LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
phát triển đảng viên trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ mở đầu

nói chung, các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng đã và đang trở thành vấn đề quan
tâm chung của nhiều quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.
Chúng ta có thể khẳng định rằng: trong thời gian qua, các doanh nghiệp ngoài nhà
nước đã đóng góp một phần rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế -
xã hội, làm cho công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thu
được nhiều thành tựu khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội. Bởi lẽ,
các doanh nghiệp ngoài nhà nước ra đời đã tạo điều kiện khai thác tối đa nhiều nguồn lực
trong và ngoài nước, của mọi người dân, mọi tổ chức và các thành phần kinh tế trong sự
phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, góp phần ổn định chính trị - xã hội, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Tuy nhiên, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự
lãnh đạo của Đảng là một mô hình mới chưa có trong tiền lệ lịch sử. Do đó có nhiều thời
cơ, thuận lợi, nhưng cũng chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức đan xen.
Nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
chủ động tìm cách phát huy những mặt tích cực, đồng thời hạn chế tiêu cực, kịp thời uốn
nắn những biểu hiện lệch lạc, hướng mọi hoạt động của các thành phần kinh tế nói chung,
trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng thực hiện đúng chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trước hết cần phải đi sâu nghiên
cứu một cách tỷ mỷ, thận trọng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước
để hiểu biết thật đầy đủ và toàn diện về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp ngoài
nhà nước; phân tích rõ vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, nhất là thực trạng
công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Từ đó đề xuất, kiến
nghị những giải pháp nhằm tăng cường công tác phát triển đảng viên, xây dựng và củng
cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng, vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta nhất quán chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt. Trong xây dựng Đảng, phải coi trọng trên cả ba mặt: chính
trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện tốt giữa xây dựng và thường xuyên chỉnh đốn Đảng.

phát triển đảng viên ở nhiều loại hình tổ chức cơ sở đảng để tập trung chỉ đạo. Do đó,

nhận thức của cán bộ, đảng viên và người lao động nói chung, trong doanh nghiệp ngoài
nhà nước nói riêng đã được nâng lên một bước; một số doanh nghiệp ngoài nhà nước đã
kết nạp được đảng viên và thành lập được tổ chức cơ sở đảng, chi bộ; hoạt động của các
tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước từng bước được
khẳng định tốt, góp phần quan trọng giúp hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp thực
hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạch những kết quả đã đạt được, công tác phát triển đảng viên ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm,
hạn chế cần phải khắc phục; số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển được
đảng viên và thành lập được tổ chức đảng nhìn chung chưa tương xứng với tốc độ phát
triển của doanh nghiệp; chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, việc nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh
Phú Thọ hiện nay là vấn đề rất cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Doanh nghiệp ngoài nhà nước nói chung, công tác xây dựng tổ chức đảng trong
các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ, cơ
quan làm công tác tổ chức, các nhà nghiên cứu, các doanh nhân thường xuyên quan
tâm, chú trọng bởi đây là loại hình doanh nghiệp được ra đời trong quá trình đổi mới đất
nước theo chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường của Đảng, thời gian hoạt động thực tế
chưa nhiều và cũng bởi tính nhạy cảm của chính vấn đề này trong các doanh nghiệp ngoài
nhà nước, cũng như yêu cầu đòi hỏi cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khu
vực kinh tế ngoài tư nhân, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nước, bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội.
Để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
cần phải tập trung đẩy mạnh việc xây dựng, củng cố và phát triển các tổ chức đảng, trong
đó vấn đề ưu tiên hàng đầu là phải tăng cường phát triển đảng viên ở tất cả các loại hình
doanh nghiệp ngoài nhà nước, để từ đó đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách

- Tổ chức đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phương thức hoạt động trong
cơ chế thị trường hiện nay của tác giả Trần Trung Quang (Nxb Lao động, Hà Nội, 1999);

- Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
trong Công ty cổ phần của tác giả Phùng Văn Chỉ ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội-
2000 ).
Tại tỉnh Phú Thọ, đã có một số văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh;
các đề tài khoa học cấp tỉnh của một số tác giả đã nghiên cứu về công tác cán bộ, đảng
viên, nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng, củng cố các tổ chức đảng trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nước, kết nạp đảng viên như:
- Kết luận số 195-KL/TU, ngày 11/12/2001 về "Tăng cường công tác lành đạo, chỉ đạo
của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước".
- Nghị quyết số 22-NQ/TU ngày 1/11/2007, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng
đội ngũ đảng viên ở tỉnh Phú Thọ trong tình hình mới”.
- Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 21/08/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về tiếp
tục tăng cường công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2006-2010”.
- Nghị quyết số 24 -NQ/TU, ngày 20/10/2008, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh "
Về tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên trong các doanh
nghiệp ngoài Nhà nước đến năm 2015".
- Quyết định số 3239/2004/QĐ- UB ngày 22/10/2004 của ủy ban nhân dân tỉnh
Phú Thọ quy định về phối hợp và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc quản lý
hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
- Đề tài khoa học "Thực trạng và những giải pháp củng cố, phát triển tổ chức đảng
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh Phú Thọ" của tác giả Nguyễn Thị Va
(1997).
- Đề tài khoa học "Một số giải pháp cơ bản tạo nguồn kết nạp đảng viên ở vùng
núi khu vực III tỉnh Phú Thọ" của tác giả Nguyễn Hữu Trí (2004).
- Đề tài khoa học "Thực trạng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh
đạo, chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên ở tỉnh Phú Thọ

Luận văn chỉ nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp
ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2005 đến nay. Đề xuất
các giải pháp định hướng đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, những quan
điểm, nguyên tắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng, nhất là công
tác phát triển đảng viên là cơ sở lý luận và phương pháp luận để thực hiện đề tài luận văn
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, kết hợp phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp. Ngoài ra luận văn
còn sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, tổng kết thực tiễn
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Bước đầu đưa ra quan niệm về công tác phát triển đảng viên trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ.
- Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác phát triển đảng viên trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp
ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm 2005 đến nay.
- Đưa ra những dự báo về những nhân tố tác động ảnh hưởng và những giải pháp
chủ yếu góp phần thực hiện có hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới đất
nước giai đoạn hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển một số vấn
đề lý luận về công tác phát triển đảng viên nói chung và công tác phát triển đảng viên
trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh
Phú Thọ và các huyện, thành, thị uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ Phú Thọ trong công tác chỉ đạo

Khi nghiên cứu về chế độ sở hữu, phương thức sản xuất của chế độ tư bản,
Ăngghen đã khẳng định: ngay trong chế độ tư bản cũng đang có sự chuyển đổi về hình
thức sở hữu, phương thức sản xuất; Ăngghen cho rằng các "xí nghiệp cổ phần tư bản chủ
nghĩa cũng như những nhà máy hợp tác, đều phải được coi là những hình thái quá độ từ
phương thức tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể" [33, tr.673].
Như vậy, các doanh nghiệp đa hình thức sở hữu nêu trên thực chất được coi là
thành phần kinh tế nào? doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần hay doanh nghiệp
tư nhân? doanh nghiệp nào thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nào là
doanh nghiệp ngoài nhà nước? Hợp tác xã có phải là một loại hình doanh nghiệp có nhiều
chủ (là người lao động), cổ đông là các xã viên hợp tác xã thì có phải thuộc loại hình kinh

tế tập thể hay không? Đó là những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ cả về
phương diện lý luận và thực tiễn.
Trong chính sách kinh tế mới (NEP) do V.I Lênin khởi xướng và soạn thảo đã
được Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga biểu quyết thông qua ngày 08/3/1921. Đây là
một quyết định vô cùng sáng suốt của V.I Lênin và những người Cộng sản Nga vì NEP
đã đề cập một cách tổng thể những giải pháp về cải cách kinh tế, chính trị, xã hội nhằm
nhanh chóng phục hồi đất nước sau chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chính sách kinh tế mới có nhiều nội dung, thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau, nhưng biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản sau:
Một là, thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi
thương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa
công nghiệp với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn và sự liên minh giai cấp về
kinh tế giữa công nhân với nông dân.
Hai là, áp dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó
là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ba là, Sử dụng các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vật
chất và tinh thần đối với người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng
sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.
Bốn là, thực hiện điện khí hóa nước Nga, coi đó như một trong những điều kiện

và có sức lan toả ra thế giới.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thực dân Pháp liền
quay trở lại nhằm nô dịch nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa
kháng chiến, vừa kiến quốc trong điều kiện mới. Nhanh chóng triển khai thực hiện chính
sách kinh tế mới theo hướng nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, cùng
bình đẳng với nhau. Tư tưởng về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Người được thể
hiện rất sớm, ngay trong bài viết "Toàn dân kháng chiến" năm 1946, Người kêu gọi các
nhà giàu có mau mau góp vốn lại để mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông
nghiệp, tài chính, giao thông, tích cực tăng gia sản xuất, lưu thông buôn bán và chính phủ
mới sẽ bảo đảm không tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở kinh tế tư nhân.
Trong sách "Thường thức chính trị" gồm 50 bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ký bút danh Đ.X đăng trên nhiều số báo Cứu quốc năm 1953, Người đã chỉ ra ở nước ta

thời điểm đó đang tồn tại sáu thành phần kinh tế: kinh tế địa chủ phong kiến; kinh tế quốc
doanh; kinh tế hợp tác xã; kinh tế cá thể; kinh tế tư bản của tư nhân và kinh tế tư bản
quốc gia. Đồng thời, phân tích rõ những mặt tích cực, mặt hạn chế của từng thành phần
kinh tế đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; chỉ ra những thành phần
kinh tế cần phải nhanh chóng loại bỏ vì không còn phù hợp với chế độ xã hội mới, những
thành phần kinh tế cho phép tồn tại và phát triển nhưng phải được Nhà nước quản lý. Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Kinh tế tư bản tư nhân. Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng
thời họ cũng góp phần xây dựng kinh tế"còn" kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn
vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư
nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội" [36, tr.221].
Người đánh giá cao những đóng góp của kinh tế tư nhân và chỉ ra chính sách của
Đảng và Nhà nước cần phải ủng hộ, khuyến khích sự phát triển đối với thành phần kinh
tế này " Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công
nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính
phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia,
phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân" [36, tr.222].
Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng,

tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi
cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời, Nhà nước
khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp
doanh và những hình thức cải tạo khác"[38, tr.598].
1.1.1.3. Quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về doanh nghiệp ngoài nhà nước
Việt Nam trong lịch sử là một quốc gia với sản xuất nông nghiệp lúa nước là
chính. Cuối thế kỷ thứ XIX, kinh tế tư nhân mới được bắt đầu hình thành và phát triển
nhưng chủ yếu còn rất sơ khai, ngành nghề còn khá đơn điệu, chủ yếu là tiểu - thủ công
nghiệp và được phân bố tập trung thành các làng nghề và ở một số đô thị lớn. Đến đầu
thế kỷ thứ XX, kinh tế tư nhân được quan tâm phát triển với quy mô lớn hơn, ngành nghề
cũng đa dạng hơn trên một số lĩnh vực chính như: thương mại, công nghiệp, giao thông…
Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Đảng ta chủ trương tập trung vào khôi
phục hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng cơ sở
vật chất cho miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.

Thời kỳ này, hầu như chưa có kinh tế quóc doanh, kinh tế tập thể chưa phát triển, nền
kinh tế - xã hội ở nước ta giai đoạn này chủ yếu là kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu
chủ. Do đó, tháng 5-1955, Đảng và Chính phủ đã ban hành tám chính sách nhằm khuyến
khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, cụ thể là: Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất; bảo hộ
tài sản của nông dân và các tầng lớp khác; khuyến khích khai hoang, phục hóa bằng miễn
giảm thuế ba năm cho ruộng khai hoang. Không phải đóng thuế phần tăng vụ, tăng năng
xuất; tự do thuê mướn nhân công, thuê mướn trâu bò, vay và cho vay; khuyến khích phát
triển tổ đổi công; khuyến khích phát triển những ngành nghề phụ và nghề thủ công trong
nông dân và nông thôn; bảo hộ và khuyến khích, khen thưởng những hộ nông dân làm ăn
giỏi; nghiêm cấm phá hoại sản xuất.
Với những chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, nhân dân rất phấn
khởi tăng gia sản xuất, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế,
góp phần hoàn thành giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh, chuẩn bị mọi điều
kiện cho miền Bắc bước vào kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, với nội dung chủ yếu là biến nền kinh tế nhiều

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đã đánh dấu bước ngoặt to
lớn trong đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đề ra đường lối đổi mới toàn diện
đất nước; hoạch định chiến lược, sách lược quan trọng trong cải cách kinh tế nhằm nhanh
chóng đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử
nước ta. Đại hội chỉ rõ, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần
kinh tế, chính sách đó cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế nhằm khai thác mọi khả
năng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau. Đó là những quan điểm đổi mới, dũng
cảm của Đảng ta, dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thầt. Những quan điểm có tính
chiến lược, sáng tạo của Đảng là phương châm chỉ đạo hành động xuất phát từ quy luật
khách quan và yêu cầu thực tiễn sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chủ trương của
Đảng là "coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"[3, tr.56-
57]. Coi phát triển kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với quy luật khách quan; sử dụng
đúng các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Đảng ta chỉ rõ sử dụng có chọn lọc một bộ phận kinh tế tư bản tư
nhân. Việc cải tạo đối với thành phần kinh tế này được tiến hành theo phương châm " cải
tạo để sử dụng, sử dụng để cải tạo tốt hơn. Đối với một số ngành, nghề nhất định trong

khu vực sản xuất và dịch vụ, ở những nơi cần thiết, tư nhân được dùng vốn và kỹ thuật
của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh và đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Quy mô
của cơ sở sản xuất và phạm vi hoạt động được quy định tuỳ theo ngành nghề và mặt hàng
được phép kinh doanh"[16, tr.241].
Năm 1987 là năm mở đầu việc thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của
Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã có ba hội nghị quan trọng để giải
quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương
giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông nhằm thực hiện “4 giảm” (giảm
lạm phát, giảm bội chi ngân sách, giảm tốc độ tăng giá, giảm khó khăn về đời sống) và
tạo thuận lợi cho sản xuất phát triển. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương
quyết định “chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế”. Hội nghị lần thứ tư
Ban Chấp hành Trung ương quyết định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước ba

hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu quả nền sản xuất xã hội. Mọi đơn vị
kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh
doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật [17, tr.159].
Từ ba loại hình sở hữu cơ bản (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân),
sẽ hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng
như: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế
gia đình. Trong đó " Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa
bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm. Nhà nước có thể liên
doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp
thuộc thành phần tư bản nhà nước"[17, tr.163-164].
Ngày 06 tháng 11 năm 1995, Ban Bí thư có Thông báo số 130-TB/TW, đánh giá
về kinh tế tư nhân, khẳng định quan điểm của Đảng ta trong phát triển thành phần kinh tế
tư nhân giai đoạn hiện nay
Kinh tế tư bản tư nhân đang có đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất. Bảo hộ
quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng
cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh.

Khuyến khích các chủ doanh nghiệp dành cổ phần ưu đãi để bán cho người lao
động tại doanh nghiệp. Xây dựng quan hệ hợp tác giữa chủ và thợ trên cơ sở
bảo đảm lợi ích hợp pháp của cả hai bên. Cần phát triển đa dạng các hình thức
kinh tế tư bản nhà nước. áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa
Nhà nước với các nhà kinh doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực
cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với
bên ngoài[18, tr.603].
Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định rõ một số chủ trương, chính sách lớn đối
với các thành phần kinh tế, tiếp tục cụ thể hóa chủ trương nhất quán xây dựng nền kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản

các doanh nghiệp đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, do đó các cấp ủy cần phải hết sức quan tâm chú trọng trong công tác lãnh đạo,
chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, khả năng cạch tranh
cao của các doanh nghiệp ở cả trong nước và ngoài nước. Vì vậy, Đảng ta chủ trương
"Xây dựng và thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, xây dựng một
hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạch tranh cao, chủ lực là một số tập đoàn kinh
tế và công ty lớn dựa trên hình thức cổ phần. Cần tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá; đổi mới và phát triển các loại
hình kinh tế tập thể; phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân; thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài"[15, tr.28].
Quốc hội nước ta cũng đã thông qua một số luật như: Luật Công ty và Luật Doanh
nghiệp tư nhân (tháng12-1990); Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty và Luật
Doanh nghiệp tư nhân (tháng 6-1994); Luật Doanh nghiệp nhà nước (tháng 4- 1995);
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (tháng 11 -1996); Luật Doanh nghiệp ( tháng 6-
1999), Luật này thay thế cho Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật sửa đổi
một số điều của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm (tháng 6-2000); Luật Doanh
nghiệp nhà nước năm 2003; Luật Doanh nghiệp ( tháng 11 -2005) thay thế Luật doanh
nghiệp năm 1999, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 2000, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, trừ trường hợp quy định tại

Khoản 2 Điều 166 của Luật này; các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh
nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000.
Các luật nêu trên của Quốc hội và Nhà nước ta là việc cụ thể hóa chủ trương,
đường lối của Đảng đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với các doanh nghiệp
ngoài nhà nước nói riêng. Đồng thời, đây là những văn bản hết sức quan trọng nhằm tạo
cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động được thuận lợi trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Tuy nhiên, hiện nay chưa thấy một văn bản nào định nghĩa về doanh nghiệp ngoài

nước kinh doanh; là doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm quyền thống trị về kinh
tế; là những doanh nghiệp có từ 0% đến 50% vốn điều lệ của Nhà nước.
Các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể có nhiều tên gọi khác nhau như:
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, các nhóm công ty; quy mô sản xuất, vốn, lao động, công nghệ rất đa
dạng; ngành nghề sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực: xây dựng, nông nghiệp, lâm
nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Dù tên gọi, quy mô,
ngành nghề sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước có khác nhau,
nhưng đều có cùng bản chất là Nhà nước không nắm quyền chi phối vốn điều lệ của
doanh nghiệp, mà vốn điều lệ của doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước cùng góp lại, cùng làm với lao động làm thuê hoặc thuê mướn lao động hoàn toàn.
Do đó, mọi hoạt động của doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp quyết định theo quy
định của Luật Doanh nghiệp.
Chủ trương tạo điều kiện giải phóng và khai thác mọi khả năng để đẩy mạnh sự
phát triển của lực lượng sản xuất giúp chúng ta khai phát huy cao độ mọi tiềm năng vốn
có của con người và nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào sản xuất kinh doanh. Thừa
nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài nhà nước là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn dựa trên
cơ sở xuất phát từ lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân: Nhà nước tranh thủ được
nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm của các nhà doanh nghiệp trong quản lý
kinh doanh trong và ngoài nước, người lao động có việc làm và thu nhập, đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện góp phần vào sự tăng

trưởng và phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Trong quá trình sử dụng các
thành phần kinh tế ngoài nhà nước, Đảng ta luôn luôn chú trọng phát huy những mặt tích
cực, đồng thời hạn chế những mặt trái và ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường
bằng sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở xây dựng và từng bước hoàn chỉnh hệ thông
luật pháp có liên quan. Thực hiện quan điểm nhất quán về phát triển kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật của
một quốc gia đi từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, một nền sản xuất nhỏ lên sản xuất

1.1.2. Đặc điểm và vai trò các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
1.1.2.1. Sự ra đời của các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập ngày 01-01-1997 trên
cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú. Với diện tích tự nhiên là: 3.518,58 km
2
(chiếm 1,067%
diện tích cả nước), có tọa độ địa lý 20
o
55’ đến 21
o
43’ vĩ độ Bắc và từ 104
o
48’ đến
105
o
27’ kinh độ Đông. Cách Thủ đô Hà Nội 85 km, là điểm tiếp giáp giữa vùng Đông
Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây bắc: phía Bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; phía
Nam giáp Hòa Bình; phía Đông giáp Vĩnh Phúc, Hà Nội và phía Tây giáp Sơn La. Dân
số 1.216.599 người, trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 727.500 người, chiếm 59,8%
dân số. Trên địa bàn có 28 dân tộc anh em, đông nhất là dân tộc Kinh với số dân là
1.044.979 người, chiếm 85,89% dân số của tỉnh; dân số là người dân tộc thiểu số là
171.629 người, chiếm 14,11% số dân toàn tỉnh; mật độ dân số 376 người/km2.
Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945, dân cư Phú Thọ rất thưa thớt, nhất là
ở các huyện miền núi. Kinh tế trong thời kỳ này vẫn chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa
nước nhưng sản lượng thấp do thủy lợi không được chú ý. Sự đô hộ của thực dân Pháp đã
đẩy dân cày tới chỗ bần cùng. Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Phú Thọ là vơ vét,
bóc lột, nhưng khách quan đã đưa Phú thọ trở thành một trong những tỉnh sớm hình thành
kinh tế hàng hóa, một số sản phẩm (giấy, than, sắt) và nông, lâm sản không chỉ phục vụ
địa phương mà còn cung ứng cho cả nước và xuất khẩu.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, kinh tế hàng hóa càng có điều kiện phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status