LUẬN VĂN: Giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề tôn giáo Cao Đài - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề
tôn giáo Cao Đài Mở Đầu

1. Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Tôn giáo hiện là một vấn đề phức tạp nhưng lại rất nhạy cảm trong mỗi
nước và trên thế giới.Việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu vừa cấp

(KHXH 4/1975); Nguyễn Thành Danh viết về "Sự thật của một giáo phẩm", xí
nghiệp in Hoàng Lê Kha - Tây Ninh năm (1978); Giáo sư Trần Quang Vinh "Lịch
sử của đạo Cao Đài (1926-1937)"; Lê Anh Dũng "Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm
ẩn (1920-1926)"; Nguyễn Chí Mỳ "Tôn giáo và hiện thực - một số những vấn đề đặt
ra hiện nay", Tạp chí Triết học (số 2-1998); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn "Đạo Cao
Đài một khách thể một thế ứng xử", (30/10/1993); Hiến Chương Đại Đạo Tam Kỳ
Phổ Độ, Tòa thánh Tây Ninh (1997); "Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam", Ban Tôn
giáo Chính phủ, Hà Nội (1995); "Những vấn đề tôn giáo hiện nay", Viện nghiên
cứu tôn giáo, NXB KHXH (1994); "Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển
của chúng", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1994); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn
"Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài" NXB KHXH (1995); cùng một số luận văn về
tôn giáo Cao Đài như: Nguyễn Văn Ron: "Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện đặc
thù của đạo Cao Đài" (1995); Võ Văn Phuông "Đạo Cao Đài và quá trình đấu
tranh loại bỏ mặt chính trị phản động của giáo phái Cao Đài Tây Ninh trong giai
đoạn cách mạng hiện nay" (1995); Lê Ngọc Hòa "Lễ hội Cao Đài Tây Ninh
(1997)"
Những công trình đó đã đề cập nhiều khía cạnh quan trọng của các yếu tố
về tôn giáo nói chung và Cao Đài nói riêng. Tuy nhiên thực trạng luôn đặt ra nhiều
vấn đề và trên thực tế chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu đạo Cao Đài dưới
góc độ triết học. Đó là sự bỏ ngỏ của chúng ta về nhận thức, khi thực tế những tín
đồ Cao Đài ở miền Nam có đến hơn
2 triệu người. Vì vậy đề tài này muốn góp một tiếng nói nhỏ vào sự nghiên cứu đạo
Cao Đài dưới góc độ triết học.
3. Mục Đích Nhiệm Vụ NGHIÊN Cứu Của Luận VĂN
Mục đích: Trên cơ sở làm sáng tỏ nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao Đài,
luận văn phân tích những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh.
Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học
tập triết học nhất là chuyên đề về tôn giáo. Luận văn cũng sẽ bổ ích cho những nhà
hoạch định chủ trương chính sách đối với công tác tôn giáo, nhất là đạo Cao Đài.
7. Kết cấu Của Luận VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Lịch Sử Hình Thành Phát Triển
Và Những Đặc Điểm Của Đạo CAO Đài

Từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, không riêng gì ở Việt Nam, trên thế giới
xuất hiện nhiều thứ đạo cùng với sự tiếp tục tồn tại các tôn giáo cũ, hàng loạt các
giáo phái mới ra đời. Nhiều phong trào xã hội, chính trị xuất hiện mang màu sắc tôn
giáo. Theo thống kê, chỉ riêng trong thế kỷ XX, trên thế giới có trên ba, bốn ngàn
hiện tượng tôn giáo lớn nhỏ ra đời nhưng số trụ lại được với thời gian không nhiều
chỉ khoảng hơn chục đạo tồn tại với số tín đồ khiêm tốn, phần đông là từ các tôn
giáo khác tách ra. Những tôn giáo đó đều có chung một đặc điểm là: phải dựa vào
các tôn giáo truyền thống ở nơi xuất phát, biến đổi ít nhiều về mặt giáo lý và nghi

kinh tế - chính trị - tư tưởng cho sự xuất hiện tôn giáo nói chung và đạo Cao Đài nói
riêng. Nói cách khác, sự xuất hiện và phát triển của đạo Cao Đài có thể lý giải bằng
chính môi trường sinh ra nó.
Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp là nước thắng trận song cũng là
nước bị tổn thất nặng nề nhất, lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Để hàn
gắn vết thương chiến tranh, đế quốc Pháp ra sức bóc lột thuộc địa ở Đông Dương
nơi có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường thế giới lúc bấy giờ. Trong đó
Việt Nam là một trong những trọng điểm của chính sách bóc lột ấy, trở thành miếng
mồi ngon cho bọn tư bản tài chính Pháp. Tình hình đó dẫn đến những biến đổi lớn
về chính trị, kinh tế, xã hội nước ta thời bấy giờ.
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX và khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XX,
xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp. Khác với
Trung bộ, Bắc bộ, Nam Bộ là nơi thực dân Pháp áp đặt quyền cai trị trực tiếp với
một bộ máy giúp việc người Việt. Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp
không xóa bỏ địa chủ phong kiến mà duy trì dung dưỡng để biến chúng thành tên
lính xung kích trong việc cướp ruộng đất của nông dân và bóc lột sức lao động của
nhân dân ta. Chúng đầu tư và mở rộng một số xí nghiệp công thương nghiệp sẵn có,
đặc biệt là mở ra những đồn điền cao su ở vùng đất đỏ Nam kỳ và Cao Miên, chiếm
đoạt hàng loạt mẫu ruộng, đất rừng, đồng cỏ, cùng với nó là thi hành chế độ mộ phu
cực kỳ tàn bạo.
Chính sách thuế khóa nặng nề, hàng trăm thứ thuế bất công được đặt ra, các
độc quyền rượu, thuốc phiện, muối, vừa thâm độc vừa tàn ác, vừa đem lại nhiều lợi
nhuận cho ngân khố thực dân Pháp, vừa đầu độc dân ta về thể xác lẫn tinh thần. Chính
sách thuế nặng nề, cộng với nạn cho vay nặng lãi mà thủ phạm chính là ngân hàng
Đông Dương của chủ nghĩa tư bản tài chính Pháp đã bao trùm lên làng quê Việt Nam
như một bệnh dịch khủng khiếp.

chế độ thuộc địa trực trị). Đạo Phật tiểu thừa tại chỗ với phương châm "Tự độ, tự
tha" chỉ giải thoát cho ai xuất gia tu hành, khó hòa nhập với phong tục, lối sống của
người Nam Bộ. Đạo Phật Đại thừa bị suy vị từ mấy thế kỷ trước, nay lại chia rẽ
thêm nhiều tông phái, nhất là sự xâm nhập các yếu tố mê tín dị đoan của đạo Lão.
Đạo thờ cúng tổ tiên trong đó có đạo ông bà, tuy gần gũi nhưng chưa đủ thỏa mãn
tâm linh tôn giáo Nói tóm lại, sự suy sụp của các tôn giáo và đạo lý đương thời đã
tạo ra khoảng trống về tư tưởng tín ngưỡng, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài ra đời và
phát triển.
Tham gia trực tiếp vào việc hình thành đạo Cao Đài còn có tục cầu hồn, cầu
tiên và nhất là tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" (Phật, Lão, Nho) vốn có ở nước ta
từ lâu đời. Đặc biệt, từ đầu năm 1920, phong trào "Thần linh học" một hình thức mê
tín của các nước phương Tây, tương tự như tục cầu hồn, cầu tiên, đã thâm nhập vào
Nam Bộ, được đông đảo tầng lớp trung lưu: tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức
đón nhận. Nó nhanh chóng hòa nhập với tục cầu tiên, trở thành phong trào "cầu cơ"
- "chấp bút" (gọi tắt là cơ bút) phát triển khá sôi nổi trong những năm 1924 - 1925 -
1926 ở vùng Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An dẫn đến việc ra đời đạo
Cao Đài.
Có thể nói sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài ở Nam Bộ vào những
năm đầu thế kỷ XX là do tổng hợp những nguyên nhân. Đó là: sự bế tắc của nhân
dân trong cuộc sống; đấu tranh chống thực dân Pháp thất bại do chưa có đường lối
chính trị đúng đắn soi đường; sự thoái hóa của các tôn giáo đương thời và truyền
thống "tam giáo đồng nguyên". Cộng vào đó, là tục cầu hồn, cầu tiên và sự thâm
nhập của tâm linh học Nếu không có những nguyên nhân trên thì một nhóm tư
sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức Pháp - những người sáng lập đạo Cao Đài cũng
không thể ra đời và phát triển được.
Nhìn chung, đạo Cao Đài ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định và phát
triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư Nam Bộ dưới chiêu bài hòa bình, tự do, dân

phái Cao Đài Phổ Độ do Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung và Cao Hoài Sang lãnh
đạo là nơi sinh hoạt mạnh mẽ nhất của đạo Cao Đài, với sự tập trung tín đồ cao nhất
và là chi gốc từ đó phân tách ra hầu hết các hệ phái khác. Vì vậy, có thể nói Cao Đài
Tây Ninh mang tính tiêu biểu cho những đặc điểm sinh hoạt tôn giáo của đạo Cao
Đài, vì hầu hết các hệ phái đều xây dựng giáo hội theo Pháp chánh truyền - Tân luật
được xây dựng từ những năm đầu thành lập đạo.
1.2.1. Những nét tương đồng và khác biệt của đạo Cao Đài đối với các
tôn giáo khác
- Xét về nguồn gốc: đạo Cao Đài ra đời cũng giống như các tôn giáo lớn
khác là đều bắt nguồn từ hiện thực xã hội. Đạo Phật ra đời ở ấn Độ bắt nguồn từ
những trào lưu tư tưởng chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà La môn; Đạo Công
Giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ IV - II (trước công nguyên), do những mâu thuẫn cơ
bản, sâu sắc và quyết liệt giữa chủ nô và nô lệ. Nó đã bùng nổ thành các cuộc khởi
nghĩa vũ trang mang tính quần chúng rộng rãi chống lại các giai cấp chủ nô và quân
xâm lược không chỉ ở những vùng bị chinh phục mà ngay cả chính quốc. Tuy nhiên,
đế quốc La Mã lúc đó còn rất mạnh đã nhanh chóng đàn áp các cuộc khởi nghĩa một
cách dã man tàn bạo. Trong tâm trạng mệt mỏi và tuyệt vọng, quần chúng lao khổ
trông chờ vào sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay một đấng cứu
thế để đánh đổ đế quốc La Mã, giải phóng dân tộc xây dựng một vương quốc của sự
công bằng. Tôn giáo ra đời trong hoàn cảnh như thế. Đối với đạo Cao Đài cũng xuất
phát từ hoàn cảnh chính trị xã hội, nhưng nguyên nhân ra đời của đạo Cao Đài là
một vấn đề còn có cách nhìn nhận khác nhau. Theo thống kê của Fayne Su san
Werner trong giới sáng lập Cao Đài có 39% là địa chủ; 37% là tiểu tư sản; 8% là kỳ
hào; 16% là các nhân vật hoạt động tôn giáo [34, 2].
Như vậy trong chừng mực nhất định cũng có thể so sánh sự ra đời của Đạo
Cao Đài với đạo Ki tô sơ kỳ -phong trào của nô lệ và các dân tộc Phương Đông
chống lại sự xâm lược của Đế quốc La Mã thời Cổ đại. Tuy nhiên có sự khác nhau

vay mượn, kết hợp giáo lý tôn giáo, tín ngưỡng Cổ, Kim, Đông, Tây (phần này sẽ
trình bày rõ hơn trong phần đặc điểm về giáo lý và sự thờ phụng).
- Xét mối quan hệ giữa đạo Cao Đài với các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh
Tây Ninh:
Với lịch sử hình thành phức tạp, nhiều cộng đồng dân cư, Tây ninh tồn tại
nhiều tín ngưỡng dân gian và sự tồn tại, phát triển của 4 tôn giáo lớn: Ki tô giáo,
Phật giáo, Hồi giáo và Cao Đài. Các tôn giáo đều có đối tượng tín đồ riêng, những
cơ sở thờ phụng riêng được Nhà nước công nhận và hoạt động theo luật đạo, theo
chính sách tôn giáo của Nhà nước.Thế nhưng không thể phủ nhận vai trò chủ đạo
của đạo Cao Đài trên địa bàn tỉnh Tây Ninh với số lượng tín đồ đông đảo, thánh
đường lộng lẫy nguy nga, và trung tâm của một tôn giáo bản địa. Mối quan hệ giữa
đạo Cao Đài với các tôn giáo khác trên cùng địa bàn do vậy cũng hết sức phức tạp
thể hiện ở những điểm sau đây:
Với tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" hay "Tam kỳ phổ độ" trên điện thờ
của đạo Cao Đài có mặt đấng thiêng liêng của các tôn giáo khác. Có những ngày lễ
hội tôn giáo Cao Đài cũng như ngày kỷ niệm các tôn giáo khác như: Vía Đức phật
thích ca (ngày 15 tháng 4),và Đức Jesus chirst (ngày 25 tháng 12). Tuy nhiên các
tôn giáo vẫn giữ khoảng cách với đạo Cao Đài vì ngay từ những ngày đầu thành lập,
Cao Đài đã muốn tạo dựng một tôn giáo bao trùm lên toàn thể các tôn giáo khác và
đã thật sự lấn át các tôn giáo đương thời ở Tây Ninh.
Với đạo Phật, đạo Cao Đài có nhiều va chạm, ngay từ những ngày khai đạo.
Lợi dụng suy yếu của Phật giáo, đạo Cao Đài tự xưng là Phật giáo canh tân, lấy thế
của các quan lại hào lý không những chiếm tín đồ mà còn cả chùa chiền của đạo
Phật, gây nên sự bất mãn của các nhà sư, các nhà Phật học. Việc ra mắt đạo Cao Đài
tại chùa Từ Lâm - một cơ sở của Phật giáo là một minh họa rõ nét tình hình này
(mặc dù sau đó nhà chùa đã đòi lại và đạo Cao Đài phải tiến hành xây dựng Đền
Thánh tạm ở Long Thành).


phấn đấu phản ánh ngày càng gần với những gì đang tồn tại, ngược lại tôn giáo
phản ánh sai lệch, méo mó,biến dạng đi. Những lực lượng trần gian bình thường lại
mang hình thức phi trần gian.
Sự thừa nhận lực lượng nào đó tạo ra và điều khiển thế giới là nội dung chủ
yếu của thế giới quan tôn giáo. Thế giới này là do "Đức Chí Tôn" dùng thanh khí, mà tạo
ra loài người và đất, biến thành vạn vật. Vì Đức Chí Tôn là chúa tể vạn loài "có quyền
năng vô đối", "Thống ngự vạn linh" [18, 41]. Đạo Cao Đài rõ ràng là giải thích sự hình
thành thế giới theo quan điểm duy tâm. Điều khác nhau cơ bản nữa giữa tôn giáo và
khoa học Mác - Lênin là tôn giáo giải thích sai lầm về nguyên nhân nỗi khổ và đề ra
phương pháp sai lệch tiêu cực. Nếu đạo Ki tô qui nguyên nhân nỗi đau khổ bất hạnh
của con người vào tội tổ tông, "Đạo Phật coi đời là "bể khổ" do "tham, sân, si" và
thuyết "luân hồi" thì đạo Cao Đài quan niệm nguyên nhân nỗi khổ đau của chúng
sanh là do "loài người tiến hóa tăng lực mà sinh ra tự đắc tự tôn", chỉ biết lo cho xác
thịt mà thôi, không chuyên lo cho "đệ nhị xác thân và tinh thần, và do tâm lý tập quán
của các nước, của các sắc dân chi phối nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau mà tranh tranh
đấu đấu không ngừng [6, 75], vì thế mà bị "đọa đày" gây nên trường oan nghiệt cho toàn
thế giới. Muốn thoát khỏi đau khổ, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc không phải là
đấu tranh xóa bỏ chế độ bóc lột mà phải luyện đệ nhị xác thân cho đầy đủ sự tinh
khiết, là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy
cứu vớt quần sanh thoát khỏi vòng địa lạc hoàn toàn. Quan điểm đó không chỉ nhồi
nhét cho con người một hệ thống quan niệm phản khoa học, mà còn giáo dục người
ta tư tưởng coi thường mọi cái trên trần gian thế tục coi như nơi "ăn gởi ở nhờ" do
đó mọi vấn đề xã hội đều lùi vào hàng thứ yếu, đẩy con người vào tình trạng thụ
động về mặt xã hội.
Đạo Cao Đài ra đời còn có sự hoàn thiện và đóng góp rất đắc lực của công
cụ đàn cơ. Đàn cơ, về bản chất là công cụ hoạt động tín ngưỡng tôn giáo (ở cả
phương Đông và phương Tây), nhằm mục đích xin (cầu) thần linh ban cho con
người những điều mong muốn hoặc biết được sự vận động biến hóa mầu nhiệm
(cơ). Vì thế gọi là cầu cơ.

pháp đã có dịp đánh giá: "Cơ bút có đủ quyền tạo đạo, nhưng cũng có quyền diệt
đạo", còn ông Lê Văn Trung (người giữ chức quyền giáo Tông) đã nói: "Hãy cẩn
thận về cơ bút, đạo khai nhờ cơ bút, đạo thiêng liêng quyền diệu do cơ bút, đến khi
nền đạo bị chia rẽ
nhiều chi phái cũng do cơ bút, nếu đạo bị đả phá khinh thường cũng tại cơ bút" [28,
185].
Đối với người lao động, dân trí thấp lại đang bị bần cùng về kinh tế, bế tắc
về chính trị và tinh thần thì khó mà nhận được cái chân, cái giả của đàn cơ. Song bất
luận ai, kẻ biết ít, người biết nhiều, kẻ chưa biết, người đã biết tất cả điều có niềm
tin nhất định vào kết quả của đàn cơ - rằng đó là sự hiệp thông của con người với
các đấng thiêng liêng, là lời phán bảo của Đức Chí Tôn - Ngọc đế Cao Đài và của
các bậc thần tiên khác. Sự hiệp thông nhân - thần ấy là một cơ sở cho sự ra đời của
mỗi tôn giáo.
Do bị lừa bịp nên "Cơ bút" được đông đảo tín đồ tin tưởng. Nhưng thời gian
vẫn là ánh sáng soi đường cho sự thật, bản chất của nó cứ bộc lộ dần ra, khiến cho
nhiều người nghi ngờ, biết bao câu hỏi đặt ra xung quanh cơ bút vì " cơ bút" vẫn là
hư hư, thiệt thiệt, vì mọi việc chi mà có tính phàm của con người hùn vốn vào đó thì
điều hư nhiều, thiệt ít [25, 239].
Trong khi đó thì người ta cũng thấy Tòa thánh Tây Ninh chỉ dành độc
quyền tiếp xúc với thầy cho một vài nhân vật cao cấp có khả năng lãnh đạo chính
trị, tư tưởng của đạo như: Cao Quỳnh Diêu, Phạm Công Tắc - được đấng Chí Tôn
phong là: "Tá cơ tiên hạt đạo sĩ" và "Hộ giá tiên đồng tá cơ đạo sĩ". Thực chất "các
người cầu cơ đều là quan chức thuộc các phòng của Phủ Thống đốc". Điều đó cũng
nói lên rằng cơ bút là phương tiện công cụ, là vũ khí sắc bén được bao bọc bởi cái
vỏ "Linh thiêng, Huyền Diệu" của một số chức sắc chóp bu, họ dùng để xây dựng
đạo, tập hợp lực lượng và khi cần còn dùng để phế truất những kẻ không ăn cánh
hoặc đề bạt cất nhắc, và sắp xếp nhân sự trong hàng ngũ chức sắc Cao Đài. "Phải

- Quan điểm nhân sinh quan đạo Cao Đài cho rằng con người có phần xác
và phần hồn, con người sau khi chết linh hồn còn tồn tại. Nếu có công đức sẽ về
sống sung sướng nơi Bạch Ngọc kinh (thiên đường). Nếu có tội thì vướng mãi trong
vòng luân hồi sinh tử. Đạo Cao Đài đã khuyên mọi người "Xả phú cầu bần" "Xả
thân cầu đạo", tu hành để diệt dục để được "phổ độ".
Đạo Cao Đài cho rằng con người sanh ra ở tại thế và chịu khổ não ở tại thế
này, rồi chết cũng ở tại thế này. Và khi chết thì con người sẽ ra sao ?
Về điều này Thầy (Phạm Công Tắc) đã dạy rằng: cả kiếp luân hồi thay đổi
từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu
chuyển kiếp ngàn năm, muôn muôn lần, mới đến địa vị nhơn phẩm. Nhơn phẩm nơi
thế này lại còn chia ra phẩm giá mội hạn. Đó là đứng bậc đế vương nơi trái địa cầu
này, chưa đặng vào bực chót của địa
cầu 67. Trong địa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quý trọng
của mỗi địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới đệ nhất cầu. Tam thiên thế giới, qua
khỏi Tam Thiên thế giới thì mới đến Tứ Đại Bộ Châu. Qua Tứ Đại Bộ Châu mới
vào đặng Tam Thập Lục Thiên; vào Tam thập Lục Thiên rồi phải chuyển tu hành
nữa mới đặng lên Bạch Ngọc Kinh, nơi mà đạo phật gọi là Niết bàn [46, 345-346].
Theo đạo Cao Đài thì chính đạo đức con người là cái thang vô ngần, bắc
cho con người leo đến phẩm vị tối cao, tối trọng, là ngang bậc cùng "Thầy" hoặc
hơn "Thầy". Vì lẽ đó đạo Cao Đài khuyên con người nên tu hành, làm đủ phận
người, công bình chính trực để khi hồn xuất ra khỏi xác thì cứ theo đẳng cấp gần
trên mà luân hồi lại nữa. Tuy nhiên, nếu như vậy thì cũng biết đến chừng nào mới
hiệp hội cùng "Thầy", vậy nên "Thầy" cho một quyền rộng rãi hơn cho cả nhân loại
càn khôn thế giới biết là nếu: biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về cùng "Thầy" - và
như vậy Đạo là nơi con người nên quí trọng, nếu giữ được trọn đường tu hành sẽ
sớm trở về "Bạch Ngọc Kinh".
Nhìn chung quan điểm nhân sinh quan của đạo Cao Đài là người được nhập

tinh thần dân chủ của thời đại mới. Do đó khi thiết kế tổ chức giáo hội, họ rập
khuôn theo kiểu bộ máy nhà nước Nhật, nhưng nhiều chỗ bổ sung rườm rà và quan
liêu hơn [25, 194].
Đứng trước sự phát triển số lượng tín đồ tôn giáo, trong xây dựng tổ chức
Cao Đài Tây Ninh đã dựa vào những yếu tố văn hóa có sẵn do tập quán và thói quen
của tín đồ để tạo ra bầu không khí văn hóa quen thuộc đó là sử dụng lại các hình
thức cũ, chủ yếu là các hình thức tôn giáo lớn là mô hình tổ chức có hệ thống chặt
chẽ của đạo Thiên chúa. Tòa thánh Tây Ninh trở thành một thứ "Nhà nước trong
một Nhà nước" như kiểu Tòa thánh Vatican với số lượng đông đảo chức sắc phỏng
theo hàng giáo phẩm của đạo Ki tô, nhưng được thay thế bằng những từ Hán - Việt
cầu kỳ để tăng thêm vẻ huyền bí. Có thể nói mô hình giáo hội Ki tô là nguyên mẫu
của mô hình khởi thủy đạo Cao Đài. Tuy nhiên, sau ngày lập đạo ít lâu, hàng loạt
các cơ quan khác lần lượt ra đời làm cho mô hình này biến đổi để trở thành chính nó
như ngày nay [46, 158].
1.2.4. Đặc điểm về giáo lý và sự thờ phụng
Giáo lý đạo Cao Đài không có hệ thống các tín điều có chiều sâu dựa trên
những cơ sở triết học, thần học như những tôn giáo khác, mà chỉ là sự vay mượn,
kết hợp giáo lý tôn giáo, tín ngưỡng Cổ, Kim, Đông, Tây. Những điều đạo Cao Đài
coi là giáo lý bao gồm những khái niệm về "tam giáo", ngũ chi " Cao Đài", "Cao
Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ", thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Giáo lý Cao Đài lúc bắt đầu xây dựng chưa thật trọn vẹn và cũng khó trọn
vẹn, chỉ đóng góp nhỏ bé trong sự phát triển tư tưởng đương thời. Những người
sáng lập đạo Cao Đài không lưu ý đến việc xây dựng giáo lý, dường như họ chỉ làm
nhiệm vụ dung hợp các tôn giáo có trước góp nhặt những yếu tố cần thiết và tùy
theo giáo phái của mình mà có thể nghiêng về phần phổ độ, hoặc tự rèn luyện thêm
cho mình. Trong các sách về giáo lý của đạo Cao Đài như thánh ngôn hợp tuyển có
không ít điều diễn đạt không đúng giáo lý của các tôn giáo được thâu góp, do sự hạn

Đài gồm: thượng đế và các bậc giáo chủ của các tôn giáo, trên bàn thờ Cao Đài,
dưới Thiên Nhãn là Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử (tam giáo), Quan Âm, Lý Thái
Bạch, Quan Thánh (tam trần) Giêsu Ki tô, Khương Thái Công. Cả thảy 8 vị.
Đạo Cao Đài thờ Đức Chí Tôn bằng hình ảnh con mắt, gọi là Thiên Nhãn
(mắt trời) và cho rằng Thiên Nhãn trong sáng như gương nên không mảy may gì
xảy ra dưới phàm trần mà thượng đế không biết. Thượng đế của đạo Cao Đài được
gọi bằng nhiều tên: Ngọc Hoàng, Ngọc đế, Cao Đài huyền khung, Cao thượng đế,
Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn nhưng tên thông dụng là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ
Tát Ma Ha Tát vì theo giáo lý Cao Đài danh xưng này thể hiện được sự tổng hợp
các tôn giáo.
Về ý nghĩa chữ "Tam Kỳ Phổ Độ", đạo Cao Đài giải thích từ khi có loài
người đến khi đạo Cao Đài ra đời thượng đế đã hai lần cứu rỗi ("Phổ độ") chúng
sinh. Lần thứ nhất ("Nhất kỳ phổ độ") gọi là "Hội tý thượng nguyên" gồm: Thái
thượng đạo tổ, tiền thân của đạo Lão, Phục Hy - tiền thân của đạo Nho; Nhiên đăng
Phật cổ - tiền thân của đạo Phật. Lần thứ hai (Nhị kỳ phổ độ) gọi là ("Hội sửu trung
nguyên") gồm thích ca Mâu Ni - Lập đạo phật, Thái thượng lão - quân lập đạo tiên,
Khổng tử lập đạo Nho, chúa Giêsu Ki tô lập đạo Thánh. Đạo Cao Đài cho rằng hai
lần cứu rỗi này thượng đế thấy điều kiện nơi phàm trần gặp khó khăn "Năm châu
sống lẻ loi" nên đã cho lập ra nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo phù hợp với phong tục
tập quán từng vùng, từng quốc gia, trong những thời gian khác nhau. Đến nay điều
kiện đi lại dễ dàng, "Năm châu chung chỗ, bốn phương chung nhà" hơn nữa vì tồn
tại nhiều tôn giáo riêng rẽ đã sinh ra mâu thuẫn xung đột giữa tôn giáo này với tôn
giáo khác, nên thượng đế phải lập ra một tôn giáo mới chung cho mọi người: Đạo
Cao Đài.
Giáo lý đạo Cao Đài còn giải thích thêm, nếu như hai lần phổ độ trước, thượng
đế giao quyền lập đạo cho người phàm trần thì lần thứ ba cũng
là lần cuối cùng với đạo Cao Đài, thượng đế trực tiếp đứng ra làm giáo chủ, một bài

được thực hiện như một tập quán (điều này gợi nhớ đến các đám tương tự ở nông
thôn Bắc bộ, với sự tham gia của cả làng, cả họ như đó là công việc chung một cách
tự nguyện [46, 149].
Có thể nói sinh hoạt tôn giáo có nội dung là sinh hoạt cộng đồng mà thánh
thất là tiêu biểu của cộng đồng cũng như ngôi đình vậy. Nhu cầu sinh hoạt cộng
đồng của người nông dân Nam Bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng vốn bắt nguồn
từ tâm lý truyền thống từ ngàn xưa nơi đất cũ (tính cộng đồng làng Bắc Bộ) giờ đây
trở nên cần thiết hơn do chính cuộc sống khẩn hoang vùng đất mới, sự đối chọi với
ma thiêng nước độc, với thiên nhiên và bệnh tật khiến họ cần dựa vào nhau và Cao
Đài đã đáp ứng được nhu cầu ấy: nhu cầu được sinh hoạt trong cộng đồng, nhu cầu
được dựa vào cộng đồng với những mối liên hệ ổn định của nó.
Trong sinh hoạt cộng đồng, tín đồ Cao Đài Tây Ninh hành đạo và xử thế
theo những luật lệ, lễ nghi được qui định trong giáo lý như: thực hiện ngũ giới cấm;
tứ đại điều quy; việc ăn chay
Lễ nghi của đạo Cao Đài rườm rà, cầu kỳ và phản ánh tinh thần tổng hợp
các tôn giáo qua lễ phẩm, lễ sỉ, lễ phục Tuy nhiên các sinh hoạt lễ nghi của đạo
Cao Đài rất gần gũi và phù hợp với trình độ nhận thức của số đông nông dân Nam
Bộ, trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định hơn thế nữa nhiều luật lệ, lễ nghi,
cách thức hành đạo đã ăn sâu vào cuộc sống, trở thành phong tục tập quán lối sống
của đông đảo quần chúng tín đồ [6, 193].
Đạo Cao Đài là một thực thể khách quan, một tôn giáo đang tồn tại. Do đó,
về các phương diện, đạo chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội đầy biến động của
hơn nửa thế kỷ qua. Đạo đã trải qua những giai đoạn manh nha, hình thành và phát
triển thành nhiều giáo phái, với sự phân rã do nhiều thế lực " đạo" và "đời" khác
nhau.
Tây Ninh đã trở thành trung tâm của Cao Đài với số lượng tín đồ đông đảo
cũng xuất phát từ sự qui định hoàn cảnh lịch sử hình thành cộng đồng dân cư tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status