LUẬN VĂN: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh giai đoạn hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc đối với Hội đồng nhân dân tỉnh
giai đoạn hiện nay MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết

các cấp ngày càng thực chất và hiệu quả hơn, góp phần phát huy sức mạnh của
cả hệ thống chính trị, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy kinh tế-xã hội
ngày càng phát triển. Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, vùng Thủ đô với tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển
dịch ngày càng đúng hướng, chính trị xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được
giữ vững.
Tuy nhiên, ở một số nơi cấp uỷ đảng (nhất là ở cơ sở) chưa làm cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND, chưa phát huy được vai trò của HĐND, UBND, chưa đề
cao ý thức chấp hành các nghị quyết của HĐND. Nhiều cấp uỷ đảng còn lúng
túng trong phương thức lãnh đạo đối với HĐND, chưa có định hướng kịp thời
trong việc kiện toàn, củng cố tổ chức, trong việc duy trì các hoạt động của
HĐND, chưa kiểm tra sát sao việc thực hiện các nghị quyết và giải quyết các
kiến nghị của đại biểu HĐND.
Mặt khác, điều kiện bối cảnh quốc tế hiện nay còn nhiều diễn biến phức
tạp, khó lường. Các thế lực thù địch, phản động quốc tế vẫn điên cuồng chống
phá cách mạng Việt Nam, chúng dùng mọi thủ đoạn nhằm hạ thấp uy tín và vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ giữa
Đảng với Nhà nước làm cho Đảng ta suy yếu tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiện nay, nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Tuy đã đạt được một số kết quả nhưng nhìn
chung bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, sự phân công nhiệm
vụ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhiều khi chưa cụ thể, tính
thống nhất của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước chưa cao, hiệu lực, hiệu

quả quản lý của bộ máy nhà nước còn hạn chế. Để thiết thực thực hiện tinh gọn
bộ máy nhà nước, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã ra nghị quyết về việc
thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Theo tinh thần nghị quyết
này, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND ở 7 huyện và 13

đồng chí Trần Đình Nghiêm làm chủ biên, GS-TS Trần Ngọc Quang-TS Ngô
Kim Ngân (đồng chủ biên) “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân” (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, Đề tài cấp nhà
nước KX 05 06 (1994) “Đặc điểm nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng trong
hệ thống chính trị, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể chính trị
xã hội”, do PGS Vũ Hữu Ngoạn làm chủ nhiệm, Viện Xây dựng Đảng thuộc Viện
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì.
Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ ở cơ sở đào tạo Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh có: Trần Vĩnh Tuyến: “Đổi mới phương thức lãnh đạo
của Thành uỷ đối với chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ (2005). Tô Văn Minh:“Sự lãnh đạo của huyện uỷ đối với chính quyền
huyện Đông Anh thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
(2006). Trần Văn Tường: Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính
quyền cơ sở ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ (2006). Nguyễn Vinh Hà: Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội Nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ,
(2007).
Các bài đăng trên tạp chí có: Nguyễn Trọng Phúc (2000), Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, Tạp chí Nghiên cứu
lý luận, số 9, tr 18-22. Lê Hữu Nghĩa (2001), Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng và sự quản lý của chính quyền cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 19. Lê Đức
Bình (2003), “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà

nước”, Tạp chí Cộng sản, số 19, tr. 26-30. Phạm Ngọc Quang-Nguyễn Khánh
(2004), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội”,
Tạp chí Cộng sản, số 9. GS.TS Mạch Quang Thắng: Về vấn đề tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2008.
Các đề tài khoa học, luận văn, bài báo khoa học trên đây chủ yếu đi vào
nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về phương thức lãnh đạo của

tỉnh trên các khía cạnh về đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với
việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh, đổi mới phương thức
lãnh đạo đối với công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức lãnh
đạo hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân. Gắn với các nội dung này là các nhân tố ảnh hưởng đến việc đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với HĐND tỉnh về nhận thức, về sự chỉ đạo,
phối hợp về điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện và điều kiện làm việc của Tỉnh
uỷ và HĐND tỉnh.
Thời gian nghiên cứu là từ đầu nhiệm kỳ, tức là từ năm 2004 đến nay và đề
xuất giải pháp từ nay đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về Đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị,
lãnh đạo và phát huy vai trò của Nhà nước (trong đó có HĐND), lãnh đạo Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khác.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn phương thức lãnh đạo của
một số tỉnh và Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với tổ chức và hoạt động của HĐND tỉnh.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn kết hợp
sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích, phương
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp tổng kết
thực tiễn Trong đề tài này tác giả luận văn đã sử dụng những kinh nghiệm
trong thực tế công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ các tỉnh: Lạng Sơn, Sơn La, Thái
Nguyên và Phú Thọ cũng như thực tế công tác lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc
đối với HĐND tỉnh những năm gần đây phục vụ cho công tác nghiên cứu của
mình.
6. Đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường và Yên Lạc với
diện tích tự nhiên 1.231,76 km
2
. Dân số 1.000.800 người (theo tổng điều tra dân số
1/4/2009) với mật độ dân số 813 người/km
2
.
Vĩnh Phúc nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Là
cầu nối giữa các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội, liền cảng
hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 nối thông với cảng Hải
Phòng qua quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai tạo điều kiện giao
lưu với các trung tâm kinh tế công nghiệp Côn Minh, Lào Cai và các vùng giáp
Hà Giang của Trung Quốc.

1.1.1.1. Về điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng
đồng bằng châu thổ sông Hồng. Do vậy địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông
Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi.
Vùng núi chiếm phần lớn diện tích của huyện Sông Lô, Lập Thạch, Tam
Đảo, 4 xã của huyện Bình Xuyên và 1 xã của thị xã Phúc Yên.

Vùng trung du chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương, Bình Xuyên
và thành phố Vĩnh Yên.
Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc và
thị xã Phúc Yên.
Sự phân biệt thành 3 vùng sinh thái rõ rệt cùng với khí hậu nhiệt đới gió
mùa và 2 con sông chính là sông Hồng, sông Lô và rừng quốc gia Tam Đảo với
nhiều danh lam thắng cảnh tạo cho Vĩnh Phúc sớm có điều kiện phát triển và có
nhiều giá trị văn hoá ưu việt.


phủ có Nghị định số 09/CP về việc thành lập huyện Sông Lô trên cơ sở tách một số
xã từ huyện Lập Thạch. Như vậy tính đến nay tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành
chính cấp huyện và 137 xã, phường, thị trấn.
Theo kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009 Vĩnh Phúc có 1.000,8 ngàn
người. Dự kiến năm 2010 là 1.012 ngàn người. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 11,3-
11,7% trong đó dân số đô thị chiếm gần 22,4%, nông thôn 77,6%. Trong những
năm tới cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp thực hiện mục tiêu công
nghiệp hoá ngoài số lượng dân số tăng tự nhiên, dự kiến có một số lượng đáng
kể lao động ngoài tỉnh đến làm việc tại Vĩnh Phúc trong các khu công nghiệp và
các hoạt động kinh tế - xã hội khác. Chính vì vậy, dự báo dân số Vĩnh Phúc sẽ
gắn liền với việc phát triển kinh tế- xã hội và thu hút lao động đến Vĩnh Phúc
nên dân số của Vĩnh Phúc sẽ là tương đối trẻ, lực lượng lao động trong độ tuổi
chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng 70% dân số.
Toàn tỉnh có 11 dân tộc anh em sinh sống trong đó dân tộc Kinh chiếm đa
số: 95,72% còn lại là các dân tộc thiểu số như: Sán dìu, Cao Lan, Nùng, Dao,
Tày, Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái… chiếm 4,28% dân số. Trong số đó dân tộc
Sán Dìu chiếm tỉ lệ cao nhất (3,93%) còn lại là các dân tộc thiểu số khác. Người
dân Vĩnh Phúc hiếu học, cầu thị, có ý thức tìm tòi đổi mới và sáng tạo đó chính
là động lực cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trên địa bàn
tỉnh.

Tất cả những đặc điểm xã hội và nhân văn nêu trên là tiền đề cơ sở tạo nên
sức mạnh cho tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá những năm
qua và những năm tiếp theo.

1.1.1.3. Về kinh tế
Sau hơn mười năm tái lập tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, Đảng
bộ Vĩnh Phúc đã đoàn kết, nhất trí, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua
khó khăn thử thách. Đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, xác định rõ mục tiêu và có

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, hệ thống y tế
từ tỉnh đến cơ sở được củng cố và phát triển. Đến năm 2008 toàn tỉnh có
130/137 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Công tác đào tạo
nghề, giải quyết công ăn việc làm được chú trọng, tỉ lệ lao động qua đào tạo tính
đến năm 2008 đạt 42,9%. Tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 18,07% còn 10,4%.
Tỉnh Vĩnh Phúc rất chú trọng việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Thực hiện tốt các chính sách đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, những
người có công, quan tâm đến người nghèo, hộ nghèo, những người có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn. Vĩnh Phúc đã hoàn thành việc xoá nhà tạm, nhà tranh, tre,
nứa, lá cho các hộ nghèo. Ngoài việc chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách của
Trung ương, tỉnh còn bổ sung, ban hành nhiều chính sách mới được nhân dân
đồng tình ủng hộ.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

1.1.2. Cơ cấu tổ chức, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc
1.1.2.1. Về cơ cấu tổ chức
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 13 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ (9 Đảng
bộ huyện, thị, thành và 4 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ là: Đảng bộ Khối cơ quan
Dân Chính Đảng tỉnh, Đảng bộ Công an tỉnh, Đảng bộ Quân sự tỉnh và Đảng bộ

Khối doanh nghiệp tỉnh). Toàn Đảng bộ tỉnh có 577 tổ chức cơ sở đảng trong đó
có 259 Đảng bộ, 326 chi bộ cơ sở, các cơ quan hành chính, 91 chi Đảng bộ cơ
sở các đơn vị sự nghiệp, 48 chi Đảng bộ lực lượng vũ trang còn lại là loại hình
doanh nghiệp và các loại hình khác với 2.514 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở.
Toàn tỉnh có 46.180 đảng viên (tính đến hết năm 2008). Có 2.549 cấp uỷ
viên cơ sở trong đó 1785 cấp uỷ viên thuộc Đảng bộ xã, 236 cấp uỷ viên thuộc
Đảng bộ phường và 136 cấp uỷ viên thuộc lực lượng vũ trang. Có 285 cấp uỷ
viên cấp huyện.

việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Chuẩn bị nội dung chương trình Đại hội
và nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá mới, quyết định triệu tập đại hội
Đảng bộ tỉnh. Thảo luận và quyết định các chủ trương, biện pháp và chỉ đạo thực
hiện các nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh.
Tổng kết những chuyên đề về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây
dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, căn cứ vào nội dung, tính chất của từng
lĩnh vực, Tỉnh uỷ ra nghị quyết hoặc kết luận. Thảo luận về việc điều chỉnh địa
giới hành chính cấp tỉnh, cấp huyện.
Quyết định những nội dung về công tác xây dựng Đảng, những vấn đề
quan trọng về công tác cán bộ, về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của
Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Bầu uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí
thư, Phó Bí thư, uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ. Xem xét, giới thiệu và đề
nghị bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Giới thiệu chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh để Hội đồng nhân dân tỉnh bầu. cho ý kiến về chủ trương, định hướng
lớn đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng của Hội đồng nhân dân trước khi
thảo luận và thông qua.
Quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, ngân sách,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, các chương trình, dự án trọng điểm về đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh, kinh tế đối ngoại liên quan đến đời sống của
nhân dân địa phương, chủ trương đầu tư các dự án đặc biệt của tỉnh.

Xem xét kỷ luật đối với Tỉnh uỷ viên theo quy định của Điều lệ Đảng.
Xem xét các vấn đề khác mà Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần phải trình Tỉnh uỷ
thảo luận và quyết định.

1.1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XIV, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh uỷ. Xây dựng chương

việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh.
Cho ý kiến về những định hướng, chủ trương quan trọng trong chương
trình hoạt động, chương trình các kỳ họp và những Quyết định quan trọng của
Hội đồng nhân dân tỉnh về kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh,
những vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách và đời sống nhân dân ở địa
phương, những vấn đề về tổ chức hành chính trước khi trình Hội đồng nhân dân
quyết định. Cho ý kiến về các chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể hoá các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, ngân sách,
quốc phòng, an ninh, hợp tác liên doanh, liên kết trước khi tổ chức thực hiện
hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
Cho ý kiến về những vấn đề đột xuất quan trọng mà Ban cán sự Đảng Uỷ
ban nhân dân xin ý kiến hoặc Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thấy cần thiết phải có sự
lãnh đạo, chỉ đạo. Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể chính trị - xã hội của tỉnh với các cơ quan đảng, chính quyền, các
cấp uỷ trực thuộc. Ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Ban cán sự Đảng
Toà án nhân dân, Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh với các cơ quan
đảng, chính quyền, các cấp uỷ trực thuộc.
Chỉ định bổ sung, thay thế hoặc cách chức thành viên Đảng đoàn Hội đồng
nhân dân tỉnh, Ban cán sự Đảng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành viên Đảng đoàn Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, thành viên Ban cán sự Đảng

Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân tỉnh trên cơ sở xem xét đề nghị của các
cơ quan có thẩm quyền. Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật, cho
nghỉ hưu đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý. Xem xét, thoả
thuận các chức danh trưởng, phó các ngành thuộc Trung ương quản lý để ngành
dọc Trung ương quyết định quy hoạch, bổ nhiệm.
Chỉ định cấp uỷ, Bí thư, Phó Bí thư các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ theo
quy định của Điều lệ Đảng và phân cấp quản lý cán bộ, giới thiệu nhân sự ứng
cử các chức danh thuộc diện quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.
Xem xét xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên theo thẩm quyền. Xem

Về trình độ văn hoá: 100% đại biểu có trình độ PTTH
Trình độ chuyên môn: Trung cấp, cao đẳng: 03 bằng 5,7% đại học: 37 bằng
71,15%, trên đại học 10 bằng 19,23%.
Trình độ chính trị: Sơ cấp: 03 bằng 5,77% trung cấp: 05 bằng,62%, cao
cấp và cử nhân 39 bằng 75%.
Tại kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh bầu Thường trực HĐND tỉnh gồm: Chủ
tịch (do đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Bí thư Tỉnh uỷ kiêm
nhiệm), 01 đồng chí Phó Chủ tịch HĐND tỉnh và 01 đồng chí là Uỷ viên
Thường trực hoạt động chuyên trách.
Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được bầu 3 ban:
Ban kinh tế ngân sách: gồm 07 thành viên, trưởng Ban hoạt động chuyên
trách, Phó Ban và các thành viên khác hoạt động kiêm nhiệm.
Ban văn hoá xã hội: gổm 07 thành viên, Trưởng Ban hoạt động chuyên
trách Phó Ban và các thành viên hoạt động kiêm nhiệm. Đến kỳ bầu cử Quốc hội
khoá XII đồng chí Trưởng Ban chuyển sang làm Phó đoàn đại biểu Quốc hội
chuyên trách, đồng chí Uỷ viên Thường trực tiếp tục kiêm nhiệm Trưởng Ban
văn hoá xã hội.

Ban pháp chế: gồm 7 thành viên Trưởng Ban, Phó Ban và các thành viên
đều hoạt động kiêm nhiệm. Tháng 7 năm 2006 Trưởng Ban được chuyển về
Trung ương công tác nên hiện nay còn lại 6 thành viên.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tỉnh có
văn phòng giúp việc bao gồm chánh văn phòng, 2 phó văn phòng và 3 phòng
tham mưu là phòng công tác Hội đồng nhân dân, phòng thông tin dân nguyện và
phòng hành chính, tổ chức quản trị.
Kể từ tháng 5/2008 thực hiện Nghị quyết 545/NQ-QH12 của UBTVQH
văn phòng Hội đồng nhân dân và văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội sát nhập
trở thành Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh bao gồm 4 đ/c lãnh đạo văn
phòng và 4 phòng chức năng giúp việc là: Phòng Công tác đại biểu Quốc hội,
phòng công tác Hội đồng nhân dân, phòng thông tin, dân nguyện, phòng tổ

tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh
tế theo quy định của pháp luật.
Quyết định dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân
sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, phê chuẩn quyết toán
ngân sách địa phương, quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện
ngân sách địa phương, điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường
hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân
quyết định. Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp
ngân sách ở địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Quyết định
thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo
quy định của pháp luật.
Quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa
phương. Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham
nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.Quyết định biện pháp quản lý và
sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất,
nguồn lợi ở vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo,
quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo
dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho
các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương. Quyết định chủ trương, biện pháp
phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, biện pháp bảo vệ, phát
huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương, biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và
điều kiện cho các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao ở địa phương
theo quy định của pháp luật.
Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao
động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người
lao động, bảo hộ lao động, thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đời sống nhân
dân ở địa phương. Quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên,
thiếu niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục

các tôn giáo trước pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân địa phương theo quy định của
pháp luật.
Quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương. Quyết định
biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích
hợp pháp khác của công dân, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài
sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân ở địa phương. Quyết định biện pháp bảo
đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật.
Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành
chính để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định. Quyết định việc đặt tên, đổi tên
đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của
pháp luật. Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ

ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp
huyện.
Giải tán Hội đồng nhân dân cấp huyện trong trường hợp Hội đồng nhân
dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, trình Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội phê chuẩn trước khi thi hành. Phê chuẩn nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp huyện về việc giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã.
Với các chức năng quyền hạn như trên, hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định những chủ trương,
biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và
phát triển về kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, không ngừng cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, thực hiện nghĩa
vụ của địa phương đối với cả nước trong toàn bộ các hoạt động của mình.
Hội đồng nhân dân ra quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương
đồng thời giám sát việc thực thi pháp luật việc thực hiện các nghị quyết của
mình. Tổ chức tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố
cáo của công dân.

nhận như một tất yếu lịch sử. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của
giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [38, tr.1].
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng,
là vấn đề có tính nguyên tắc, tính quy luật của cách mạng Việt Nam. Để thực
hiện có hiệu quả vai trò lãnh đạo của mình Đảng luôn nghiên cứu, tìm tòi
phương thức lãnh đạo hợp lý, đúng đắn phù hợp với những đòi hỏi khách quan
của từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Trích đoạn Đổi mới công tác kiểm tra của Tỉnh uỷ đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiếp tục tạo các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Hội đồng nhân dân tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status