyện.
Ban Chấp hành Đảng bộ tinh Vĩnh Phúc gồm 49 đồng chí. Trong đó: nam 45
đồng chí chiếm 91,84%, nữ: 4 đồng chí chiếm 8,16%.
- Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ: 01 đồng chí chiếm 2,12%, Thạc sỹ: 12 đồng
chí chiếm 25,53%, Đại học: 36 đồng chí chiếm 73,47%.
- Trình độ lý luận chính trị: Đại học: 33 đồng chí chiếm 70,21, Cao cấp lý

dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, căn cứ vào nội dung, tính chất của từng
lĩnh vực, Tỉnh uỷ ra nghị quyết hoặc kết luận. Thảo luận về việc điều chỉnh địa
giới hành chính cấp tỉnh, cấp huyện.
Quyết định những nội dung về công tác xây dựng Đảng, những vấn đề quan
trọng về công tác cán bộ, về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo
quy định của Điều lệ Đảng. Bầu uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư, Phó Bí
thư, uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ. Xem xét, giới thiệu và đề nghị bổ sung uỷ
viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Giới thiệu chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh để Hội đồng nhân dân tỉnh bầu. cho ý kiến về chủ trương, định hướng lớn đối
với những vấn đề đặc biệt quan trọng của Hội đồng nhân dân trước khi thảo luận
và thông qua.
Quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, các chương trình, dự án trọng điểm về đầu tư phát
triển sản xuất, kinh doanh, kinh tế đối ngoại liên quan đến đời sống của nhân dân
địa phương, chủ trương đầu tư các dự án đặc biệt của tỉnh.
Xem xét kỷ luật đối với Tỉnh uỷ viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Xem
xét các vấn đề khác mà Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần phải trình Tỉnh uỷ thảo luận
và quyết định.

1.1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ

Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV,
các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh uỷ. Xây dựng chương trình
công tác năm của Ban Thường vụ đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh uỷ.
Lãnh đạo việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và kế hoạch
hàng năm về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, công tác xây
dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể.
Định hướng về phát triển những ngành kinh tế, những vấn đề xã hội quan

về tổ chức hành chính trước khi trình Hội đồng nhân dân quyết định. Cho ý kiến về
các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh, hợp tác liên
doanh, liên kết trước khi tổ chức thực hiện hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh
quyết định.
Cho ý kiến về những vấn đề đột xuất quan trọng mà Ban cán sự Đảng Uỷ
ban nhân dân xin ý kiến hoặc Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần thiết phải có sự
lãnh đạo, chỉ đạo. Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh với các cơ quan đảng, chính quyền, các cấp uỷ
trực thuộc. Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Ban cán sự Đảng Toà án
nhân dân, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh với các cơ quan đảng,
chính quyền, các cấp uỷ trực thuộc.
Chỉ định bổ sung, thay thế hoặc cách chức thành viên Đảng đoàn Hội đồng
nhân dân tỉnh, Ban cán sự Đảng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành viên Đảng đoàn Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, thành viên Ban cán sự Đảng Viện
Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh trên cơ sở xem xét đề nghị của các cơ quan
có thẩm quyền. Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật, cho nghỉ hưu
đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý. Xem xét, thoả thuận các

chức danh trưởng, phó các ngành thuộc Trung ương quản lý để ngành dọc Trung
ương quyết định quy hoạch, bổ nhiệm.
Chỉ định cấp uỷ, Bí thư, Phó Bí thư các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ theo
quy định của Điều lệ Đảng và phân cấp quản lý cán bộ, giới thiệu nhân sự ứng cử
các chức danh thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.
Xem xét xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên theo thẩm quyền. Xem xét
việc bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là cán
bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý. Xét duyệt danh sách đề nghị tặng
thưởng danh hiệu anh hùng, nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân, nghệ sỹ nhân
dân, huân chương độc lập.
Chuẩn bị nội dung hội nghị Tỉnh uỷ. Thay mặt Tỉnh uỷ báo cáo công tác

(do đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Bí thư Tỉnh uỷ kiêm
nhiệm), 01 đồng chí Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và 01 đồng chí là Uỷ viên Thường
trực hoạt động chuyên trách.
Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được bầu 3 ban:
Ban kinh tế ngân sách: gồm 07 thành viên, trưởng Ban hoạt động chuyên
trách, Phó Ban và các thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm.
Ban văn hoá xã hội: gổm 07 thành viên, Trưởng Ban hoạt động chuyên trách
Phó Ban và các thành viên hoạt động kiêm nhiệm. Đến kỳ bầu cử Quốc hội khoá
XII đồng chí Trưởng Ban chuyển sang làm Phó đoàn đại biểu Quốc hội chuyên
trách, đồng chí Uỷ viên Thường trực tiếp tục kiêm nhiệm Trưởng Ban văn hoá xã
hội.
Ban pháp chế: gồm 7 thành viên Trưởng Ban, Phó Ban và các thành viên đều
hoạt động kiêm nhiệm. Tháng 7 năm 2006 Trưởng Ban được chuyển về Trung
ương công tác nên hiện nay còn lại 6 thành viên.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có văn
phòng giúp việc bao gồm chánh văn phòng, 2 phó văn phòng và 3 phòng tham

mưu là phòng công tác Hội đồng nhân dân, phòng thông tin dân nguyện và phòng
hành chính, tổ chức quản trị.
Kể từ tháng 5/2008 thực hiện Nghị quyết 545/NQ-QH12 của UBTVQH văn
phòng Hội đồng nhân dân và văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội sát nhập trở thành
Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh bao gồm 4 đ/c lãnh đạo văn phòng và 4
phòng chức năng giúp việc là: Phòng Công tác đại biểu Quốc hội, phòng công tác
Hội đồng nhân dân, phòng thông tin, dân nguyện, phòng tổ chức, hành chính, quản
trị, với tổng số cán bộ là 34 người.
1.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân tỉnh
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do dân địa phương
bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ: Bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch,

định. Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở
địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Quyết định thu phí, lệ phí
và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp
luật.
Quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa
phương. Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham
nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.Quyết định biện pháp quản lý và sử
dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi
ở vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo,
quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục
phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt
động giáo dục, đào tạo ở địa phương. Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển

sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di
sản văn hoá ở địa phương, biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các
hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp
luật.
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao
động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao
động, bảo hộ lao động, thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân dân ở
địa phương. Quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên, thiếu
niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền
thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, biện pháp ngăn
chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục và
phòng, chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã
hội ở địa phương.
Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh, biện
pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ
mồ côi không nơi nương tựa, bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em, thực hiện chính sách

Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính
để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định. Quyết định việc đặt tên, đổi tên đường,
phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp
luật. Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ ban
nhân dân cùng cấp, nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện.
Giải tán Hội đồng nhân dân cấp huyện trong trường hợp Hội đồng nhân dân
đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, trình Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội phê chuẩn trước khi thi hành. Phê chuẩn nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cấp huyện về việc giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã.
Với các chức năng quyền hạn như trên, hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định những chủ trương, biện

pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển
về kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, thực hiện nghĩa vụ của địa
phương đối với cả nước trong toàn bộ các hoạt động của mình.
Hội đồng nhân dân ra quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương đồng
thời giám sát việc thực thi pháp luật việc thực hiện các nghị quyết của mình. Tổ
chức tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công
dân.
1.2. PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CỦA TỈNH UỶ ĐỐI VỚI HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
1.2.1. Quan niệm về phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng
1.2.1.1. Một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân
Để tìm hiểu phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta cần tìm hiểu một số khái
niệm cơ bản: lãnh đạo, phương thức lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo

Phương thức lãnh đạo: là vấn đề quan trọng, thời kỳ nào cũng phải có. Chủ
tịch Hồ Chí Minh là người sớm đưa ra tư tưởng về phương thức lãnh đạo, Người
gọi đó là “cách tổ chức”, “sách lược của Đảng”, là “cách lãnh đạo”, là “lối làm
việc”.
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã
nói đến phương thức, phương pháp cách mạng khi bàn về cách làm cách mạng.
Người chỉ ra “cách tổ chức” công hội, “cách tổ chức” dân cày, cách tổ chức các
loại hợp tác xã, cách tổ chức các tổ chức quốc tế Người khẳng định: “Mục đích

Trích đoạn Nguyên nhân của những hạn chế trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh Một số bài học kinh nghiệm trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh Những thuận lợ Những khó khăn, thách thức Những nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status