LUẬN VĂN:Vấn đề sự sống dưới ánh sáng của khoa học hiện đại - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Vấn đề sự sống dưới ánh sáng của
khoa học hiện đại

Mở đầu

Theo sự phát triển của lịch sử khoa học, các vấn đề mà khoa học nghiên cứu
ngày càng được kết luận nhiều lên và được sự nhất trí của hầu hết giới khoa học có
liên quan. Tuy vậy, trước mặt khoa học luôn luôn có vấn đề mới được đặt ra, đang chờ
câu trả lời.
Cũng như các bộ môn khoa học khác, trong vòng 30-40 năm nay sinh học phát
triển với một nhịp điệu nhanh chưa từng thấy. Số lượng các chuyên ngành sinh vật
mới ra đời, cũng như thành tựu mà chúng đạt được có thể xếp vào loại nhiều nhất.
Những thành tựu ấy đã mang lại cho chúng ta nhiều hiểu biết mới về sự hình thành và
phát triển của thế giới sống, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà mới cách đây nửa
thế kỷ đang là những giả thuyết.

chân thực vĩnh viễn không đổi. Nó là cơ sở của thế giới các sự vật cảm tính. Thế giới
các sự vật cảm tính là không chân thật, không hoàn hảo, không đúng đắn vì mọi cái
trong nó luôn biến đổi có sinh và có mất đi. Ông cho rằng con người bao gồm thể xác
và linh hồn thể xác có thể mất đi vì nó được cấu tạo từ đất, nước, lửa, không khí, còn
linh hồn là bất tử. Vì nó được cấu tạo từ linh hồn vũ trụ có nguồn gốc từ thượng đế.
Các nhà triết học duy vật tiêu biểu là Hêraclít và Đêmôcrít. Các ông cho rằng
mọi sự vật hiện tượng, sự sống đều bắt nguồn từ một yếu tố vật chất nào đó. Hêraclít
cho đó là lửa, với ông mọi vật đều trao đổi với lửa và lửa trao đổi với mọi sự vật. Lửa
theo ông là vĩnh cửu và có tính chất thần thánh. Cả vũ trụ như là ngọn lửa vĩnh viễn
cháy. Đối với Hêraclít "Thế giới, một chỉnh thể gồm mọi vật, không phải do bất cứ
một thần thánh hoặc là bất cứ người nào sáng tạo ra, mà đã, đang và sẽ còn là một
ngọn lửa vĩnh viễn sống, bùng cháy và tắt đi theo những quy luật "
(1)
. Lửa không chỉ
là khởi nguyên của vũ trụ mà còn là cơ sở của linh hồn con người.
Đêmôcrít cho nguyên tử (tồn tại) và khoảng không trống rỗng (không tồn tại) là
nguồn gốc của thế giới. Các nguyên tử liên kết với nhau tạo nên các sự vật, các nguyên
tử tách rời khỏi nhau thì sự vật mất đi. Các nguyên tử luôn luôn vận động trong
khoảng không trống rỗng, và sự vận động của nguyên tử là cơ sở để hình thành nên vũ
trụ của chúng ta. Đêmôcrít còn cho rằng con người có thể xác và linh hồn. Cả thể xác

(1)
V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.371.
và linh hồn của con người đều không là bất tử. Linh hồn của con người do những
nguyên tử hình cầu rất nhỏ vận động với tốc độ lớn cấu tạo nên.
Có thể nói quan niệm của các nhà duy vật mới chỉ là những quan sát bước đầu
về thế giới, tuy các quan niệm này còn thô sơ, mộc mạc, song nó chứa đựng những yếu

Hêghen (triết học cổ điển Đức) cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
đều là sự "tồn tại khác", sự "tha hoá" của tinh thần thế giới. Sự sống là sự tồn tại khác
của ý niệm tuyệt đối.
Như vậy, ông đã tước mất cơ sở thực sự của sự sống, các hiện tượng trao đổi
chất là sự thống trị của tinh thần. Ông cũng đã phủ nhận sự tiến hoá hữu cơ trong thời
gian.
Có thể nói, hầu như các nhà triết học duy tâm đã phủ nhận nguồn gốc tự nhiên
của sự sống, phủ nhận tính vật chất của các hiện tượng sống. Điều quyết định các hiện
tượng sống không phải là các yếu tố vật chất, nằm ngoài khả năng nhận thức của con
người, không thể có sự sống nếu như không có sự tham gia của lý tính trừu tượng.
Cũng thời kỳ này, đối lập với các nhà triết học duy tâm, các nhà triết học duy
vật thì lại khẳng định sự sống là một phần của thế giới tự nhiên, không phải do thần
thánh sáng tạo ra. Một số nhà triết học bước đầu đã giải thích hoạt động sống, nhưng do
ảnh hưởng của quan điểm máy móc, các nhà triết học thời kỳ này mới chỉ thấy được chức
năng hoạt động tương tự của sự sống và máy móc chưa thấy được chất lượng của sự sống
và không sống.
Hốp xơ có cái nhìn hoàn toàn cơ học máy móc về con người. Chẳng hạn ông
cho tim là động cơ chính; các khớp xương như những bánh xe truyền lực. Ông đã thấy
khía cạnh sinh học của con người, bản chất của con người theo ông là tổng các nhu cầu
ham muốn khả năng và sức mạnh.
Với Đêcáctơ thì giới tự nhiên chỉ có một thực thể vật chất duy nhất hoạt động
cả ở trên trời và dưới đất. Giới tự nhiên ngày càng phát triển phức tạp và hoàn thiện
hơn. Giới sinh vật và động vật là kết quả của sự vận động của tự nhiên. Cơ thể sống
theo ông chỉ là một cỗ máy phức tạp, sự sống không cần một quy luật đặc biệt nào, sự
sống là một bộ máy đặc biệt vì vậy sự vận động của nó do sự va chạm của các bộ phận
máy móc.
Đến Phơbách (triết học cổ điển Đức) thì vấn đề con người là trung tâm trong
triết học của ông, ông đã đứng trên lập trường duy vật để giải quyết vấn đề này. Con
người trong triết học của Phơbách là một phần của giới tự nhiên, là một sinh vật có
hình thể vật chất ở trong không gian và thời gian, vì vậy con người có khả năng quan

hữu cơ và nó đã tiến khá xa khiến chúng ta có thể tin chắc rằng chỉ có nó mới có thể
giải thích được bước quá độ biện chứng sang thể hữu cơ"
(2)
và "chỉ còn một việc nữa
cần phải làm là giải thích sự phát sinh ra sự sống từ giới vô cơ. ở giai đoạn hiện nay
của khoa học, điều đó chỉ có nghĩa là tạo ra những chất An-bu-min từ những chất vô
cơ"
(3)
.

(1) (2) (3)
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1994, tr.754, 746, 676.
Như vậy, Ph.Ăngghen đã nhìn thấy chiếc chìa khoá cụ thể nhất và gần nhất để
giải thích sự sống chính là hoá học. Ph.Ăngghen muốn nhấn mạnh bằng cách nào từ
hình thái vận động thấp hơn chuyển lên thành hình thái vận động cao hơn, từ vô sinh
sang hữu sinh mà thôi.
Từ hình thái vận động thông thường của vật chất, từ tác động hoá học thường
đến hoá học của An-bu-min mà chúng ta gọi là sự sống, có một bước nhảy quyết định,
một bước nhảy biện chứng. Động lực của mọi sự vận động của vật chất là sự đấu tranh
giữa các mâu thuẫn bên trong. Động lực của sự vận động sinh học, nghĩa là của đời
sống sinh vật, cũng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong nội tại của
sinh vật, làm cho sinh vật trong một lúc vừa là nó, lại vừa là một cái khác.
Ph.Ăngghen đã định nghĩa sự sống: "Sự sống là phương thức tồn tại của những
thể An-bu-min, và phương thức tồn tại này, về căn bản bao hàm ở sự thường xuyên tự
đổi mới của những thành phần hoá học của những thể ấy Sự sống - phương thức tồn
tại của thể An-bu-min - trước hết là ở chỗ bất cứ lúc nào nó cũng vừa là chính nó đồng

cố nhiên còn thiếu sót nhiều, vì nó còn xa mới có thể bao gồm được tất cả các hiện
tượng sống, mà trái lại chỉ giới hạn trong những hiện tượng chung nhất và đơn giản
nhất trong đó mà thôi. Về phương diện khoa học, tất cả mọi định nghĩa đều có ít giá
trị. Muốn hiểu sự sống là gì một cách triệt để, chúng ta phải điểm qua tất cả các hình
thức biểu hiện của sự sống, cả hình thức thấp nhất đến hình thức cao nhất. Tuy nhiên,
đối với sự vận dụng thường ngày thì những định nghĩa như vậy lại rất tiện lợi và có khi
không có nó thì không được; vả lại nó cũng không thể có hai, chỉ cần người ta không
quên những thiếu sót không thể tránh khỏi của nó"
(1)
.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, Ph.Ăngghen đã khẳng định: sự sống bản
chất là vật chất, sự sống có cơ sở vật chất là An-bu-min. An-bu-min là điều kiện cơ
bản của sự sống. Khi mà sự biến thái không ngừng của các nhân tố cấu thành trong
An-bu-min bị ngừng lại, sự trao đổi thường xuyên về dinh dưỡng và bài tiết thôi đi,
cũng là lúc mà chính bản thân chất An-bu-min không còn là nó nữa, thì lúc đó sự sống
chấm dứt; dấu hiệu cơ bản của vận động sống, đó là sự thường xuyên tự đổi mới của
các thành phần hoá học của các thể An-bu-min thông qua quá trình trao đổi chất giữa
cơ thể và môi trường. Ph.Ăngghen viết: "Từ sạ trao đổi các chất ấy bằng dinh dưỡng
và bài tiết coi như là chức năng chủ yếu của An-bu-min và từ tính chất mềm dẻo của
An-bu-min vốn có, đã sinh ra tất cả những nhân tố đơn giản nhất của sự sống"
(2)
và sự
sống là phương thức tồn tại một cách đặc biệt của vật chất có tổ chức đặc biệt. Ngày
nay sự phát triển của khoa học đã khẳng định chứng minh quan điểm của Ph.Ăngghen
hoàn toàn đúng và lẽ đương nhiên ngày nay nhiệm vụ bức thiết là phải xây dựng một
bức tranh khoa học mới hoàn thiện hơn về thế giới, sự sống so với thế kỷ XIX.

(1)
Ph.Ăngghen, Chống Duy Rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr.140,143.
(2)

riêng mình. Bằng phương pháp nguyên tử đánh dấu, người ta đã chứng minh 50%
phân tử Prôtêin trong cơ thể người hoàn toàn đổi mới trong 180 ngày và ở gan diễn ra
là 18 ngày.
Cơ sở đổi mới của các phân tử dẫn đến đổi mới của các tế bào. Nếu như một
người nặng 50 kg thì trong cơ thể có 80.000 tỉ tế bào. Trong 20 giờ có 500 tỉ tế bào
được thay thế. Trong 2 tháng 32 nghìn tỉ tế bào hồng cầu trong cơ thể đổi mới hoàn
toàn. Nếu một người sống trung bình 70 năm, lấy ở môi trường bên ngoài vào cơ thể
50 tấn nước, 10 tấn gluxit, 2,5 tấn prôtít, 2 lấn lipít, 0,2 tấn muối khoáng và cũng thải
ra bên ngoài 25.000 lít nước tiểu, 6.000 tấn phân và 500 kg tế bào chết.
Không ai có thể phủ nhận được rằng, Prôtêin được tổng hợp dưới tác động của
chương trình được ghi lại trong các đoạn của phân tử AND. Nhưng cũng không ai có
thể phủ nhận được rằng, tất cả các hoạt động di truyền nói riêng và hiện tượng sống
nói chung, đều gắn liền và đều chịu sự tác động của các men (enzim), tức là các phân
tử Prôtêin. Ngay cả các phân tử Prôtêin cũng sẽ không thể tự nhân đôi, nếu không có
sự tham gia của các enzim đặc hiệu của riêng loài. Việc di truyền học phân tử và sinh
học phân tử nói chung đã chuyển từ chỗ thừa nhận vai trò độc tôn AND sang chỗ thừa
nhận sự tác động qua lại chặt chẽ giữa ADN - ARN - Prôtêin trong hiện tượng di
truyền và trong sự sống, là một điểm rất mới, là một sự tiếp cận phương pháp luận
mới. Do đó, khi xác nhận An-bu-min (Prôtêin) chưa phải là sự sống thì khoa học hiện
đại vẫn có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng, An-bu-min (Prôtêin) dẫu sao vẫn là một
trong những cơ chất quan trọng nhất của sự sống.
Như vậy, định nghĩa của Ph.Ăngghen về sự sống sẽ được bổ sung và chúng ta
có nhiều cơ sở hy vọng rằng ngày nay, trong tương lai không xa, bí mật của sự sống sẽ
được khám phá và tiên đoán của Ph.Ăngghen về sự xuất hiện của sự sống bằng con đường
hoá học từ vô sinh sẽ được khẳng định hoàn toàn.
Với định nghĩa của Ph.Ăngghen về sự sống có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ông
đã phê phán những quan điểm siêu hình, duy tâm về sự sống, cho sự sống là do thượng

2. Các hợp chất hữu cơ phức tạp dần lên thành các mônôme và pôlime. Sự phức
tạp này gắn liền với sự tăng lên liên tục của các phân tử của chúng bằng con đường
trùng hợp và ngưng tụ trong nước biển và đại dương. Hình thành những "buliôn" đầu tiên,
trong đó nảy sinh các hợp chất giống nhau, các tiền axit nuclêic và các hợp chất hữu cơ
phức tạp khác. A.I.Ôparin khẳng định rằng, lúc này chưa có các An-bu-min, các axít
nuclêic theo đúng nghĩa của chúng.
3. Hình thành trong thuỷ quyển các hệ thống mở nhiều phân tử. Những hệ
thống này phát sinh bằng con đường kết hợp các chất có phân tử hữu cơ cao. Các phức
hợp trên phân tử kết hợp với nhau tạo thành những giọt côaxécva và hình thành các
prôbiôn, tức là các hệ thống mở nhiều phân tử, có khả năng tác động qua lại với môi
trường xung quanh chúng và trên cơ sở đó có khả năng phát triển và sinh sản.
4. Các prôbiôn tiếp tục tiến hoá, hoàn thiện sự trao đổi chất, cấu trúc phân tử và
trên phân tử của chúng trên cơ sở sự chọn lọc tiền sinh học; tiếp đó là sự xuất hiện các
cơ thể sống đầu tiên. A.I.Ôparin lưu ý rằng, "sự chọn lọc tiền sinh học ấy không nhằm
vào từng phân tử men riêng lẻ mà là nhằm duy trì hay tiêu diệt cả một hệ thống nói
chung. Không có và không thể có sự chọn lọc tự nhiên nào của các phân tử riêng
biệt"
(1)
.
II. Quá trình phát sinh sự sống
Vấn đề nguồn gốc của sự sống trên trái đất, sự sống có tồn tại ở nơi nào khác
trong vũ trụ không? đã có nhiều quan điểm khác nhau. Trong quan niệm của dân gian,
từ sự quan sát tự nhiên một cách thiếu chính xác, không có phê phán họ đã cho rằng
hình như trong bùn đất sinh ra các loài sinh vật. ở Trung Quốc cổ đại, có quan niệm
cho rằng sự tự sinh của các loài côn trùng khác nhau dưới sự tác động của nhiệt và
nước. Còn ở ấn Độ một số quan niệm thần bí cho sự xuất hiện của các ký sinh trùng
ruồi sinh ra từ phân trâu, mồ hôi. ở Hy Lạp cổ đại thì quan niệm ở các đất bồi sông

tự sinh sinh ra theo mệnh lệnh của thánh.
ở phương Tây Ôguýtxtanh thì cho rằng: tương tự như thánh thường tạo ra rượu
nho từ nước và đất, qua cành nho, dịch nho. Nhưng trong một số trường hợp thánh có
thể tạo ra rượu nho trực tiếp từ nước, đối với sự vật cũng thế thánh có thể bắt chúng
sản sinh ra từ hạt hoặc bắt nguồn từ vật chất sinh ra, mà trong đó có những hạt linh
hồn không trông thấy được. Vào nửa cuối thế kỷ XVI sang nửa thế kỷ XVII các quan
điểm về sự xuất hiện các sự vật có phần chính xác hơn. Các nhà triết học như Galilê
Côpécních, đã đưa ra một số quan điểm về các vì sao, hành tinh. Song quan điểm tự
sinh vẫn chưa được nghiên cứu kỹ càng. Năm 1668 với một loạt thí nghiệm của các
bác sĩ Rêđi đã chứng minh giòi là ấu trùng của ruồi. Ông đã đưa ra thí nghiệm, có ba
lọ đựng ba miếng thịt như nhau. Nhưng trong lọ thứ nhất không đậy nắp, lọ thứ hai
phủ một miếng vải, còn lọ thứ ba đậy kín. Qua một thời gian nhất định, ông quan sát
thấy ở lọ thứ nhất đã xuất hiện giòi, lọ thứ hai giòi xuất hiện ở trên mặt vải và ở lọ thứ
ba thì thấy không có gì. Và từ đó ông đã kết luận thịt thối không phải sinh ra giòi,
trứng của ruồi mới là điều kiện để phát sinh giòi.
Sau đó, bằng những nghiên cứu khác nhau người ta cũng đã phát hiện ra các vi
sinh vật, qua kính hiển vi, mà bằng mắt thường không nhìn thấy, do vậy lúc này quan
điểm tự sinh vẫn chưa bị đánh đổ.
Sinh vật sinh ra từ đâu, như thế nào? đến những năm 40 của thế kỷ XIX thì bức
màn bí mật này vẫn kín bưng.
Với những nghiên cứu của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã đấu tranh cho quan
điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc sự sống. Các ông đã đả phá thuyết tự sinh và
những người bảo vệ cho thuyết tự sinh. Ph.Ăngghen viết: " nếu tưởng rằng chỉ với
một tí nước bẩn người ta cũng có thể bắt thiên nhiên làm xong trong 24 giờ cái mà nó
đã phải mất công hàng triệu năm, thì quả thật là điên rồ " và "cho đến bây giờ, chính
các người bênh vực táo bạo cho thuyết tự sinh cũng chỉ nói rằng bằng cách tự sinh, có
thể tạo ra các vi khuẩn, các mầm nấm và những vật hữu cơ tối sơ khác, nhưng không

(1)
Ph.Ăngghen, Chống Duy Rinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr.125-126.
những xuyên tạc của các nhà sinh vật học tư sản từ giữa thế kỷ XIX đến nay như
thuyết Măng-đen, Moóc-găng trong sinh vật học và chủ nghĩa Đácuyn xã hội trong
khoa học xã hội.
Ph.Ăngghen đã khẳng định sự sống nhất định đã được hình thành theo phương
thức hoá học, ông đã khái quát sự phát sinh ra sự sống là quá trình phức tạp hoá các
hợp chất có chứa Các bon. Ông đã khẳng định: "hoá học tiếp cận sự sống hữu cơ và nó
đã tiến khá xa khiến chúng ta có thể tin chắc rằng chỉ có nó mới có thể giải thích được
bước quá độ biện chứng sang thể hữu cơ" và "chỉ còn một việc nữa cần phải làm ở đây
là giải thích sự phát sinh ra sự sống từ thế giới vô cơ. ở giai đoạn hiện nay của khoa
học, điều đó chỉ có nghĩa là tạo ra những chất An-bu-min từ những chất vô cơ"
(1)
.
Ph.Ăngghen đã đánh giá cao vai trò của hoá học và khi dùng chữ "chỉ có nó"
ông muốn nhấn mạnh bằng cách nào từ hình thức vận động thấp hơn chuyển thành
hình thức vận động cao hơn, tức là vật chất không sống chuyển thành vật chất sống.
Ph.Ăngghen khẳng định: "Cho đến nay khoa học tự nhiên chưa thể tạo ra các
sinh vật hữu cơ mà không đi từ các sinh vật đã có, thậm chí nó cũng chưa làm lại được
chất nguyên sinh đơn giản hoặc những thể đản bạch khác bằng những nguyên tố hoá
học. Về nguồn gốc sự sống, đến bây giờ khoa học tự nhiên chỉ có thể nói được chắc
chắn một điều là: sự sống nhất định ra đời bằng con đường hoá học"
(2)
và "cho đến
nay, hoá học có thể sản xuất ra tất cả những chất hữu cơ nào mà đã biết được chính
xác cách cấu tạo của chúng. Khi đã biết cấu tạo của các chất An-bu-min, thì hoá học
có thể tiến hoá ngay việc chế tạo An-bu-min sống".


Kết luận

Ngày nay sinh học hiện đại đã tiến một bước dài từ giữa thế kỷ 20 đến nay.
Những thành tựu đạt được khác về chất so với đầu thế kỷ, sinh học ngày nay đã đi sâu
nghiên cứu vật chất sống từ những cấu trúc nhỏ nhất đến sự sống. Nghiên cứu trái đất,
đại dương và đang tiến tới nghiên cứu sự sống ngoài trái đất.
Những thành tựu của sinh vật học đã góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề về bản
chất của sự sống, bản chất của di truyền; vấn đề về tính toàn vẹn của cơ thể, về mối
quan hệ gắn bó giữa cơ thể với môi trường sống Ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ sinh học đã và đang có những
bước đột phá mới vào tầng cấu trúc sâu hơn của bản chất, sự sống, bản chất của gien di
truyền , nhờ đó, mà đã tạo ra những thành tựu mới trong lĩnh vực vật chất sống như
những sản phẩm biến đổi gien, nhân bản vô tính động vật, lập bản đồ gien, giải mã bộ
gien của người, biến đổi và thay đổi gien trong chữa trị bệnh tật; nuôi cấy, thay ghép
các phủ tạng của con người, thụ thai trong "ống nghiệm" thì những vấn đề thuộc khía
cạnh triết học - xã hội của sinh vật học cũng đang được đặt ra hết sức gay gắt.
Vấn đề nghiên cứu sự sống dưới ánh sáng của khoa học hiện đại có một ý nghĩa
hết sức to lớn trong giai đoạn hiện nay.
Danh mục tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên) (2001), Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy
triết học ở Việt Nam, Kỷ yếu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status